Hôm nay,  

Việt Nam Lại Cắt Lãi Suất

3/28/201300:00:00(View: 8535)
...sợi dây đó sẽ thắt cổ các chủ nợ vì khách nợ sau cùng là một nhà nước không đáng tin...

Hôm Thứ Hai 25, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lại quyết định sẽ cắt hàng loạt lãi suất chủ chốt sau khi có tin là chỉ số giá tiêu dùng đã giảm trong Tháng Ba. Đây là lần thứ bảy mà lãi suất được hạ từ khoảng một năm nay để kích thích sản xuất kinh tế. Kết quả sẽ ra sao, Diễn đàn Kinh tế nêu câu hỏi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa của đài Á châu Tự do, qua cuộc trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Vũ Hoàng: Xin kính chào tái ngộ ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, kể từ cuối năm 2011, lãi suất tại Việt Nam đã được Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh và lần này là lần thứ bảy mà cả lãi suất huy động lẫn lãi suất cho vay đều giảm để các doanh nghiệp dễ tiếp cận được vốn. Ông nghĩ sao về quyết định này nếu nhìn vào hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam từ một năm nay?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng việc Ngân hàng Nhà nước tại Việt Nam có một Quyết định và hai Thông tư để đồng loạt hạ các loại lãi suất cơ bản từ ngày 26 là điều không bất ngờ. Tín hiệu về lãi suất được nhiều nơi đón bắt từ trước khi nhiều ngân hàng tự ý hạ lãi suất ký thác vào tuần trước và thị trường cổ phiếu tăng giá ngoạn mục từ hai tuần qua. Tức là nhiều người biết rằng Ngân hàng Nhà nước đã chuẩn bị tống ga và việc chỉ số giá tiêu dùng có giảm trong Tháng Ba chỉ khiến người ta yên tâm lao tới mà thôi. Nhưng nhìn vào hoàn cảnh kinh tế Việt Nam, chúng ta chẳng nên lạc quan như nhiều người trong nước đã lầm từ cả năm nay.

Vũ Hoàng: Chúng ta sẽ bắt đầu từ đó, thưa ông. Hoàn cảnh kinh tế của Việt Nam là gì và vì sao ông nói rằng nhiều người đã lầm từ một năm nay?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Kể như từ cuối năm 2011 đến nay, kinh tế Việt Nam gặp trạng thái tôi xin gọi là "co giật liên hồi", tức là trôi ra khỏi biến động này lại chìm vào biến động khác. Đó là nạn ách tắc tín dụng vì doanh nghiệp vay tiền không được, rồi núi nợ xấu của ngân hàng bỗng tăng rồi hạ một cách khó tin, đến tình trạng tồn kho ế ẩm, bất động sản đóng băng, hàng chục vạn xí nghiệp đóng cửa, đại gia bị bắt, quan chức bị điều tra, v.v... Tất cả đều xảy ra trong bối cảnh vật giá leo thang, lạm phát chập chờn, và tuổi trẻ thất nghiệp sau khi tốt nghiệp.

- Khi ấy, nhớ lại nhận xét của giới chức kinh tế ở trong và ngoài chính quyền, ta thấy họ có xác nhận khó khăn rồi đánh giá là kinh tế sắp đụng đáy nên sẽ bật dậy trong vài tháng hay vài quý. Ở trong chính quyền, họ trấn an hay ru ngủ thị trường, là điều chỉ hiểu được với sự độ lượng. Nhưng ở ngoài chính quyền mà lạc quan như vậy thì quả là điều đáng lo về khả năng thẩm định.

- Thực tế thì thị trường đang chuyển bại thành liệt, và ngần ấy bài toán về nợ xấu của ngân hàng, công trái của nhà nước, sự mất giá của khu vực địa ốc và nhất là sự hoài nghi của người dân về khả năng cải cách của chính quyền, đang là loại vấn đề có thật. Người ta thấy đảng bị mộng du, nhà nước dưới sự lãnh đạo của đảng thì bơi vào biển lạ mà không có hải đồ, còn kinh tế ở dưới thì tiếp tục ngụp lặn và người dân không có lối thoát.

Vũ Hoàng: Nhưng dường như Ngân hàng Nhà nước của Việt Nam cho là chính sách tiền tệ đã góp phần kiềm chế được lạm phát và biện pháp hạ lãi suất có thể kích thích kinh tế trong sự ổn định. Ông nghĩ sao về cách đánh giá này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là chỉ có ở Việt Nam sau khi đã bị lạm phát năm 2008 tới mức 24% quy ra toàn năm rồi 18% vào năm 2011, người ta mới hài lòng với lạm phát trên 6% và nghĩ đến việc cắt lãi suất là giải pháp an toàn. Thực tế thì năm nay vật giá vẫn đe dọa và có thể vượt quá 7% mà đà tăng trưởng khó lên tới chỉ tiêu 5,5%. Trong khi đó, các doanh nghiệp loại nhỏ và vừa, là thành phần tạo ra nhiều việc làm nhất, lại chết như rạ, trong hai năm mà phá sản 10 vạn, bằng phân nửa của tổng số doanh nghiệp bị đóng cửa trong suốt 20 năm qua.

- Trong chuyện giảm lãi suất chúng ta có thể thấy ra hai điều. Ở đầu ra là tín dụng cho doanh nghiệp, rất nhiều cơ sở kinh doanh vẫn không vay được tiền dù lãi suất giảm một điểm bách phân, tức là 1% hay 100 điểm cơ bản. Có nhiều lý do họ không vay được tiền, hay tiếp cận với nguồn vốn như cách nói tại Việt Nam. Một phần là vì ách tắc trong cơ chế, như ngân hàng sợ mất nợ, hụt vốn nên đòi hỏi nhiều điều kiện khó khăn hơn. Phần khác là niềm tin của thị trường chưa có, số tổng cầu không tăng và doanh nghiệp mà vay được tiền thì có khi lại chất hàng vào tồn kho. Tình trạng bấp bênh ấy không thể chỉ giải quyết bằng cách hạ lãi suất.

Vũ Hoàng: Ông nói đến hai điều trong chuyện hạ lãi suất này. Vừa rồi là đầu ra của ngân hàng hay tín dụng cho doanh nghiệp. Còn điều kia là gì thưa ông?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Điều kia là lãi suất huy động, là tiền lời trả cho các trương chủ ký thác từ một tháng đến một năm, đã giảm từ 8% xuống 7,5% và ký thác tiết kiệm theo hạn kỳ lâu hơn thì do sự thoả thuận giữa ngân hàng và thân chủ, tức là cũng phải trên 8%. Ta thử xét vấn đề này theo khía cạnh "phí tổn thời cơ của tư bản", là đầu tư đồng tiền dư dôi vào nơi nào thì lợi nhất?

- Thứ nhất, từ năm ngoái, người nào có tiền thì đã ồ ạt tháo chạy khỏi thị trường bất động sản vì biết là kẹt vốn và sẽ lỗ. Họ cũng dè dặt với việc đầu cơ qua thị trường chứng khoán, vì chưa có lời. Một số thì nghĩ đến đô la nhưng âu lo về trị giá của đồng bạc xanh trên thị trường ngoại hối vì chính sách hạ lãi suất tới số không và ào ạt bơm tiền của ngân hàng trung ương Hoa Kỳ. Nhiều người thì nhắm vào vàng nên giá vàng trong nước mới cao hơn giá quốc tế, nhưng lại sợ là vàng có thể sụt, hoặc nhà nước sẽ chiếu cố đến thị trường này và giành lấy độc quyền hoặc trưng thu bất ngờ. Vì thế, về cơ bản, các giải pháp đầu tư ấy vừa thiếu an toàn vừa kém lời.

Vũ Hoàng: Thưa ông, có phải là trong hoàn cảnh đó, những người có tiền chỉ còn một ngả bảo vệ trị giá tài sản của họ là ký thác vào ngân hàng hay chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng vậy và đấy mới là vấn đề khi ta xét về cả hai mặt là có lời và an toàn.

- Nói về phần lời thì khi ký thác, người ta có thể được 8% trở lên, là mức lời cực lớn mà cũng là một gánh nặng cho ngân hàng vì nói chung, khi kinh tế chỉ tăng trưởng ở khoảng 5% mà kiếm ra 8% thì ai cũng ham, nhưng làm gì mà lời hơn 8% để trả cho khách? Trong khung cảnh cắt giảm lãi suất đồng loạt của các nước mà lãi suất ký thác lại được tới 8% thì đấy là chuyện hãn hữu, gần như chỉ có ở Việt Nam! Ở xứ khác mà được một hai phân là mừng. Đã vậy, từ kinh nghiệm của Cộng hòa Síp, người ta còn e rằng khi cùng quẫn thì nhà nước lại đánh thuế trên tiền lời tiết kiệm để cứu lấy chuyện khác, như đã có người đề nghị tại Việt Nam.

- Nói về sự an toàn thì tất cả chỉ là tương đối. Hệ thống ngân hàng của Việt Nam rất bấp bênh và có quá nhiều rủi ro sụp đổ, nhưng dù sao thì các trương chủ còn có thể rút ký thác ra tiền mặt, ít ra là một phần, chứ không đến nỗi mất cả chì lẫn chài. Họ đành tin vào lợi thế của thanh khoản như vậy vì nhìn quanh chẳng còn giải pháp nào khác. Muốn tẩu tán tư bản và chuyển tiền ra ngoài thì phải là đại gia hoặc có quan hệ lớn với giới chức của đảng và nhà nước.

Vũ Hoàng: Khi kết hợp cả hai mặt an toàn và có lợi của giới có tiền thì người ta thấy thế nào?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi trộm nghĩ rằng người ta thấy ra một bi và hài kịch.

- Bi kịch là số phận của người có tiền bị kẹt giữa những kênh đầu tư đều bất trắc như nhau và giải pháp ít tệ nhất vẫn là gửi tiền vào ngân hàng mà nơm nớp lo rằng mình giao trứng cho ác. Hài kịch là cách tính toán trên thị trường công khố phiếu, tức là cho nhà nước Việt Nam vay tiền.

- Sau khi quyết định hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước được công bố, trị giá trái phiếu tăng vọt và phân lời sụt. Tôi xin giải thích thêm là trị giá trái phiếu và phân lời, tức là tiền lời khi cho vay, chuyển dịch ngược chiều. Khi thấy lạm phát thoái lui và lãi suất ký thác hạ, giới đầu tư muốn cho vay nhiều hơn nên giá trái phiếu mới tăng và phân lời mới giảm. Hôm 25 thì phân lời trái phiếu loại 5 năm giảm tám điểm cơ bản hay 0,08% tới 8,92% là mức thấp nhất kể từ Tháng Hai năm 2009. Vì thấy nhiều người muốn cho nhà nước vay tiền, ta để ý đến gánh nợ của nhà nước, là gánh công trái hay "nợ công" theo cách gọi trong nước.

Vũ Hoàng: Nhưng thưa ông, hình như là gánh nợ của nhà nước cũng đang là vấn đề mà?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hài kịch ở đây là người ta không biết rằng nhà nước Việt Nam trực tiếp hay gián tiếp đã mắc nợ đến mức nào. Lý do là chính quyền không công khai hóa các khoản nợ của mình, lẫn trách nhiệm hoàn trái khi bảo lãnh cho các tập đoàn kinh tế của nhà nước hay các địa phương. Nhiều nơi thì chỉ có thể ước tính rằng gánh công trái của Việt Nam lên tới phân nửa Tổng sản lượng, khoảng 72 tỷ đô la, trong đó 60% là vay ngoại quốc.

- Chưa biết Việt Nam sẽ trang trải nợ nần thế nào nhưng vì bội chi ngân sách thường xuyên ở mức 5% của Tổng sản lượng nên ai cũng có thể suy ra rằng chính nhà nước Việt Nam đang đảo nợ, tức là vay khoản nợ mới để trả nợ cũ và cứ vậy mà tích lũy tiền lời.

- Bây giờ, khi lạc quan cho nhà nước vay tiền bằng cách mua vào công khố phiếu với kỳ vọng có lời tám chín phân sau này, nhiều nhà đầu tư hay chủ nợ đang chuốc lấy họa. Họ chẳng biết là nhà nước Việt Nam vay để làm gì, cho ai và làm sao kiếm ra lời để trả nợ sau này khi doanh nghiệp nhà nước thì lỗ lã, các dự án xây dựng hạ tầng thì rệu rã vì bị rút ruột và gây lãng phí triền miên.

- Các ngân hàng trung gian hay tổ chức tín dụng làm môi giới thì đã ăn hoa hồng và đứng sang một bên, còn chủ nợ thì gói kén nợ chuyền tay qua người khác mà chẳng biết là bên trong bị ung thối đến cỡ nào, cho tới ngày sẽ nhờ Câu lạc bộ Paris hay London dàn xếp để đòi nợ! Hài kịch là thế, như người ta đã chứng kiến quá nhiều lần tại nhiều xứ khác trên thế giới.

Vũ Hoàng: Tổng kết lại thì ông không mấy lạc quan về biện pháp cắt giảm lãi suất vừa qua?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng nó cũng tựa như đẩy một sợi dây mà chẳng tác động theo sự chờ đợi, tức là rơi vào cái bẫy của thanh khoản như giới kinh tế thường nói. Và sợi dây đó sẽ thắt cổ các chủ nợ vì khách nợ sau cùng là một nhà nước không đáng tin.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi và qua một kỳ khác có lẽ chúng ta sẽ tìm hiểu về Câu lạc bộ Paris và Câu lạc bộ London là nơi có thể dàn xếp chuyện đòi nợ sau này.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.