Hôm nay,  

Hoa Kỳ Cần Lạm Phát?

05/03/201300:00:00(Xem: 6400)
Lạm phát là nổi ám ảnh của hầu hết các quốc gia trên thế giới – cho dù Mỹ có thế sẽ cho tăng lạm phát để giảm gánh nợ công.

Muốn hiểu điều này chỉ cần nhớ rằng Mỹ có được lợi thế duy nhất là đi mượn nợ bằng tiền Đô-La, nên kẹt lắm họ vẫn có thể in bạc để trả nợ (thay vì phải quịt nợ). Trái lại một nước như Việt Nam phải đi vay bằng Euro hay Mỹ Kim, nếu tiền đồng mất giá (lạm phát tăng) càng khiến gánh nợ nặng thêm; cọng vào đó dân chúng đã không đủ sống nay phải cong lưng chạy đua với bão giá.

Hoa Kỳ hiện thiếu khoảng 16500 tỷ USD nhưng lạm phát ở mức rất thấp là 1.5%. Nếu lạm phát tăng lên 3.5% thì giá trị nợ tự động thụt xuống 330 tỷ USD (16500 x 3%)

Chẳng những thế, Mỹ Kim mất giá sẽ giúp hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ trở nên rẻ hơn. Hàng hoá nhập cảng từ nước ngoài tăng giá khiến mức tiêu thụ bị giảm giúp cán cân mậu dịch trở nên thăng bằng. Các công ty Mỹ lại có nhiều đầu tư ra ngoại quốc nên cũng mạnh hơn vì giá trị tài sản tăng.

Các nước như Trung Quốc, Việt Nam v.v… vốn kềm hối đoái so với đồng Đô-La sẽ gặp khó khăn vì xuất cảng sẽ lổ trong lúc tiền nhập cảng nhiên vật liệu, v.v... ngày càng cao vì trả bằng Đô-La. Còn tăng tỷ giá thì hàng hoá xuất cảng trở nên khó bán vì đắt đỏ hơn.

Mỹ sợ lạm phát vì chi phí cho xăng dầu sẽ tăng vọt ảnh hưởng đến nền kinh tế và đời sống của dân chúng. Nhưng nay Hoa Kỳ nhờ vào kỷ thuật khai thác đá phiến đang dần trở thành nước xuất cảng khí đốt và dầu thô, giá dầu tăng lại giúp nâng nền kinh tế thay vì tạo khủng hoảng như vào những năm 1972 và 2007.


Dĩ nhiên là mọi chuyện không phải đều êm đẹp khi lạm phát tăng. Thành phần lổ lả nhất là những ai ký thác trong Ngân Hàng vì tiền bị mất giá - như lớp hưu trí. Giới tiêu thụ cũng phải bớt tiêu xài vì hàng hoá tăng vọt nhanh hơn lương bổng, nhưng dân Mỹ bớt xa xỉ vẫn là điều tốt cho Hoa Kỳ (và nguy hiểm cho Trung Quốc, Việt Nam, v.v…)

Các đối thủ lẫn đồng minh như Nhật – Anh – Nga – Hoa sẽ rất bực bội vì họ đều là chủ nợ trong khi tiền cho Mỹ vay bị mất giá. Thị trường xuất khẩu lại phải cạnh tranh với Hoa Kỳ vào lúc mà chính nền kinh tế của họ cũng không vững vàng. Mỹ sẽ mất uy tín với đồng minh, nhưng nói cho cùng uy tín nào cũng không thay thế được giải quyết nợ để phục hồi một nền kinh tế và quốc phòng vững mạnh.

Cho nên sẽ không lấy làm lạ nếu trong 2-3 năm nửa Hoa Kỳ sẽ cho tăng lạm phát. Việc Mỹ đi vay tiền bằng đô-la là một lợi thế vô cùng lớn khiến cả thế giới tức giận bị chơi gác nhưng vẫn chưa có cách gì trả đũa.

Câu hỏi cuối cùng với Hoa Kỳ là con nợ lớn nhất thế giới, điểm tín dụng xuống dần không còn AAA nhưng tại sao vẫn còn có nước cho vay mượn với lãi suất vô cùng thấp? Lý do nơi các nền kinh tế của Âu Châu và Nhật vẫn èo uột hơn cả Mỹ, còn Trung Quốc tiếp tục giới hạn lưu lượng để đồng Nhân Dân Tệ không bị áp lực của thị trường tự do. Cho nên ghét nhưng vẫn phải cho Mỹ vay tiền dù biết rằng đồng Đô-La sắp mất giá.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.