Hôm nay,  

Tử Vi Mệnh Số Hoàng Sa, Trường Sa; Tham luận của Lý Kiến Trúc trong buổi hội luận tại đài VHNTV Chủ Nhật 27 tháng Giêng, 2013 do UBLĐLTVNCH tổ chức

30/01/201300:00:00(Xem: 12065)
Lý Kiến Trúc
Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí

Thuở còn là học trò, tôi được các thầy giáo dậy nước Việt Nam từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau có hình chữ S; đến tuổi thanh niên, tôi được nghe các nhà văn nhà thơ ví hình thể nước Việt Nam tựa như cô thiếu nữ xuân thì nằm xõa tóc phơi nắng biển Đông; khi tóc đã hoa mai đốm bạc thì tôi thấy cô thiếu nữ Việt Nam không những đầu tựa vào Trường Sơn, chân duỗi dài đạp sóng biển Đông, tay trái của cô còn vươn ra ôm lấy Hoàng Sa, tay phải của cô vươn ra ôm lấy Trường Sa, ngực của cô nhô ra đo với sóng lớn, hễ nước Thuỷ Tinh dâng lên cỡ nào thì núi Sơn Tinh của cô cao lên cỡ nấy, so với những hòn đảo bé tí ngoài khơi, chưa chắc ai đẹp hơn ai!

Thế nhưng, khi nói đến người thiếu nữ Việt Nam thì phải nói đến tử vi mệnh số của cô ẩn ở ngôi sao nào trên bầu trời vũ trụ. Số của cô cao số lắm, ai mà có phúc lấy được cô, “thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn.” (Ca dao)

Cô là ai, cô là “Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!”
(Tình Ca Phạm Duy)

Hoàng Sa - Trường Sa khi đã như một sinh mệnh của Việt Nam, thì chắc cũng phải nổi trôi theo mệnh nước. Cái lá số của Hoàng Sa - Trường Sa cách đây 200 năm đã được Quốc Vương Hoàng Đế Gia Long, Minh Mạng chấm rõ ràng rồi.

Nhưng khi những ngôi sao trên trời chuyển dịch thì lá số của Hoàng Sa Trường Sa theo mệnh nước nổi trôi cũng chuyển dịch, nó chuyển dịch như thế nào?

Từ những ngôi sao Chu Ân Lai, Phạm Văn Đồng đến Nguyễn Tấn Dũng chiếu mệnh

- Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Bắc Kinh-Chu Ân Lai ra tuyên bố chính thức về hải phận của họ, bao gồm 12 hải lý từ bất kỳ mốc lãnh thổ nào của Trung Quốc, "trong đó tính gồm cả các đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa."

- Mười ngày sau, ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng nước VNDCCH Phạm Văn Đồng đã ký một công hàm gởi cho ông Chu Ân Lai, Tổng lý Quốc vụ Viện nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa xác nhận - nguyên văn:

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

- Năm 1977, Giãi bày về công hàm này, TT CSVN Phạm Văn Đồng nói rằng: “Do nhu cầu của chiến tranh, Hà Nội rất cần sự chi viện hùng hậu của Bắc Kinh, cả về quân dụng, tư vấn, cho đến vận động dư luận quốc tế, nên phải nói như vậy thôi!”

Nhà nước và báo chí CSVN nhiều lần đề cập tới chuyện TT Phạm Văn Đồng không hề tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với hai quần đảo HS-TS, mà “chỉ công nhận hải phận 12 hải lý của Trung cộng”, còn chuyện hai cái quần đảo HS-TS của Việt Nam nó có nằm trong hải phận của Trung cộng hay nằm trong hải phận của VNCH là chuyện rõ như ban ngày.

- Công luận phê phán: Thực ra, dù Phạm Văn Đồng cố cãi cối cãi chày đổ thừa rằng do chiến tranh ta tạm công nhận công hàm, thực chất đối với tư duy của đảng CSVN lúc ấy, mấy hòn đảo xa lắc xa lơ chỉ có phốt phát với phân chim, chẳng có nghĩa lý gì so với mảnh đất phì nhiêu màu mỡ miền nam, chẳng có nhằm nhò gì với “giải phóng - thống nhất - điện khí hóa nông thôn”; một khi quan thầy Bắc Kinh muốn thì ta dâng cho quan thầy cho rồi! Xong chiến tranh, mai mốt đồng chí vĩ đại trả lại cho ta!

Đó là chuyện cách đây 55 năm. Bây giờ đến chuyện gần đây:

II/ Ngày 25 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng nước CHXHCNVH Nguyễn Tấùn Dũng trả lời chất vấn của Quốc hội, nói - nguyên văn: “Việt Nam chúng ta có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.”

1- Đối với quần đảo Hoàng Sa, ông Dũng nói - nguyên văn: “Năm 1956, Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Hoàng Sa…”

Sự thật, ông Dũng nói chưa đúng, đáng lẽ ông phải nói, từ năm 1946, 47, Tưởng Giới Thạch, khi làm Tổng thống nước Trung Hoa Dân quốc, đã xua quân xuống biển của ta chiếm một nửa quần đảo HS nằm về phía đông, rồi xua quân xuống Trường Sa chiếm đảo Ba Bình. Ngày 1 tháng 12, 1947, Tưởng cho vẽ đường lưỡi bò biển Đông làm 11 đoạn đứt khúc thuộc quyền quản lý của Trung hoa Dân quốc; nhưng sau đó, năm 1949, Tưởng bị Mao Trạch Đông đánh đuổi chạy ra Đài Loan, Mao xua quân chiếm lại Hoàng Sa đông, cắm cờ đỏ trên đảo Phú Lâm, còn đảo Ba Bình vẫn để cho Đài Loan chiếm đóng.

Tưởng cũng cần nói thêm về Mao và Tưởng lấn chiếm biển Đông, hai ông tầu phù này tuy hai mà một, đừng có nghĩ rằng Đài Loan là thể chế quốc gia mà không đi với cộng sản, qua nhiều diễn biến hiện nay ở biển Đông và Hoa Đông, Bắc Kinh và Đài Loan luôn luôn toa rập với nhau.

Tuy nhiên, khá khen ông Dũng cũng nói lên sự thật cho đồng bào trong nước nghe là: “Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.”

2- Đối với quần đảo Trường Sa, ông Dũng nói - nguyên văn: “Quần đảo Trường Sa, năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì Hải Quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này là do quân đội của chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản.”

3- - Công luận phê phán: Như vậy, sau 53 năm, TTCS Nguyễn Tấn Dũng đàn em TTCS Phạm Văn Đồng đã đá giò lái đàn anh một cú đau như hoạn, đàn em dám nói lên sự thật: biển và quần đảo Hoàng Sa, biển và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam Cộng Hòa chứ không thuộc quyền quản lý của VNDCCH mà ông Phạm Văn Đồng vơ vào.

4- Ngày 23 tháng 9 năm 2008, trong cuộc phỏng vấn của tôi đối với ông Lê Công Phụng, nguyên Thứ trưởng Ngoại Giao, nguyên Trưởng ban biên giới Việt-Hoa, Đại sứ đầu tiên của nước CHXHCNVN tại Hoa Tịnh Đốn; khi trả lời câu hỏi của tôi về vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa, ông Phụng khẳng định - nguyên văn: “HS-TS mãi mãi là của Việt Nam và nếu cần đưa vấn đề này ra trước tòa án quốc tế.”

Cho đến hôm nay, hơn 4 năm, chỉ có Philippine dám đưa Trung cộng ra tòa án quốc tế, còn VN thì chỉ có phản đối vu vơ! Vì cớ gì mà bắn tiếng đòi đá cả Mỹ “nếu Mỹ không làm đúng những gì đã nói!” Vì cớ gì mà đòi đá cả Trung cộng “độc chiếm biển Đông, muốn biến đường vận tải quốc tế thành cái ao nhà của mình!”

III. Vài giòng ngược lại lịch sử:

1/ Đầu tháng 9 năm 1951, Thủ tướng Trần Văn Hữu chính quyền Quốc gia Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hoàng Đế Bảo Đại; nhận lời mời của Mỹ, ông Hữu dẫn đầu phái đoàn Quốc gia Việt Nam tới tham dự Hội nghị Hòa ước San Francisco 1951, gồm có 51 nước tham dự có đóng góp trong việc đánh bại Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai. (Trong hội nghị này Mỹ không mời Trung Cộng và Trung Hoa Dân Quốc).

Trong hội nghị này, TT Hữu trong bài diễn văn đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nguyên văn như sau:

“Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp bất hòa sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.”


Khi Vua Bảo Đại tuyên bố lập ra Quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất ba miền Bắc Trung Nam từ tháng 3 năm 1945; công lớn của Thủ tướng Trần Văn Hữu, nội các của Vua Bảo Đại, trước hội nghị 51 nước ở San Francisco, ông đã dõng dạc tuyên bố về quyền và chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa mà không có một quốc gia nào phản đối; văn kiện lịch sử của hội nghị này cho đến nay vẫn bảo lưu.

Có lẽ phải cảm ơn nước Mỹ, chính Mỹ đã mời và tạo điều kiện cho Việt Nam tham dự Hội nghị Quốc tế ở San Francisco để VN có cơ hội đòi lại Hoàng Sa- Trường Sa; tiếc thay , TT Trần Văn Hữu không sấn tới thêm một bước nữa, đề nghị 51 nước tham dự đề ra một nghị quyết “Biển Đông là của Việt Nam”, TT Hữu chỉ than thở đưa ra lời tiên tri về mầm mống tranh chấp bất hòa ở biển Đông! Nay đã hiển lộ.

Khi nghiên cứu Dự thảo Hòa ước San Francisco do Anh-Mỹ gửi cho các quốc gia được mời tham dự hòa hội, Trung Cộng phát hiện ra điều hai của dự thảo hòa ước không quy định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản sẽ phải từ bỏ được trao cho quốc gia nào! cho nên Chu Ân Lai mới tuyên bố: "Dự thảo Hiệp ước quy định là Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi quyền đối với đảo Nam Uy (đảo Spratly) và quần đảo Tây sa (quần đảo Paracel), nhưng lại cố ý không đề cập tới vấn đề tái lập chủ quyền trên hai quần đảo này.

Dựa trên cái dự thảo điều hai “hớ hênh” của San Francisco, Chu Ân Lai đã bộc lộ ra cái “tham vọng bá quyền” của Trung cộng. Họ Chu cố ý lờ đi một sự thật, chủ quyền lịch sử của Hoàng Sa-Trường Sa đã xác quyết từ thời Vua Gia Long Vua Minh Mạng.

Và cũng chính Chu Ân Lai-Mao Trạch Đông xua hải quân ra chiếm Hoàng Sa của VNCH tháng Giêng năm 1974, Trung cộng chính là quốc gia đầu tiên đã vi phạm Hiệp định ngưng bắn và Định ước Quốc tế Paris năm 1973, (mở đường cho Bắc Việt tấn công Phước Long, tấn công Ban Mê Thuột, tiến về Sàigon.)

Nay đến lượt Ôn Như Bảo cũng ngang ngược khi đưa ra đường lưỡi bò 9 đoạn yêu sách các nuớc ven biển, trắng trợn vi phạm chủ quyền pháp lý dựa trên Công uớc về Luật Biển UNCLOS mà chính Trung cộng đã ký vào năm 1982.

2/ Còn nếu nói tới Pháp, Pháp là nước bảo hộ Việt Nam từ Hòa Ước Giáp Thân 1884 có nhiệm vụ quản lý trực tiếp Hoàng Sa - Trường Sa và khẳng định Pháp làm chủ hai quần đảo này từ năm 1930-33. Mục đích thâm hiểm của Pháp vẫn luôn luôn ôm giấc mộng thuộc địa Đông Dương và làm chủ biển Đông

- Tháng 10 năm 1950, Pháp tuy nhượng lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Việt Nam của Vua Bảo Đại, nhưng Pháp không ký một văn bản chính thức nào về chủ quyền hai quần đảo này cho Vua Bảo Đại và Vua Bảo Đại cũng không lên tiếng đòi hỏi về văn bản này! Đây cũng là cái yếu của ta.

- Tháng 5 năm 1954, Pháp đại bại ở trận Điện Biên Phủ, tháo chạy khỏi Đông Dương, Pháp cũng không chính thức trả Trường Sa cho chính phủ Ngô Đình Diệm, Pháp “thả nổi” quần đảo Trường Sa cho mạnh ai nấy chiếm, trong đó:

- Trung Quốc chiếm 7 bãi đá ngầm, và đến ngày 13/3/1988, Trung cộng xua chiến hạm bắn cháy 3 vận tải hạm và tàn sát 64 thủy thủ + sĩ quan hải quân CHXHCNVN, chiếm thêm đảo GạcMa.

- Đài Loan chiếm 1 đảo lớn nhất quần đảo Trường Sa là đảo Ba Bình năm 1956.

Malaixia chiếm 5 đảo.

- Bruney có đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển nhưng không có chiếm giữ đảo nào.

- Philippine chiếm 9 đảo, nhưng năm 1990 Trung Quốc dùng vũ lực chiếm thêm bãi cạn Vành Khăn (Mischief Reef), và năm 2012, gần như Trung Quốc chiếm hẳn bãi cạn Scarborough tên Phi luật Tân là Panatag ở khu vực Macclefiels Bank, bằng cách cho một chiến hạm mắc cạn ở đó rồi nằm ì ở đó luôn.

- VNCH thời TT Ngô đình Diệm chiếm 5 đảo, sau 30 tháng Tư 1975, CSVN đi tiếp thu, và HIỆN NAY đã chiếm được thêm 21 đảo, đómg quân đồn trú 33 điểm đảo khác, cùng với 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này, lại có cả chùa tụng kinh trên đảo!

NGOÀI ĐẢO GẠC MA BỊ TRUNG CỘNG ĐÁNH CHIẾM VÀ TÀN SÁT 64 THUỶ THỦ SĨ QUAN NĂM 1988, GẦN NHƯ VỚI SỰ THỎA THUẬN NGẦM CỦA TC, CÁC ĐẢO VN CHIẾM ĐÓNG BÂY GIỜ VẪN CÒN GIỮ NGUYÊN TRẠNG.

3/ Nói thêm về Mỹ; Hầu như Mỹ không nhìn xa bằng Trung cộng về biển Đông. Sau 8 năm giao chiến ở miền Nam VN (1964-1972), Mỹ không tạo bàn thắng quân sự ở cả hai miền bắc lẫn nam VN, Mỹ buộc phải dựng lên Hội nghị Ngừng bắn Tái lập Hòa bình (chứ không chấm dứt chiến tranh hiểu theo ý thức “giải phóng tuyệt đối miền Nam của Bộ chính trị Hà Nội!), Mỹ bố trí cho 4 bên họp ở Paris từ ngày 3 tháng 5, 1968. Mỹ nói chuyện vừa kín vừa hở với Hà Nội, Sàigon nói chuyện với MTGPMN.

Sau khi 4 bên ký xong vào ngày 27 tháng Giêng năm 1973, đó là ngày Mỹ phủi tay cuộc chiến Đông Dương, hoàn toàn thắng lợi trong việc rút quân, lấy lại tù binh và đạt thắng lợi ngoại giao với Trung cộng, Liên so;â sự việc Mỹ lặng thinh và hạm đội Bẩy khoanh tay nhìn Trung cộng chiếm Hoàng Sa, Mỹ “thả nổi” Đông Nam Á, tập trung sức mạnh vào khu vực khác.

Hiện nay đã có nhiều lập luận cho rằng TT Nixon bắt tay với Mao Trạch Đông năm 1972 thỏa hiệp ngầm để giải quyết chiến tranh VN, một trong các thỏa hiệp ngầm đó là “bán rẻ” nốt Hoàng Sa tây của VNCH cho Trung cộng, sự thật, Mỹ gài cái bẫy tham lam cho Trung cộng là quốc gia bên ngoài đầu tiên vi phạm Hiệp định và Định ước Paris 1973.

Đối với VNCH, thật ra, Mỹ không hẳn là “đồng minh tháo chạy”, Hiệp định Paris là điều kiện ắt có và đủ cho Mỹ thoát hiểm chiến tranh Việt Nam; nếu, lịch sử nước Mỹ không xẩy ra vụ Watergate khiến Tổng Thống Nixon từ chức, những điều khoản trong Hiệp định Paris và những cam kết của ông đối với VNCH vẫn còn nguyên giá trị; và nếu, không xẩy ra những toan tính chiến thuật sai lầm nghiêm trọng của TT Thiệu về hai trận chiến Phước Long, Ban mê Thuột dẫn tới quyết định chiến lược của Lê Duẩn mở cuộc tổng tiến công Chiến dịch Mùa Xuân 1975.

Kết luận

Trời đất đã ban bố cho Việt Nam là một quốc gia duyên hải, có bờ biển liên tục dài hơn 3000km, có thềm lục địa dài nhất trong số 10 nước ASEAN, đầu biển là Vịnh Bắc Bộ, đuôi biển là Vịnh Thái Lan.

Cả hai vịnh này trong quá khứ và hiện nay đều có những dấu ấn quân sự quan trọng; nhưng một con số vô cùng quan trọng liên đới đến an ninh, quân sự, kinh tế, chính trị, có cơ làm thay đổi diện mạo biển Đông, đó là con đường hàng hải quốc tế dẫn từ eo biển Malacca xuyên qua Singapore, xuyên qua biển Đông, xuyên qua eo biển Cao Hùng-Luzon vượt ra Thái Bình Dương.

Giải quyết được lá số bí ẩn con đường hàng hải này là giải quyết được phần lớn bế tắc tranh hùng tranh lợi ở biển Đông. Hiện nay, thế lực nào có thể giải quyết được ngoài Mỹ và Trung cộng, với sự đồng thuận vừa phải của ASEAN.

Trong thời kỳ chiến tranh trên lục địa Đông Dương, có một câu nói của một danh tướng Pháp: “Ai chiếm được Tây Nguyên, người đó sẽ làm chủ toàn cõi Đông Dương”.

Câu nói này có thể ứng với biển Đông: “Ai chiếm được HS-TS, người đó sẽ làm chủ toàn cõi biển Đông.”

Giữa hai lợi ích quốc gia-cốt lõi của Mỹ và Trung cộng, các quốc gia ven biển, đặc biệt là Việt Nam, có mong kiếm được lợi ích nào đi đôi với nỗ lực đòi lại HS-TS để xứng đáng với Tử vi Mệnh số của tổ tiên: “Biển Đông là của Việt Nam”./

Lý Kiến Trúc
Câu Lạc Bộ Văn Hóa & Báo Chí
California 27 tháng giêng 2013

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.