Hôm nay,  

Giáng Sinh và Văn Hóa

08/12/201200:00:00(Xem: 13262)
Sau khi miền Nam bị nhuộm đỏ vào ngày 30-04-1975, cả hai miền Nam, Bắc, người dân tìm đường vượt thoát ra khỏi Việt Nam vì muốn tìm tự do. Cũng may hồi đó (1975-1984) thế giới tự do không làm ngơ mà ngoảnh mặt đi chỗ khác, đã ra tay cứu vớt và nhận cho định cư những thuyền nhân tỵ nạn. Cũng nhờ đó, người Việt Nam ở nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới nhận ra, mỗi vùng mỗi nước có một nền văn hóa khác nhau, có ảnh hưởng những tôn giáo khác nhau vào nền văn hóa đó, mà điều đó biểu hiện ra ở bên ngoài.

Thí dụ như ta có dịp đến các xứ Campuchia, Thái Lan, Trung Cộng, Mổng Cổ, chúng ta gặp được nhiều chùa, nhiều tu viện được kiến trúc theo phong cách Phật Giáo. Nhưng khi ta đến vùng trời Âu, hay Mỹ Châu, tìm một ngôi chùa quả có hiếm hoi, mà tìm những ngôi nhà thờ, hay những tu viện theo Ki-tô Giáo thì xem ra dễ dàng. Ngay đất nước Hòa Lan hiền hòa, đa văn hóa nhưng những thành phố, làng mạc của họ, nơi đâu ta cũng gặp những mái nhà thờ với những tháp chuông cao vút vươn lên tận bầu trời. Sở dĩ như vậy vì Hòa Lan ảnh hưởng Ki-Tô giáo rất mạnh từ những thế kỷ đầu. Vượt ra ngoài biên giới Hòa Lan đến các nước lân cận như: Đức, Bỉ, Thụy Sĩ, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, nơi đâu ta cũng thấy những tháp nhà thờ.

Do vậy, người đời hay nói với nhau. Âu Châu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Ki-Tô Giáo. Á Châu ảnh hưởng nặng nề văn hóa Phật Giáo. Ở châu Á tìm đến một ngôi chùa, để đốt một nén nhang thì dễ, nếu ở Âu Châu tìm đỏ con mắt, khắp cả nước cũng khó kiếm ra một ngôi chùa. Nhưng tìm đến một nhà thờ vào một buổi sáng Chúa Nhật để đi lễ thì rất dễ, có thể ngay trong một thị xã lớn có đến nhiều nhà thờ, với tháp cao chót vót, và với tiếng chuông ngân vang đổ hồi mỗi đầu giờ hay nửa giờ một, nhất là mỗi sáng ngày Chúa Nhật để mời gọi bổn đạo tới nhà thờ dự lễ ngày Chúa Nhật. Đó là những biểu hiện ở bên ngoài ta có thể cảm nhận được.

Nhân mùa Giáng Sinh, sống trong vùng trời Âu, tìm hiểu về lễ Giáng Sinh để hiểu về nó cặn kẽ, thì thật đáng nên làm, vì xã hội quanh ta từ phố thị cho đến từng mái ấm gia đình, không khí mừng lễ Giáng Sinh đã bắt đầu từ sau tháng 10 hàng năm. Vậy lễ Giáng Sinh mà người Ki-Tô giáo mừng là lễ gì, những tôn giáo nào mừng lễ này.

-Ba tôn giáo độc thần là: Do Thái giáo, Islam và Công Giáo, chỉ có Công Giáo là mừng lễ Giáng Sinh:

-Công giáo gồm những đạo nào?

Từ nguyên thủy chỉ có một đạo Công Giáo do Chúa Ki-tô thiết lập từ những năm đầu của thiên niên kỷ, sau dần vì sự chia rẽ mới tách ra Chính Thống Giáo, Anh Giáo, Tin lành, riêng Tin Lành có nhiều hệ phái khác nhau nhưng cùng tin vào Chúa Giê-Su Ki-Tô.

Đạo Do Thái và Islam có tin Chúa Giê-Su, nhưng chỉ coi người như một tiên tri của Thiên Chúa, nên họ không mừng lễ Giáng Sinh.

-Chính Thống Giáo có mừng lễ Giáng sinh vào ngày 06-01 hàng năm nhằm vào ngày Lễ Ba Vua.

-Công Giáo, Anh Giáo và Tin Lành các hệ phái mừng lễ Giáng Sinh vào ngày 25-12 hàng năm.

Dưới đây là nguồn cội của lễ Giáng Sinh dựa theo Tin Mừng của thánh sử Mát-Thêu 1, 18-25.

Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và khônng muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”. Tất cả sự việc này đã xẩy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dậy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su.

Chúng ta cũng nên đọc lại tin mừng của thánh sử Lu-ca 1,26-38 để nắm rõ hơn về Lễ Giáng Sinh.

Truyền tin cho Đức Maria.

Bà Êlisabet có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gaprien đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Maria.

Thiên sứ vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

Sứ thần liền nói: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa, Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là con Đấng Tối cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của người sẽ vô cùng vô tận”.

Bà Maria thưa với sứ thần: “việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”!

Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Elisabet, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.

Sứ điệp của Ngôi Hai xuống thế làm người.

Bối cảnh thời gian khi con Thiên Chúa xuống trần cách đây trên hai ngàn năm, nhân có cuộc kiểm tra dân số, gia đình ông Giuse phải trở về quê quán để khai sổ nhân danh, cùng thời gian đó bà Maria đã đến này sinh, nhà trọ trong thành không còn chỗ trống, ông bà phải tìm chỗ để qua đêm nơi đồng vắng bên đàn trừu và những người canh giữ đàn vật, đúng vào thời gian bà chuyển bụng và sinh Đức Ki-tô. Vừa khi sinh ra thì có Thiên sứ từ trời hát vang vọng lên:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Thời gian đó ở vào mùa đông, lạnh lắm, lạnh thấu xương, nên có những con cừu trú đêm trong lều vây quanh, thở hơi cho ấm, và những người chăn chiên tiếp đón hài nhi mới sinh.

Hình ảnh này nói lên một chân lý, Chúa đến ở giữa những người nghèo, giữa những kẻ không nhà, không khác gì người tỵ nạn như chúng ta sau những ngày lênh đênh trên biển, được cứu vớt đưa về và thất thểu bước vào trại tiếp cư tỵ nạn. Cuộc đời của Ngài sống nghèo nàn trong mái ấm gia đình của ông bà Giuse và Maria, 30 năm sau Ngài xuất đầu lộ diện rao giảng Tin Mừng. Ngài đến giữa kẻ nghèo để phục vụ chứ không phải để được phục vụ như Mt.20,25-28 đã ghi lại: Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: “Anh em biết, thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”. Hoặc mời độc giả đọc Tin Mừng của thánh sử Lc. Đoạn 22 từ câu 24-27.

Trong ba năm truyền giảng Tin Mừng và kêu gọi các môn đệ, Ngài đã làm thật nhiều phép lạ. Phép lạ đầu tiên của Ngài là biến nước thành rượu trong một tiệc cưới, chữa nhiều bệnh nhân, trừ quỉ, làm cho kẻ chết sống lại như vụ con trai bà góa thành Na Im. Ngài đã bị xử án, đã bị chết treo trên cây Thập Tự, nhưng ngày thứ ba Ngài đã sống lại, Trước khi chết Ngài đã lập một bí tích mà hiện nay con người vẫn thật khó mà tin được để tồn tại và ở mãi với con người cho đến tận thế. Đó là bí tích Thánh Thể. Hiện nay, nơi các nhà thờ có linh mục, có dâng lễ là có bí tích này. Huyền nhiệm vô song, nhưng cần chúng ta tìm đến và tin. Đạo lý của Chúa Giê-su vang vọng vượt thời gian, đáng cho mỗi người quan tâm, tìm hiểu.

Mừng lễ Giáng Sinh là mừng mầu nhiệm Thiên Chúa Giáng trần làm người và ở giữa chúng ta. Điều chúng ta nên học ở mùa Giáng Sinh này là: đến với người nghèo, người cô đơn cô thê, thăm viếng ủi an họ, nhất là những đồng hương Việt Nam ở gần bên, nhiều người rất cô đơn về mặt tinh thần. Hoặc thể hiện một nghĩa cử bác ái nào đó với người đồng loại của chúng ta.

Xin trời cao mưa xuống cho nhân loại nhiều ân phúc như lời hát vang vọng của Thiên sứ trong đêm thánh này:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.