Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trí Thức Quốc Nội Lưu Truyền Loạt Bài Của Ông Lê Hồng Hà - Phần I

26/02/200100:00:00(Xem: 3608)
Nối kết
Thứ Bảy, 24/2/2001

(Nối kết xin gửi đến các bài tiếp trong loạt bài của cựu đảng viên cao cấp Lê Hồng Hà đang được lưu truyền trong giới trí thức và sinh viên cho thấy sự sai lầm tai hại của CNXH mác-xít, và đã khiến đảng và nhà nước lo sợ nên tìm cách trấn áp, lục soát nhà ông để bịt miệng, với cớ là ông dám viết thư "Mấy điều chất vấn Bộ trưởng CA Lê Minh Hương" hỏi khó đảng và nhà nước - Nối kết)

***

(bài 2)
THỬ ĐI TÌM PHONG CÁCH TƯ DUY VIỆT NAM
Hồng Hà

1. Tại sao lại đặt vấn đề đi tìm phong cách tư duy Việt Nam" Có hay không có một tư duy Việt Nam để đi tìm" Vì sao lâu nay không đặt vấn đề đi tìm tư duy Việt Nam" Có nên đặt việc đi tìm tư duy Việt Nam thành một chủ đề quan trọng trong sinh hoạt lý luận, tư tưởng, văn hoá của giới trí thức nước ta không"
2. Với mỗi dân tộc, trải qua lịch sử hàng nghìn năm hình thành và tiến hoá, do phải thường xuyên liên tục hoạt động sản xuất, đấu tranh với thiên nhiên và các địch thủ để bảo đảm sự sinh tồn và phát triển, tự nhiên và tất yếu phải hình thành phong cách tư duy của mình.
Ở các dân tộc phát triển tương đối sớm (sớm có sự phân công lao động, sớm có sự giao lưu và phát triển quan hệ thương nghiệp, sớm có chữ viết, sớm có tầng lớp lao động trí óc, v.v...) thì hình thành và xuất hiện các thuyết tôn giáo, các học thuyết triết học, tư tưởng của dân tộc, của vùng, v.v...
Ở một số các dân tộc khác ít phát triển hơn thì không thấy xuất hiện những tôn giáo và học thuyết triết học, tư tưởng của dân tộc mình, mà có tình trạng phải du nhập, vay mượn các tôn giáo, học thuyết triết học, tư tưởng của bên ngoài. Nhưng không phải vì vậy mà các dân tộc đó không có phong cách tư duy của mình.
Nước Việt Nam trong những thế kỷ trước và sau Công Nguyên thuộc vào loại nước thứ hai này. Tất cả các tôn giáo, học thuyết triết học, tư tưởng đều được du nhập từ nước ngoài.
3. Ở nước ta, trước đây, người dân có quyền không tin hoặc tin theo một tín ngưỡng nào đó: đạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão, đạo Thiên chúa, hoặc tin ở một ông Vua của dân tộc mình (trong một số dân tộc ít người), v.v...
Trong các tầng lớp cầm quyền đã có lúc coi trọng đạo Phật, nhưng nhìn chung là đề cao đạo Nho, coi như học thuyết chi phối việc xây dựng thiết chế nhà nước, và tổ chức xã hội. Tuy vậy, các tầng lớp cầm quyền vẫn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của dân, và chấp nhận sự chung sống hoà bình của các đạo theo kiểu "Tam giáo đồng Nguyên". Trong lịch sử Việt Nam không hề có chiến tranh tôn giáo.
4. Do chỗ không thấy có các tôn giáo, và học thuyết triết học, tư tưởng riêng của Việt Nam, nên nếu nhìn từ bên ngoài có thể đi tới kết luận dân tộc Việt Nam không có phong cách tư duy của riêng mình, mà chỉ đi vay mượn của bên ngoài. Đó là một cảm giác sai lầm, không lý giải được hiện tượng "khúc xạ" trong đời sống tư tưởng của nước ta.
Thực ra dân tộc Việt Nam đã có một quá trình dựng nước và giữ nước cực kỳ phong phú: từ một cuộc sống nguyên thuỷ sang cuộc sống văn minh, từ một cuộc sống nô lệ cho ngoại bang sang một cuộc sống độc lập tự cường; từ một xã hội loạn lạc, chia cắt sang một xã hội hoà bình, thống nhất, dân tộc Việt Nam đã phải chiến thắng biết bao thiên tai và địch hoạ, v.v... Qua đó cha ông ta đều đã có những tổng kết và qua thực tiễn đã hình thành phong cách tư duy của dân tộc. Điều đáng tiếc là những sự tổng kết đó vẫn chưa đưa lên thành những học thuyết triết học, tư tưởng có hệ thống hoàn chỉnh, mà phải núp dưới bóng của các học thuyết ngoại nhập. Trong tình hình đó, người trí thức Việt Nam không được phép chỉ dừng lại ở hiện tượng bên ngoài, mà phải thông qua cái vỏ bên ngoài đó mà phát hiện, nhận dạng, lý giải phong cách Tư duy Việt Nam, dù nó chưa được hệ thống hoá thành một học thuyết nào đó hoàn chỉnh.
5. Việc đi tìm phong cách tư duy Việt Nam, đáng lẽ từ lâu phải trở thành chủ đề trung tâm của đời sống lý luận, tư tưởng văn hoá của nước ta. Nhưng đáng tiếc, nó chưa được đặt ra, có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nào đó.
Trong nhiều thế kỷ trước đây vì tầng lớp cầm quyền đã tôn sùng Nho giáo, nên không đặt vấn đề đi tìm phong cách tư duy Việt Nam.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm và đô hộ nước ta, người ta đã nhận rõ nguyên nhân của sự mất nước, không phải chỉ ở sự yếu kém của các lực lượng quân sự, chính trị mà còn ở sự bất lực của hệ tư tưởng chỉ đạo nhà nước trước đó, tức là hệ tư tưởng Nho giáo.
6. Để tiến hành cuộc đấu tranh giành lại độc lập, các nhà yêu nước Việt Nam phải đi tìm con đường cứu nước ở nhiều phương, trong đó Nguyễn ái Quốc đã tiếp xúc với chủ nghĩa Lênin. Kế tiếp cuộc đấu tranh của những tiền bối, đồng chí Nguyễn ái Quốc và những người cộng sản cùng thời đã tìm thấy những điều rất có ích trong chủ nghĩa Mác - Lênin, đã vận dụng vào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc (xin xem: Nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Hồng Hà).
Nhưng từ đó lại nảy sinh trong một số người cách suy nghĩ không thật đúng đắn. Họ cho rằng trong sinh hoạt tư tưởng của dân tộc, từ nay trở đi, toàn bộ nhiệm vụ công tác tư tưởng, lý luận phải tập trung vào việc truyền bá, vận dụng, quán triệt, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đối với họ, không có vấn đề đi tìm phong cách tư duy Việt Nam. Họ lấy việc truyền bá chủ nghĩa Mác trong nhân dân thay cho việc đi tìm tư duy Việt Nam ("). ở đây, họ cũng lại quên mất "Gốc", quên mất "Nguồn".
7. Trong mấy năm gần đây, đã có nhiều bài nghiên cứu có giá trị về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là một hiện tượng tích cực trong sinh hoạt lý luận, tư tưởng ở nước ta. Nhưng điều đáng buồn là nhiều nhà nghiên cứu không nhận thấy mối quan hệ khăng khít giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với bản sắc văn hoá Việt Nam, với phong cách tư duy Việt Nam. Trong mối quan hệ đó, bản sắc văn hoá Việt Nam, phong cách tư duy Việt Nam là nền tảng, là cái thứ nhất, là cái có trước, mà tư tưởng Hồ Chí Minh là cái phản ánh, là cái thứ hai, cái có sau, là cái kết tinh của cái văn hoá dân tộc. Quên mất văn hoá dân tộc, tư duy dân tộc, thì tức là quên mất gốc, quên mất nguồn...
8. Tư duy Việt Nam đã có một quá trình hình thành, phát triển trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể của Việt Nam, và đã được khảo nghiệm trải qua hàng mấy nghìn năm của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Có thể tóm tắt (dù không đầy đủ) các điều kiện kinh tế, xã hội, lịch sử đó như sau:
Đây là một nền nông nghiệp trồng lúa nước ở khu vực Đông Nam Á thường xuyên phải chống thiên tai; hộ gia đình trước sau vẫn là tế bào cơ bản của xã hội xét cả về kinh tế và xã hội; Cơ cấu chính trị của đất nước được đặc trưng bằng sự kết hợp giữa chính quyền trung ương tập trung với sự tự chủ có mức độ của các cộng đồng làng xã; Nét đặc trưng là cuộc đấu tranh kiên cường chống ngoại xâm dựa trên cơ sở sự đoàn kết hoà hợp giữa các giai tầng trong nước (sĩ, nông, công, thương), giữa tầng lớp cầm quyền với nhân dân đông đảo; Sự hài hoà tôn trọng lẫn nhau giữa các tín ngưỡng, tôn giáo, tư tưởng, v.v...
9. Do đó, Phong Cách Tư Duy Việt Nam có những nét đặc thù khác với các dân tộc khác, khác với các học thuyết ngoại nhập. Dưới đây, thử nêu lên một số đặc trưng chủ yếu nhất của tư duy Việt Nam:
- Khác với nhiều học thuyết tách biệt máy móc xã hội với giới tự nhiên, Tư duy Việt Nam thường xem xét xã hội, con người trong mối quan hệ với giới tự nhiên, tức là coi Thiên - Địa - Nhân trong một thể thống nhất.
- Khác với nhiều triết học phương Tây đặt vấn đề quan hệ "giữa tâm và vật" lên hàng đầu, Tư duy Việt Nam lại đặt quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng lên hàng đầu trong hệ thống tư duy của mình. Và mối quan hệ đó được đặt ở 3 cấp: gia đình. làng xã và quốc gia. Trong mối quan hệ đó, người Việt Nam vừa coi trọng cộng đồng, vừa quan tâm tới lợi ích từng thành viên.
- Khác với nhiều học thuyết phương Tây quá cường điệu sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, tuyệt đối hoá quy luật phủ định của phủ định liên tục để nói sự tiến lên của xã hội, Tư duy Việt Nam lại nhấn mạnh sự kết hợp hài hoà các mặt âm dương, để lý giải sự tồn tại và tiến lên của xã hội.
- Khác với nhiều học thuyết phương Tây nhấn mạnh sự hình thành chủ nghĩa cá nhân, coi lợi ích cá nhân, coi quy luật đấu tranh giai cấp làm động lực phát triển của xã hội, Tư duy Việt Nam lại lấy tư tưởng cộng đồng, hợp tác tương trợ giữa người với người trong cộng đồng làm động lực thúc đẩy xã hội tiến lên.
- Khác với nhiều học thuyết phương Tây nhấn mạnh sự đấu tranh không khoan nhượng về tín ngưỡng, về tư tưởng (thậm chí dẫn tới chiến tranh tàn sát tôn giáo), Tư duy Việt Nam lại nhấn mạnh sự khoan dung, nhường nhịn, hoà hợp. - Khác với nhiều học thuyết bên ngoài tự phong là hoàn chỉnh, khép kín, từ chối mọi yếu tố của bên ngoài, Tư duy Việt Nam vốn là rộng mở, chịu tiếp xúc với các nền văn hoá bên ngoài, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng tiếp nhận mọi yếu tố có lợi, biến thành của mình nhưng luôn luôn giữ bản sắc của mình, chống sự đồng hoà với bên ngoài, chống ăn sống nuốt tươi.
- Khác với nhiều học thuyết đã tách biệt đời sống vật chất với đời sống tâm linh, Tư duy Việt Nam coi trọng cả hai và chú trọng kết hợp cả hai trong đời sống hàng ngày.
10. Sau khi đã giải quyết thành công sự nghiệp giải phóng, giành độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền đất nước, chúng ta đã bắt đầu bước vào sự nghiệp phát triển đất nước, khắc phục nghèo nàn, lạc hậu, giữ lấy ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Giai đoạn đấu tranh phát triển khác về chất so với giai đoạn đấu tranh giải phóng.
Đi vào sự nghiệp đấu tranh phát triển, nhân dân cũng đã có không ít những kinh nghiệm quý báu của các giai đoạn lịch sử trước đây, đồng thời lại có kinh nghiệm quý báu của sự nghiệp đổi mới gần đây. Đó là những vốn rất quý, cần được tổng kết một cách nghiêm túc.
Để có thể tiến hành sự nghiệp đấu tranh phát triển được thuận lợi, phải chăng đã đến lúc phải coi trọng việc đi tìm phong cách tư duy Việt Nam; Phải chăng đã đến lúc phải coi đó là nhiệm vụ tổng quát nhất của giới trí thức Việt Nam; Phải chăng đó chính là khâu then chốt nhất trong đời sống lý luận, tư tưởng hiện nay của đất nước ta.

Hồng Hà 1995.

***

(bài 3) NHÂN DÂN VIỆT NAM VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - Hồng Hà

Trong suốt thế kỷ 20, nhân dân ta thông qua giới trí thức của mình luôn luôn đi tìm con đường phát triển thích hợp với đất nước mình. Trong quá trình đó, sự tiếp xúc giữa nhân dân ta với chủ nghĩa Mác, sự du nhập của chủ nghĩa Mác vào Việt Nam, có một vị trí hết sức quan trọng. Nhận dang, phân tích, đánh giá vai trò của chủ nghĩa Mác đối với cách mạng Việt Nam trở thành một điều kiện không thể thiếu đối với giới trí thức nước ta, khi đang phải tiếp tục đi tìm con đường phát triển cho dân tộc trong tình hình hiện nay.

I. Suy nghĩ về chủ nghĩa Mác - Lênin.
1. Trước hết, hãy rà soát lại các từ ngữ: chủ nghĩa Mác (Marxisme), chủ nghĩa Lênin (Léninisme), chủ nghĩa Mác - Lênin (Marxisme - Léninisme), chủ nghĩa Mác - Lênin - Stalin (Marxisme - Léninisme - Stalinisme), chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa cộng sản, v.v...
Trong các Từ điển do Liên Xô xuất bản những năm trước đây về triết học, về kinh tế chính trị học, về chủ nghĩa cộng sản khoa học, đã có nhiều định nghĩa. Trong cuốn Từ điển phê phán chủ nghĩa Mác của các nhà mác-xít Pháp cũng có nhiều định nghĩa khá hệ thống và cụ thể.
Ở đây không trích lại để tránh dài dòng.
Điều đáng chú ý nêu lên là:
a. Một số Đảng đã lấy khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học làm nền tảng tư tưởng của Đảng mà không lấy tên người (Mác, Ăng-ghen, Lênin).
b. Từ Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Liên Xô (1956) trở đi, nói chung trong văn chương mác-xít thường dùng khái niệm chủ nghĩa Mác - Lênin để chỉ học thuyết Mác, và cũng từ đó thôi dùng khái niệm chủ nghĩa Mác - Lênin - Stalin.
c. Nội dung của khái niệm chủ nghĩa Mác - Lênin ngay từ khi hình thành đã mang đầy đủ cách lý giải của Stalin về triết học, kinh tế học chính trị, về chủ nghĩa xã hội. Cách lý giải đó đã tồn tại vài ba chục năm và về cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung cơ bản trong sách giáo khoa ở các trường Đảng của nước ta cho tới những năm 70 và 80. ở nước ta, cho tới nay chưa hề có những cố gắng phê phán những quan điểm sai lầm của Stalin, để làm một cuộc phân rõ tư tưởng Mác, tư tưởng Lênin với những tư tưởng của Stalin. Hơn nữa, việc Nhà xuất bản Sự thật mà nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cuối những năm 70, vẫn còn xuất bản toàn tập Stalin vì vẫn được coi là tác phẩm kinh điển, càng chứng tỏ sự hỗn loạn về tư tưởng lý luận đối với học thuyết Mác, đối với cái gọi là chủ nghĩa Mác - Lênin.
2. Lâu nay, cách hiểu thực chất của học thuyết Mác còn nhiều điểm khác nhau, cần tranh luận:
a. Có phải đây là học thuyết về xây dựng xã hội cộng sản, xã hội xã hội chủ nghĩa không" Ngày nay, ai cũng hiểu rằng ở thế kỷ 19, chưa hề có việc xây dựng xã hội mới, nên không thể hình thành học thuyết nào hoàn chỉnh về xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Nhiều nhất cũng chỉ có thể là một số dự báo ban đầu dựa trên cơ sở phê phán xã hội tư bản đương thời mà thôi.
b. Có phải đây là học thuyết về sự giải phóng của giai cấp vô sản thông qua cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản không"
Quan sát các nước trên thế giới trong suốt cả thế kỷ 20, nhất là các nước công nghiệp phát triển (G7) và các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, ta thấy rằng những nhận định và phân tích của Mác về thế xu thế vận động của xã hội tư bản chủ nghĩa đều không được kiểm nghiệm về cơ bản: có phải xã hội tư bản phát triển theo sự phân hoá hai cực không" Có phải sự phát triển các mâu thuẫn giữa vô sản và tư bản tất yếu dẫn đến cách mạng vô sản không" Có đúng là giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử là chôn vùi chế độ tư bản chủ nghĩa không" Có đúng việc thiết lập chuyên chính vô sản là tất yếu trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không" Có đúng là tất cả các nước phải đi lên chủ nghĩa xã hội không" Chủ nghĩa xã hội là gì" Vì sao chủ nghĩa xã hội được coi là con đường tốt đẹp nhất trong lịch sử và đã được xây dựng ở Liên Xô và các nước Đông Âu lại bị sụp đổ tan tành như vậy" Nguyên nhân của sự sụp đổ là do vận dụng sai một học thuyết đúng hay nội dung của bản thân học thuyết đã có nhiều điểm sai lầm rồi"
Đối với tất cả các vấn đề trên, có nhiều cách giải đáp khác nhau, và công tác lý luận của giới trí thức nước ta phải đưa ra lời giải đáp đúng đắn cho xã hội.
3. Vậy thì chủ nghĩa Mác đã hình thành ra sao" Giá trị của chủ nghĩa Mác ra sao"
Nếu xét từ lịch sử, thì chủ nghĩa Mác là một sản phẩm của Tây âu Lâu nay chúng ta thường nói về ba nguồn gốc của chủ nghĩa Mác: triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp. Mác và Ăng-ghen sống ở Đức, ở Pháp, ở Anh v.v... Khi hình thành học thuyết của mình, Mác và Ăng-ghen đã tiếp thu được các luồng tư tưởng của phương Tây, đã phản ánh những mâu thuẫn và xu thế vận động của xã hội phương Tây lúc đó.
Đặc trưng chủ yếu của Tây  u thế kỷ 19 khi hình thành học thuyết của Mác và Ăng-ghen là chủ nghĩa tư bản sơ kỳ và cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.
Dù Mác có hiểu biết một chút về ấn Độ, về nước Nga nhưng về cơ bản, Mác chưa hiểu phương Đông với các đạo Nho, Phật, Lão, chưa hiểu châu Phi, Mỹ La-tinh, v.v...
Với sự cần cù, nhẫn nại hiếm có, với trí thông minh tuyệt vời và thái độ khoa học nghiêm túc, Mác và Ăng-ghen đã từng bước xây dựng học thuyết của mình trên cơ sở tiếp thu có phê phán các luồng tư tưởng trước kia và đương thời, gắn liền với những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản lúc đó nên đã có những đóng góp phi thường trong việc mổ xẻ, đi sâu lý giải xã hội tư bản đương thời, đã phê phán sâu sắc và lên án gay gắt những tội ác, những khuyết tật của xã hội tư bản. Đó là những sự đóng góp to lớn về mặt khoa học. Nhưng do chủ nghĩa tư bản và cách mạng công nghiệp đều mới chỉ ở vào giai đoạn sơ kỳ, chưa bộc lộ đầy đủ các khía cạnh của sự phát triển, nên các kết luận, nhận định và dự báo của Mác về mặt lý luận bị nhiều sự hạn chế và cho tới nay chưa phản ánh được xu thế phát triển cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa trên thế giới.
Vì chưa có thực tiễn xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa nên toàn bộ những ý kiến của Mác về xã hội mới sau này chỉ hạn chế trong phạm vi những dự báo mang tính định hướng và cũng mới chỉ dựa trên cơ sở phủ định, sửa chữa những tật xấu của xã hội tư bản mà thôi. Do đó những ý kiến về xã hội xã hội chủ nghĩa chẳng qua cũng chỉ là những dự báo mang tính giả thiết, hoàn toàn chưa có kinh nghiệm thực tế và càng chưa được thực tiễn kiểm nghiệm.
4. Đến nay qua sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu, qua những cuộc cải cách ở Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam, đã có đầy đủ sự kiểm nghiệm của thực tiễn, có thể thấy các nguyên lý chủ yếu của chủ nghĩa Mác về mô hình chủ nghĩa xã hội là sai lầm, là phản phát triển: nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phi hàng hoá, nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cao độ phủ nhận kinh tế thị trường, chế độ công hữu phổ biến đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, nguyên tắc phân phối theo lao động, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin chi phối toàn bộ đời sống văn hoá tư tưởng của xã hội, việc thiết lập chuyên chính vô sản coi thường nền dân chủ, v.v...
a. Đến nay nếu đi sâu vào khoa học kinh tế, thì thấy rằng lý thuyết về giá trị thặng dư, hòn đá tảng của kinh tế học mác-xít, ngày càng tỏ ra bất lực trong việc giải thích các phạm trù giá trị và bóc lột, tham nhũng, hối lộ trong xã hội hiện nay. Nội dung lý thuyết về giá trị thặng dư có phần quá giản đơn, phiến diện. Lý thuyết đó phủ nhận sự đóng góp của các nhà khoa học kỹ thuật, của các nhà quản lý, của các quy luật thị trường, v.v...
b. Luận điểm giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, được coi là một phát hiện lớn của chủ nghĩa Mác, đã tỏ ra không đúng. Trong việc thúc đẩy sự phát triển đi lên, thúc đẩy các tiến bộ xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa trong suốt thế kỷ 20, tất nhiên có tác động của giai cấp công nhân, nhưng tác động đó không phải ở vào vị trí chi phối, chủ đạo. Ngay ở các nước xã hội chủ nghĩa, về lý luận và danh nghĩa, tuy lúc nào cũng nêu vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhưng trong đời sống thực tế, chỉ có vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhân danh giai cấp công nhân mà thôi. Hoàn toàn không có một cơ chế nào bảo đảm thực hiện quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân cả. Giai cấp công nhân cũng chịu toàn bộ các hậu quả đau khổ của một cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, do đó cũng tham gia bãi công, lãn công, đình công như trong các nước tư bản chủ nghĩa, nghĩa là chẳng có quyền lãnh đạo gì cả.
c. Với việc thiết lập phổ biến chế độ công hữu, và xoá bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, người ta tưởng rằng có thể xoá bỏ được tình trạng tha hoá của người lao động, xoá bỏ chế độ người bóc lột người. Nhưng càng đi sâu vào đời sống thực tế thì người ta lại càng thấy rằng những biện pháp đó đã triệt tiêu tinh thần cố gắng và ý thức chủ động sáng tạo của người lao động, gây nên lãng phí phổ biến kéo dài, phá hoại trên quy mô lớn tài nguyên của đất nước, dẫn đến kìm hãm sự phát triển của xã hội.
d. Lúc đầu, người ta tưởng rằng việc thiết lập chuyên chính vô sản cũng tức là xây dựng nên một chế độ triệu lần dân chủ hơn dân chủ tư sản. Nhưng qua các đợt thanh trừng tàn bạo mà Đảng Cộng sản Liên Xô và báo chí Liên Xô đã bộc lộ, thì đó chỉ là một chế độ toàn trị (totalitarisme), một nền chuyên chế tàn bạo nhất trong toàn bộ lịch sử nước Nga. Nền chuyên chính vô sản về cơ bản là đối nghịch với nền dân chủ thông thường, là triệt tiêu dân chủ, là chống lại những quyền cơ bản của con người.
Chuyên chính vô sản, với nền kinh tế chỉ huy tập trung, dựa trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất đã đưa toàn thể nhân dân lao động vào trạng thái lệ thuộc, thụ động phổ biến.
e. Cái còn có giá trị trong học thuyết Mác chủ yếu là chủ nghĩa duy vật biện chứng, là lý luận về nhận thức được khái quát trên cơ sở tiếp thu có phê phán những luồng triết học trước đó của Tây Âu. Nhưng về phần duy vật lịch sử, do chỗ Mác chưa hiểu phần lớn các nước trên thế giới, nên nhiều kết luận của Mác đã rơi vào sai lầm lấy bộ phận làm toàn thể, đã sơ đồ hoá một cách quá giản đơn quá trình phát triển của các dân tộc, đã lấy châu âu làm trung tâm để xem xét các nước khác. Các nguyên lý về đấu tranh giai cấp như là quy luật phát triển của lịch sử, lý luận về Nhà nước, lý luận về hình thái kinh tế xã hội v.v... về cơ bản đã không giúp cho việc lý giải quá trình phát triển của các xã hội ở các nước.
5. Nếu coi các quan điểm của Mác như những giả thuyết nêu lên để trao đổi, những gợi ý có tính tham khảo thì sẽ rất có ích. Nhưng nếu coi chúng như những tín điều giáo lý, bắt buộc cho toàn thế giới, tuyệt đối hoá chúng, nâng chúng lên thành học thuyết tối thượng của Nhà nước, dùng chúng để triệt bỏ, đàn áp mọi người có ý kiến khác với mình, thì điều này đã trở thành thảm hoạ cho các dân tộc.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.