Hôm nay,  

Gió Phương Xa

06/04/201200:00:00(Xem: 15203)
Năm nay, thời tiết tháng ba bỗng lạnh hơn những năm trước rất nhiều (hay tại mình già hơn năm trước mà cảm thấy thế?) Gió tháng ba này cũng lạ! chúng mang cái buốt giá căm căm của tháng ba miền Bắc Việt Nam, chứ không phải là gió xuân của Cali ấm áp Hoa Kỳ. Ai bảo đất trời tuần hoàn Xuân Hạ Thu Đông không có chợt nắng chợt mưa, như chúng sanh chợt cười, chợt khóc!

Nhưng có một sự việc vẫn đến đều đặn với chùa Phật Tổ, Long Beach, từ nhiều năm nay. Đó là, mỗi năm, trong khoảng thời gian này, Phái đoàn hoằng pháp Châu Âu do Hòa Thượng phương trượng chùa Viên Giác Đức Quốc hướng dẫn, đều ưu ái dừng chân nơi ngôi chùa khiêm nhường tại thành phố Biển Dài, miền Nam California, để ban cho đại chúng hương vị pháp thực đậm đà của một giáo pháp, từng nuôi sống tâm linh chúng sanh gần hai mươi sáu thế kỷ qua.

Hòa Thượng trưởng đoàn bước vào chánh điện trong âm thanh rộn rã của ba hồi chuông trống Bát Nhã. Cùng bước theo ngài là những vị trưởng tử Như lai: TT Thích Nguyên Tạng (phó trụ trí Tu viện Quảng Đức, Úc Đại Lợi), TT Thích Thông Triết (trụ trì thiền viện Chánh Pháp, Oklahoma), ĐĐ Thích Viên Giác (trụ trì chùa Đôn Hậu, Na Uy), ĐĐ Thích Hạnh Bảo (trụ trì chùa Viên Ý, Rome, ý Đại Lợi), ĐĐ Thích Hạnh Đức (trụ trì chùa Phật Ân, Minesota ), NS Thích nữ Minh Huệ (trụ trì Thanh Lương ni viện, Sacramento, Bắc Cali Hoa Kỳ). Chỉ thiếu hai vị: ĐĐ Thích Thánh Trí và ĐĐ Thích Hạnh Tuệ còn đang bận Phật sự tại San Diego sẽ có mặt trong buổi giảng ngày mai.

Hòa Thượng viện chủ chùa Phật Tổ và đại chúng, chào mừng phái đoàn bằng niềm hoan hỷ lớn, bộc lộ từ những trái tim lớn mà tỏa ra hạnh phúc lớn. Không cần chi ngôn ngữ cho nhiều, khi ngôn ngữ cũng chỉ diễn tả giới hạn những cảm xúc vô hạn.

TT Thích Nguyên Tạng, phó trụ trì tu viện Quảng Đức, Úc Đại Lợi, luôn là phát ngôn viên của phái đoàn. Thượng Tọa cũng là linh hồn của trang nhà Quảng Đức, nơi có sức chứa như một thư viện Phật Giáo tầm vóc, cho những ai cần sưu tầm tài liệu. Thượng Tọa cũng là trưởng đoàn hành hương thăm Phật tích khắp nơi như Ấn Độ, Trung Hoa, Đài Loan…. Dưới sự hướng dẫn của Thượng Tọa thì những chuyến hành hương không phải là du lịch, mà là đi để tìm thấy chính mình qua lời Phật dạy. Làm sao mà tâm không trụ nơi thân, khi đứng trước mỗi Phật tích đều có thể vẳng lên âm thanh “Đi khắp đại địa, ghim cây kim xuống đâu cũng đều chạm xương da Như Lai”.

Trong bài pháp cô đọng mở đầu chương trình pháp thoại tại chùa Phật Tổ, Thượng Tọa giới thiệu hai tác phẩm mới. Cuốn thứ nhất tựa đề: “Chết an lạc, tái sinh hoan hỷ” được HT Thích Như Điển và Thương Tọa, dịch từ nguyên bản Anh ngữ “Peaceful Death & Joyful Rebirth” của Đại Sư Tulku Thondrup. Đây là một đề tài mà không ai không muốn tìm hiểu. Cuốn thứ hai là: “Chuyện tình của HT Liên Hoa” do HT Thích Như Điển phóng tác từ câu chuyện có thật, vào thời vua Gia Long, đầu triều đại nhà Nguyễn. Hai tác phẩm này đã được nhị vị dịch giả và tác giả ký tặng đại chúng sau lễ khai mạc khóa tu.

Buổi chiều cùng ngày, đại chúng được nghe TT Thích Thông Triết giảng về đề tài “Căn bản của phiền não”. Mở đầu, thầy khảo bài ngay:

-37 phẩm trợ đạo là những gì? Ai biết?

Học trò bị hỏi bất ngờ, sợ hãi nhìn nhau. Nhưng rồi cũng có một vài cánh tay rụt rè giơ lên:

-Dạ, tứ niệm xứ.

-Đúng ! Cho bác đây một tràng pháp tay. Gì nữa?

-Dạ, tứ chánh cần.

-Đúng luôn ! Cho anh đây một tràng pháo tay. Gì nữa?

-Dạ, Tứ diệu đế.

-Lại đúng ! Phật tử chùa Phật Tổ giỏi qua! Đếm xem, được bao nhiêu rồi. Ba lần bốn là mười hai …..

Hú hồn! Khi thầy đăng tòa, nhìn nhân dáng nghiêm túc, lại bị sát hạch bất ngờ, đại chúng tưởng buổi giảng này sẽ …. “nín thở qua sông!”. Ai dè, thầy “giơ cao, đánh khẽ” khiến trò được ôn lại bao nhiêu bài học quý giá từ 37 phẩm trợ đạo tới 8 tâm vương, 51 tâm sở, để nhận định được đâu là căn bản phiền não đã gây nên biết bao đau khổ.

Buổi giảng sáng thứ sáu 30 tháng 3, 2012 do ĐĐ Thích Hạnh Bảo phụ trách. Hôm nay, gió lạnh hơn hôm qua. Có lẽ nhiều Phật tử trễ chuyến xe buýt sớm nên chưa đến kịp. Nhìn quanh đạo tràng, ĐĐ bảo:

-Thời nay, mọi sự đều chỉ có thể làm vào cuối tuần mới hội tụ đông đủ. Phật sanh ngày nào, cũng cuối tuần mới làm Lễ Phật Đản. Vu Lan ngày nào, cũng cuối tuần mới làm Lễ Vu Lan.

Đó là một thực trạng của tùy thuận phương tiện.

Thầy chia sẻ những điều bình thường nhưng thực tế, mà nếu ít quan tâm, chúng ta dễ nhầm lẫn. Đó là thực chất vi tế giữa ăn chay và ăn mặn, rồi tới sự từ bi, giữa ái kiến từ bi của chúng sanh và lòng từ bình đẳng của Chư Phật, rồi phụng dưỡng báo hiếu giữa chánh cần và bất chánh cần …

Thầy xác định là thầy chỉ “nói chuyện đạo” chứ không dám coi là thuyết pháp, vì pháp, theo thầy, mọi người đều tự có.

Đó là lời khiêm tốn của một vị thầy tự làm mờ “cái ta” để trở thành “cái chúng ta”. Quý thay!

Buổi chiều cùng ngày, đại chúng được diện kiến ĐĐ Thích Viên Giác, trụ trì chùa Đôn Hậu, Na Uy. Đối với đa số Phật tử miền Nam Cali, Hoa Kỳ, thì xứ Na Uy còn là một địa danh khá xa lạ. Vậy mà cũng có bước chân của hậu thân Tăng Đoàn Đức Thế Tôn đến đó từ nhiều thập niên qua.

Thầy chia sẻ, Na Uy là xứ lạnh, nhưng tình nồng. Những năm đầu, thầy chỉ ăn bánh mì, vì ít có chợ nào bán gạo, nói chi tới những đặc sản quê hương. Chính nơi xứ lạ, ít đồng hương đó, thầy đã có những cơ hội quý báu, giới thiệu với dân bản xứ về những nét đặc thù của Đạo Phật.

Khi thầy nói về hạnh khất thực, họ rất cảm động và ngưỡng phục. Một Đức Phật được người người tôn quý, dẫn đoàn tỳ kheo đầu trần, chân đất, lặng lẽ ôm bát đứng trước mỗi ngưỡng cửa, chờ bố thí chút thực phẩm. Hành động đó, hình ảnh đó, nào phải là nghèo đói xin ăn, mà là trải rộng lòng từ bi, tạo dịp cho chúng sanh biết bỏ chấp ngã và biết bố thí.

Chính sự cảm ứng kỳ diệu từ những bài pháp đơn sơ ban đầu này mà thầy tự tin, khởi xây chùa Đôn Hậu để có nơi cho Phật tử nương tựa. Khi mới khởi công, thầy có chút lo lắng, nhưng thầy được Sư Phụ trấn an rằng:

-Đừng lo! Thầy cứ tụng kinh, gõ mõ, tiền sẽ từ mõ mà ra.

Quả thật, từ viên gạch đầu bằng gia tài thầy trò có bảy ngàn đô, những viên gạch khác cứ từ nơi này, nơi kia lăn tới. Gạch lăn tới đâu, xây tới đó. Long Thần Hộ Pháp gia trì thế nào, nhận thế nấy. Nay, ngôi chùa Đôn Hậu đã hoàn tất qua dự án hai triệu đô.

Khi chia sẻ điều này, thầy muốn nhắn gửi một thông điệp, là người Phật tử phải có niềm tin nơi Tam Bảo. Cùng với tự lực và tha lực nơi hộ pháp, chúng ta có thể thành tựu những điều xứng đáng.

Trước khi xuất gia, ĐĐ Thích Viên Giác là nhạc sỹ Phi Long, nên thầy kết thúc buổi giảng pháp bằng bản nhạc “Xuân Trong Ta” do chính thầy sáng tác.

Sáng thứ bảy 31 tháng 3, 2012, đại chúng chùa Phật Tổ có thời khóa tu Tịnh Nghiệp thường lệ với tụng kinh A Di Đà, kinh hành, niệm Phật. Sau đó, chuông trống Bát Nhã đã rộn rã ngân lên đón tiếp Ni Sư Minh Huệ, vị tỳ-kheo-ni duy nhất trong phái đoàn hoằng pháp Châu Âu từ bấy lâu nay.

Khi giới thiệu Ni Sư, HT viện chủ chùa Phật Tổ đã nhắc lại một điểm quan trọng khi xưa, là Đức Phật đã nhận thấy, trí tuệ không phân biệt nam nữ. Những gì vị tỳ-kheo làm được thì vị tỳ-kheo-ni cũng có thể làm được (NS đã đậu bằng Tiến Sỹ Phật Học bên Ấn Độ với đề tài luận án là Kinh Trung Bộ).

Hôm nay, NS giảng về Vô Thường.

Thời gian qua nhanh, vô thường lại không biết ập tới lúc nào! Chúng sanh thì luôn bị ngũ dục lôi cuốn khiến quên đi mỗi phút giây qua, mỗi đến gần sự chết! không tu tập, không tạo phước, không mở mang trí tuệ, lấy đâu hành trang thiện lành khi ra đi, để tới được thế giới an lạc.

Tiếc thay, chúng ta thường biết trên Lý, mà Sự lại chẳng chịu hành, nên khi vô thường tới, có chợt ngộ ra cũng đã muộn.

Ni Sư đan cử vị Đại Đế lừng danh bách chiến bách thắng, Alexander của Pháp Quốc, sau khi chinh phạt, trên đường ca khúc khải hoàn trở về quê hương, ông bỗng lâm bệnh nặng vì quá lạm dụng sức mình khi bôn ba chiến trận. Tự biết khó qua khỏi, ông gọi cận thần, dặn dò 3 điều:

1-Suốt dọc đường về quê, các lương y phải khiêng xác ông, chứ không được bỏ vào quan tài.

2-Rải hết vàng bạc châu báu của ông trên suốt chặng đường đi.

3-Về đến quê hương, khi làm lễ an táng, bỏ xác vào quan tài, nhưng phải để lộ hai bàn tay ra ngoài.

Trong đại chúng, nhiều người chưa biết về giai thoại này, nên lấy làm lạ, đều chăm chú lắng nghe. Ni sư chậm rãi, giải thích thông điệp của đại đế Alexander nhắn với thế gian, ở từng điểm:

Thứ nhất, các danh y phải khiêng xác ông suốt dọc đường về quê là để nói lên, cái chết chắc chắn sẽ bình đẳng đến với tất cả mọi người, không quyền uy, danh y nào có thể cứu được.

Thứ hai, rải hết của cải ông có trên suốt dọc đường để nói rằng, giầu sang quyền quý tới đâu, khi chết cũng không mang được gì.

Thứ ba, an táng với hai bàn tay trơ trụi, lộ ra ngoài để nói rằng, khi vào đời với hai bàn tay trắng thì lúc ra đi cũng chỉ là trắng đôi tay!
Ở những ngày cuối đời, kịp nhận ra lẽ vô thường như vậy, may ra đã giúp ông ra đi thanh thản.

Quyền lực, tiền tài, danh vọng đến như Đại Đế, khi vô thường tới, còn như vậy. Nếu so ra, chúng ta thật chẳng là gì, vậy khi ra đi, có gì mà tiếc nuối!

Như để làm nhẹ bớt “bóng ma vô thường”, ni-sư cất tiếng trong thanh, hát một bài, tặng đại chúng trước khi chấm dứt thời pháp.

Hạnh phúc thay!

Buổi sáng cùng ngày, ĐĐ Hạnh Tuệ ban pháp với chủ đề “Hộ niệm là một pháp tu”

HT viện chủ chùa Phật Tổ ân cần giới thiệu với đại chúng, đây là vị thầy trẻ, trí tuệ uyên thâm, đã tốt nghiệp cử nhân Phật Học.

(Ngồi sau nhà Tổ, Huệ Trân muốn chạy ra thưa thêm rằng, thầy còn là một “Ông Đồ” với những nét thư pháp như phượng múa rồng bay. Quý Phật tử đi dự Đại Lễ Phật Đản năm nay, sẽ được chứng kiến và có dịp “đặt hàng” với thầy.)

Thầy nhận định một điều, nghe qua, khá mới mẻ, nhưng ngẫm ra thì, giáo pháp Như Lai đồng một vị mà thôi. Thầy nói, trong tám vạn bốn ngàn pháp môn, hộ niệm cũng là một pháp tu chân chính. Vì sao? Vì khi đi hộ niệm, tâm ta đã sẵn sàng thành khẩn, trí ta đã sẵn sàng thanh khiết, tuệ ta đã sẵn sàng tỏ ngời, mới mong có thể đủ năng lượng từ bi, trí tuệ, chiêu cảm cùng Chư Phật mà chuyển đạt những lời cầu nguyện thành hiện thực. Pháp tu nào mà không cần những điều kiện tín, hạnh, nguyện như thế!

Thầy ví Từ Bi như đất. Đất ôm ấp, dưỡng nuôi mọi hạt mầm để đủ duyên sẽ nở hoa kết trái, làm đẹp cho đời.

Một đạo tràng trang nghiêm thanh tịnh cũng vậy, đó là không gian an lạc, trong lành để bồi dưỡng tín tâm cho những ai đang “đốt đuốc mà đi” trên đường Trung Đạo.

Trước khi chấm dứt thời pháp, thầy dựa theo bản nhạc “Đưa em vào hạ”, mà đổi thành “Đưa mẹ thăm chùa” để hát tặng đại chúng.

(Vẫn ngồi sau nhà Tổ, vừa làm việc, vừa nghe pháp, Huệ Trân thầm nghĩ, muốn theo cung cách thân mật, thoải mái này, chắc các sư huynh của mình cũng nên dợt vài bài tủ, để khi có dịp chia sẻ ở đâu thì cũng kết thúc bằng lời ca tiếng hát cho vui vẻ cả làng! Mới khởi nghĩ thế, đã liên tưởng ngay, huynh Thường Giới, có thể sẽ gật gù, mỉm cười, huynh Thường Tín sẽ chắp tay “A Di Đà Phật”, còn huynh Thường Chơn thì trăm phần trăm sẽ là “không dám đâu!”)

Buổi chiều cùng ngày là đề tài mà không một ai không mong đạt tới. Đó là đề tài “Giải thoát khổ đau” do ĐĐ Thích Hạnh Đức chia sẻ.

Đại Đức còn rất trẻ mà giảng về một đề tài cam go, nên trong tương phản, cái đẹp tất hiển lộ. Như hoa sen thơm ngát giữa ao bùn.

ĐĐ nhắc 8 chữ, mà có lẽ không Phật tử nào không từng biết. Đó là: khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo đế.

Trong tứ đế này, khổ đau chính là khổ đế, đứng đầu.

Mà khổ đau có thực là khổ đau? Nếu không quán chiếu kỹ, có khi, khổ đau của người này lại là hạnh phúc của người kia. Tỷ như, người mắc bệnh cùi, hơ thân vào lửa, rồi gãi, đó là hạnh phúc. Nhưng người không mắc bệnh này mà bắt hơ lửa, rồi gãi, có lẽ không gì khổ hơn!

Vậy, là người tu Đạo Trí Tuệ, Giác ngộ, phải nhận diện, đâu là hạnh phúc tạm bợ, sẽ dẫn tới khổ đau, thì điều đó, chắc chắn không phải là hạnh phúc.

Nếu ta thường xuyên quán xét về tích-lũy-nghiệp và tập-quán-nghiệp, ta sẽ có nhiều cơ may tạo thêm nghiệp lành và xả bớt những tập quán không tốt.

Thầy ân cần nhắc nhở các Phật tử đạo tràng Tịnh Độ, chùa Phật Tổ, là phải hành trì đủ Tín, Nguyện, Hành, thì Đức Phật A Di Đà mới tiếp độ được. “A” nghĩa là Vô, là Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Công Đức. Chúng ta niệm A Di Đà Phật là để thể nhập vào thế giới Vô Lượng của ngài; chớ như kẻ bơi ngoài biển khơi, tuy biết cách bơi mà không biết sẽ bơi về đâu thì cứ mãi lênh đênh sóng nước. Phải muốn vào đất liền, mới về đất liền, phải nguyện về cõi Phật, mới về với Phật.

Sáng Chủ Nhật 1 tháng 4, 2012, sau thời khóa tu Tịnh Nghiệp thường xuyên của đạo tràng, là thời pháp cuối cùng của phái đoàn hoằng pháp Châu Âu, dành cho chùa Phật Tổ. Thời pháp cuối này, do chính Hòa Thượng trưởng phái đoàn chia sẻ. Ngài là bậc trí tuệ, thông thạo nhiều ngoại ngữ nên việc hoằng pháp năm châu bốn biển đều hạnh thông, dễ dàng.

Hòa Thượng bảo, tưởng không có chỗ đậu xe, vì trong ngoài đều chật kín. HT cảm thấy rất ấm lòng, là Phật pháp nơi đây đang hưng thịnh.

Thời pháp hôm nay, HT sẽ nói về thân trung ấm và việc đi đầu thai.

Là con Phật, chúng ta đều tin ở nhân quả. Những gì ta gieo đời này, khi ra đi, tự động nương theo nghiệp đó, không ai hứng chịu thế cho ai được. Mọi hành động, mọi ý nghĩ nào khởi lên, đều là những chủng tử gieo vào tâm thức, chờ đủ duyên sẽ nảy hạt, đâm chồi. Chúng không tự biến đi, nhưng chúng có thể bị chuyển hóa. Thí dụ, mười hạt bắp và một hạt lúa cùng gieo xuống vuông đất nhỏ, những hạt bắp kia sẽ lấn hạt lúa. Hai mươi hạt bắp cùng xuống đất với một hạt lúa thì cơ may cho hạt lúa nảy mầm lại ít hơn.

Suy như thế, nếu ta thường xuyên quan tâm, tạo thêm thiện nghiệp, xả bớt ác nghiệp thì giây phút ra đi, thân trung ấm sẽ theo hướng thiện mà đầu thai vào chốn lành. Ngược lại, khi ấy, nếu tâm thức ta ác nhiều, thiện ít, tất, ta sẽ theo hướng ác mà đi!

Là con Phật, chúng ta được Đức Phật xác quyết “Là Phật sẽ thành”, nhưng chớ quên, thành ở đây, không phải đương nhiên thành, mà thành hay bại còn do chúng ta biết phản quang tự kỷ, chuyên tâm tinh tấn tu hành để đạt tới hạnh phúc rốt ráo là ra khỏi sanh tử luân hồi.

Hòa Thương cô đọng thời pháp qua lời dặn:

-Kinh A Di Đà thuộc về Hóa Sanh. Quý Phật tử nơi đây tu Tịnh Độ, chỉ cần nhớ kinh A Di Đà bằng 2 chữ Hóa Sanh, sẽ được Phật A Di Đà hóa sanh, cho về nước Ngài. Bổ túc thêm Kinh Vô Lượng Thọ, chỉ cần nhớ 3 chữ: Bổn Nguyện Lực.

Hiểu tường tận 5 chữ đó, là đường đi sẽ tới.

Được biết, năm nay là năm cuối, phái đoàn đến Hoa Kỳ hoằng pháp. Những năm tới, đoàn hành giả Trưởng Tử Như Lai vẫn kiên cường, dõng mãnh cất bước, nhưng sẽ là những Châu khác, hướng khác. Đó là Âu Châu rồi Úc Châu, nơi bao người con Phật khát pháp đang mong chờ.

Dẫu biết thế, chúng con vẫn không khỏi bùi ngùi, luyến tiếc lúc chia tay.

Ngưỡng nguyện hồng ân Chư Phật mười phương luôn gia hộ quý ngài được pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, cho đàn hậu học chúng con có nơi nương tựa.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha tát

Huệ Trân
Biển dài, 4/4/2012

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Người ta hay ca ngợi tình yêu tuổi già như thể đó là đích đến viên mãn của mọi cuộc tình - hai người nắm tay nhau nhìn hoàng hôn, bình yên như trong tranh. Nhưng thực tế thì không phải cặp nào cũng may mắn như vậy. Có những cặp già đi cùng nhau không phải trong hạnh phúc mà trong đau khổ. Họ không chia tay vì già rồi, ly hôn tốn kém và xấu hổ. Họ không yêu nhau nhưng cũng không rời nhau. Họ sống chung một mái nhà như hai kẻ thù bị giam trong cùng một căn phòng, chờ xem ai chết trước để người còn lại được giải thoát. Đó là thứ bi kịch mà không ai muốn nhắc đến, nhưng nó tồn tại, âm thầm và đau đớn, trong biết bao gia đình.
Trong cái lạnh cắt da cắt thịt của cơn bão tuyết mùa Đông ở Minnesota, hai mạng người đã bị tước đoạt chóng vánh dưới tay các đặc vụ biên phòng (CBP) và Cảnh Sát Di Trú (ICE), những cơ quan thuộc Bộ Nội An (DHS.) Một lần nữa, chúng ta lại vật lộn với những câu hỏi cũ rích: Từ khi nào mà huy hiệu cảnh sát lại trở thành giấy phép để hành quyết và đồng thời là “kim bài miễn tử”?
Thảo Trường kể chuyện rất tỉnh. Ông không cần tố cáo, không cần gào thét. Chỉ tả: ban ngày, những đứa lớn chơi trò “cai tù” — đứa bắt, đứa bị bắt; quát tháo, tra hỏi, úp mặt vào tường. Tất cả đều học từ người lớn quanh mình. Những đứa còn nhỏ, chưa biết đi, ngồi nhìn. Có bà mẹ mang thai bị đánh đến sẩy thai, sinh con trong tù. Sinh xong, gửi con vào nhà trẻ để quay lại “lao động tốt”. Sáng, bọn nhỏ chạy theo cô giáo sang nhà trẻ để có ăn. Tối, chạy về khu B để kịp chỗ ngủ cạnh mẹ.
Thuế quan được áp dụng, rồi lại thu hồi; biện pháp quân sự được nêu ra như một chọn lựa, rồi bất chợt bị gạt sang một bên. Trong những tháng gần đây, kiểu hành vi thất thường, khó lường như vậy bỗng được nói tới nhiều trong các vòng bàn luận về đối ngoại, nhất là quanh Bạch Ốc, như thể đó là một thứ lợi khí chiến lược hơn là một nhược điểm của chính sách. Thật ra, chuyện ấy không mới. Những lời đe dọa ầm ỹ, những cú xoay trục bất ngờ trong chính sách, cùng lối phát biểu cố ý mập mờ từ lâu đã được dùng để làm đối phương mất thăng bằng, nhằm tìm thế thượng phong trên bàn cờ quốc tế. Trong ngôn ngữ quan hệ quốc tế, lối đó có tên hẳn hoi: “thuyết kẻ điên”.
Hôm qua, tại một tiệm làm tóc ở Chicago, một người đàn bà, còn mặc áo choàng giữa hai khách, dựng chiếc iPhone trước gương, quay một đoạn nói chuyện về ICE. Ba mươi giây. Đăng lên. Rồi nàng trở lại với công việc. Một giờ sau: không một người xem. Nàng xoá. Quay lại. Lần này dùng biểu tượng 🧊 thay cho chữ ICE, e rằng thuật toán để ý những từ “nhạy cảm”. Đăng lên. Đêm xuống, màn hình vẫn sáng trên tay. Vẫn là con số không. Sáng hôm sau, nàng quay ly cà phê latte. Đến trưa, đã ba nghìn lượt xem.
Sau 26 năm đàm phán, Liên minh châu Âu (EU) đã đạt được thỏa thuận ký kết Hiệp định Thương mại với khối MERCOSUR bao gồm Argentina, Brazil, Uruguay và Paraguay và sẽ hứa hẹn tạo ra những tác động sâu rộng về kinh tế, nông nghiệp, môi trường và địa chính trị cho cả hai bên...
Trong một đêm mùa Đông, an toàn trong căn phòng ấm, câu chuyện giữa những người sống đời di dân nhiều thập niên, dù cố gắng né tránh, rồi cũng trở về thực trạng nước Mỹ. Hành động của chính quyền liên bang buộc người Mỹ – đặc biệt là những ai đã từng nếm trải mùi vị của cuộc trốn chạy – phải tự hỏi mình: Chúng ta là ai khi bàn tay quyền lực siết chặt? Có phải chúng ta đang nhìn lịch sử độc tài tái diễn, trên một đất nước xa quê hương nửa vòng trái đất?
Sáng nay, mở trang mạng Việt Báo ra, tôi đi thẳng xuống những đề mục “comment” dưới các bài thời cuộc – cái phần mà lẽ ra chỉ để “tham khảo ý kiến độc giả”, vậy mà đọc vào thành cả một bữa no nê. Người ta không nói chuyện với nhau nữa, người ta ném vào nhau từng tràng chữ thô lỗ, cay nghiệt. Mỗi phe đều tin mình đang bảo vệ “sự thật”, nhưng nhìn kỹ thì cái sứt mẻ trước tiên chính là… văn hóa chữ nghĩa, rồi tới tự trọng.
Trong nhiều năm qua, diện mạo chính trị Trung Hoa dần khép lại dưới chiếc bóng ngày càng đậm của Tập Cận Bình. Chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” được mở rộng không ngừng, và đến năm 2025, cơ quan kiểm tra kỷ luật trung ương cho biết đã xử lý gần một triệu đảng viên, phản ánh một bộ máy thanh trừng vừa mang danh chống tham nhũng vừa củng cố uy quyền của người cầm đầu.
Trên đỉnh Davos năm nay, giữa tuyết trắng, cà phê nóng và những lời kêu gọi “đa phương, bền vững, trách nhiệm” - xuất hiện giữa quần hùng là một giọng nói “ngoại môn” chẳng xa lạ gì với chính trường: Donald Trump. Ông lên núi Thụy Sĩ không phải để trồng cây, bàn cứu khí hậu, hay nói chuyện hòa giải, mà để nói với thế giới một câu thẳng thừng: Greenland là “CỦA TÔI”. Bài diễn văn của tổng thống Hoa Kỳ mở đầu bằng một màn “điểm danh công trạng” đúng kiểu độc thoại: chỉ trong một năm trở lại Nhà Trắng, ông tuyên bố đã tạo nên “cuộc chuyển mình kinh tế nhanh và ngoạn mục nhất trong lịch sử nước Mỹ”, đánh bại lạm phát, bịt kín biên giới và chuẩn bị cho đà tăng trưởng “vượt mọi kỷ lục cũ” của nước Mỹ, hay “của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.