Hôm nay,  

Dân Chủ Suy Trầm

26/01/201200:00:00(Xem: 11059)
Dân Chủ Suy Trầm

Nguyễn Xuân Nghĩa & Vũ Hoàng RFA

...‘suy trầm kinh tế lại có thể gây ra suy trầm dân chủ’...

Mở đầu năm mới, Diễn đàn Kinh tế không nói về nguy cơ suy trầm kinh tế có thể xảy ra năm nay mà tổng kết về nạn suy trầm dân chủ đã lên tới cao điểm vào năm ngoái. Lý do là mối quan hệ gắn bó giữa dân chủ chính trị và phát triển kinh tế có thể khiến cho sự thoái trào của dân chủ lại gây thêm vấn đề về kinh tế. Chúng ta tìm hiểu về khúc mắc này trong phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa của đài Á châu Tự do.
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình phát thanh của đầu năm Nhâm Thìn. Thưa ông, cách đây đúng một năm, những biến động bất ngờ bùng nổ tại Tunisia rồi Egypt đã khiến dư luận thế giới đặt nhiều kỳ vọng về trào lưu dân chủ từ thế giới Á Rập Hồi giáo sẽ như hương hoa nhài lan rộng khắp nơi. Nhưng trên diễn đàn này và qua nhiều bài bình luận khác, có lẽ ông thuộc về một thiểu số bi quan về hy vọng dân chủ từ Mùa Xuân Á Rập.
- Mở đầu năm mới, và kiểm điểm tình hình năm qua người ta thấy là cùng với nạn đình đọng kinh tế toàn cầu, hình như lại có hiện tượng thoái trào dân chủ. Chúng tôi xin đề nghị là mình sẽ đề cập tới chuyện này và yêu cầu ông giải thích cho sự hoài nghi ấy của ông từ năm ngoái.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết, nhân dịp Tết Nguyên Đán, tôi xin được qua diễn đàn này dâng lời cảm tạ đến toàn thể quý thính giả gần xa đã theo dõi tiết mục khô khan của chúng ta, và cũng xin chân thành gửi lời chúc an lạc đến mọi người.
- Cách đây đúng 15 năm, khi đài Á châu Tự do phát thanh lần đầu vào dịp Tết Đinh Sửu, tôi được phụ trách tiết mục kinh tế của chúng ta với tôn chỉ là cung cấp thông tin và phân tích kinh tế mà người Việt ở nhà có thể thiếu, hầu thính giả tiếp nhận được cái nhìn toàn cảnh và nếu có thể thì lấy những quyết định kinh tế có lợi. Nội dung chương trình có thay đổi theo tình hình, nhất là với sự góp tiếng của các chuyên gia kinh tế trong nước - là điều không có mươi năm về trước - nhưng tôn chỉ đó vẫn hướng dẫn chúng ta khi thực hiện 780 chương trình hàng tuần.
- Trở lại câu hỏi, thưa ông, thì từ đầu bản thân tôi đã lý luận rằng cái bao tử không sai khiến cái đầu mà trái lại. Chính trị dân chủ trong xã hội cởi mở sẽ giúp kinh tế dễ phát triển, chứ một xứ độc tài mà có đà tăng trưởng kinh tế khả quan không nhất thiết đã tự chuyển hóa thành dân chủ. Dù thiển ý là vậy, diễn đàn này tránh xoay đề tài khách quan về chuyên môn thành kêu gọi dân chủ hoặc đả kích độc tài. Bây giờ có lẽ mình cần bổ túc định đề "cải cách kinh tế không tất yếu dẫn tới dân chủ chính trị" bằng một quy luật khác, đó là "suy trầm kinh tế lại có thể gây ra suy trầm dân chủ" như chúng đã thấy từ nhiều năm rồi, chứ chả riêng gì trong năm ngoái.
Vũ Hoàng: Có lẽ ông muốn nói rằng chuyển hóa kinh tế theo quy luật tự do không tất nhiên dẫn tới chuyển hóa chính trị qua hình thái dân chủ, mà suy trầm kinh tế lại có thể dẫn tới suy trầm dân chủ. Và khi mùa Xuân Á Rập chưa nở hoa dân chủ tại mọi nơi như người ta mong đợi vào đầu năm ngoái thì thế giới lại bị thoái trào dân chủ từ nhiều năm nay rồi. Tại sao vậy?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa rằng về hiện tượng thì ta xin tạm ghi rằng thế giới có ba loại quốc gia: một thiểu số có dân chủ, một đa số có chế độ chính trị tự do hơn mà chưa hẳn là dân chủ, còn lại là vài chục nước độc tài. Từ khi Liên bang Xô viết tan rã 20 năm trước, người ta tưởng là trào lưu dân chủ đã có trớn phát triển cùng với kinh tế tự do. Sau đó, trong 10 năm thì quả là nhiều nước đã chuyển sang chế độ dân chủ. Nhưng từ năm năm vừa qua, trào lưu dân chủ hóa lại bị khựng rồi thực tế thì thoái trào như nhiều trung tâm nghiên cứu về dân chủ đã công nhận.
- Ta có nhiều lý do giải thích sự kiện này. Thứ nhất, dân chủ không là thứ cỏ non dễ trồng dễ mọc mà phải vun xới mất nhiều năm, với ý chí và quyết tâm của cả quần chúng lẫn lãnh đạo. Thứ hai, khi kinh tế bị tổng suy trầm từ năm 2008, nhiều chế độ dân chủ ứng phó bằng cách mở rộng sự can thiệp của nhà nước mà không có kết quả. Vì vậy, các xứ khác càng dễ hiểu lầm rằng dân chủ thật ra chẳng có lợi và kinh tế thị trường mới là vấn đề. Khi đó, các xứ độc tài càng tin là chế độ toàn trị của họ có thể chủ động kiểm soát được kinh tế để đẩy lui suy trầm, nôm na là củng cố thêm chế độ tư bản nhà nước. Kết cuộc thì kinh tế chưa cải thiện mà dân chủ bị đẩy lui.
- Nhìn trong trường kỳ, ta còn thấy các chế độ dân chủ mới xuất hiện từ một chục năm qua đã quá lạc quan nghĩ là từ nay sẽ có thịnh vượng. Tới khi thấy kinh tế sa sút, họ đổ lỗi cho chế độ dân chủ và nhiều còn luyến tiếc sự ổn định hà khắc của ách độc tài ngày xưa. Nhân đây, tôi xin nhắc tới một báo cáo đáng chú ý từ nhóm nghiên cứu trong Phân khoa Xã hội học của Đại học Thanh Hoa tại Bắc Kinh dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Tôn Lập Bình và dự báo mà tuần trước ông có nhắc tới của ngân hàng Hong Kong & Shanghai Bank về kinh tế thế giới vào năm 2050.
Vũ Hoàng: Thưa ông, hai tài liệu đó nói gì và có giải đáp cho thắc mắc của chúng ta không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Giáo sư Xã hội học Tôn Lập Bình không là nhà đối lập chính kiến vì là giáo sư tiến sĩ từng hướng dẫn Phó Chủ tịch Tập Cận Bình tại Đại học Thanh Hoa đầy uy tín của Trung Quốc. Năm qua, ông chỉ đạo công trình nghiên cứu về "Thăng tiến Xã hội" và kết quả vừa công bố trên trang điện tử của Thanh niên Nhật báo và được các cơ quan truyền thông khác, kể cả Nhân dân Nhật báo, phổ biến hôm mùng chín vừa qua. Nhưng chỉ vài giờ sau thì báo cáo bị xóa và người ta chỉ đọc được tóm lược mà thôi. Bản tóm lược bằng Hoa ngữ cho ta thấy sự phê phán rất nặng của các nhà nghiên cứu trong nhóm đặc trách trong Phân khoa xã hội học.
- Họ cho là việc cải cách kinh tế nửa vời mà không có tự do dân chủ đang đẩy Trung Quốc vào cái gọi là "bẫy xập của việc chuyển hướng" hay "chuyển hình hãm tịnh". Lý do là một thiểu số có đặc lợi kinh tế nhờ đặc quyền chính trị đã cản trở và đẩy lui cải cách để duy trì và thậm chí định chế hóa tình trạng bất công có lợi cho họ.
- Chẳng những vậy, tệ nạn xã hội này còn khiến người ta đồng hóa việc cải tổ kinh tế với lãng phí, bất công và động loạn nên làm nhiều người e sợ cải cách, từ lãnh đạo ở trên đến quần chúng ở dưới. Công trình nghiên cứu nêu ra và phân tích năm triệu chứng của nạn xập bẫy mà người ta có thế thấy là chẳng khác gì chuyện Việt Nam. Và có lẽ vì đề nghị bốn loại cải tổ gọi là "không thể tránh được" nên bản báo cáo bị thủ tiêu luôn! Nhưng dù sao lãnh đạo Bắc Kinh cũng đã biết về những lượng định của nhóm nghiên cứu và các biện pháp đề nghị.

Vũ Hoàng: Xin ông trình bày cho thính giả của chúng ta bốn biện pháp tất yếu đó là những gì.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, hãy đi theo trào lưu của nhân loại, dựa trên các giá trị phổ cập của văn minh là tự do, là sự hợp lý về khoa học, là quyền sống của cá nhân, là kinh tế thị trường, là chính trị và pháp quyền dân chủ.
- Thứ hai là phải cải cách chính trị để hồi phục sinh lực của xã hội và thoát khỏi bẫy xập, như minh bạch hóa và nhận trách nhiệm về các quyết định, xây dựng động lực đối trọng và kiểm soát hệ thống chính trị.
- Thứ ba là phải để người dân tham gia tiến trình cải cách từ các định chế trên thượng tầng. Sự hưởng ứng đông đảo của lý tưởng xã hội là cần thiết, nếu những người có lý tưởng lại thất vọng và bị gạt ra ngoài thì các động lực tiêu cực sẽ bành trướng và làm ung thối việc cải cách. Thí dụ tiêu cực được họ nêu ra ở đây chính là việc cải cách doanh nghiệp nhà nước.
- Thứ tư là phải tìm sức mạnh cải cách trên cơ sở của công bằng và công lý là những giá trị đang bị triệt tiêu. Sự đồng thuận vì tinh thần công bằng và công lý có nghĩa là mục tiêu cốt tủy của cải cách trong tương lai - và cho tương lai - của Trung Quốc phải là dân chủ và pháp trị.
- Đáng chú ý là họ kêu gọi lãnh đạo phải dám thúc đẩy cải cách với tinh thần can đảm mò chân xuống nước mà tìm đường thoát khỏi bẫy xập. Đề nghị ấy chưa thấy xuất hiện tại Việt Nam!
Vũ Hoàng: Bây giờ, ta qua dự báo của Ngân hàng Hong Kong & Shanghai của Anh quốc. Họ dự đoán những gì mà ông cho là nên nhắc tới ở đây?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Kỳ trước ta thiếu thời giờ nên chưa có dịp nói về một dự phóng tôi trộm nghĩ là đầy mai mỉa cho Việt Nam, mà mua vui cũng được một vài trống canh vào buổi đầu năm.
- Trước hết, trên cơ sở của quy luật "động lực phát triển kinh tế của các nước tùy thuộc vào dân số, dân trí và dân chủ", nhóm nghiên cứu kinh tế toàn cầu của ngân hàng này ứng dụng mô thức của giáo sư kinh tế Robert Barro của Đại học Harvard và Standford, một người rất có ảnh hưởng trong giới nghiên cứu kinh tế. Rồi họ dùng các số liệu về kinh tế, y tế, xã hội và giáo dục của nhiều quốc gia để dự đoán là tính đến năm 2050 này, những nền kinh tế nào sẽ dẫn đầu thế giới.
- Trên đại thể, trong 40 năm nữa, 100 quốc gia có sức nặng kinh tế lớn nhất sẽ gồm có ba nhóm. Nhóm "tăng trưởng mạnh" có 26 nước với tốc độ bình quân là trên 5%. Đa số là các nền kinh tế đang phát triển nhưng sẽ vọt lên rất mạnh, trong đó có Trung Quốc sẽ đứng đầu thế giới và Việt Nam sẽ nhảy vọt 11 bậc để đứng hạng 41. Nhóm "tăng trưởng bình hoà" với tốc độ từ ba đến 5% gồm có 43 nước. Nhóm "tăng trưởng ổn định" gồm 31 quốc gia, đa số là các nước công nghiệp hoá Tây phương và cả các nền kinh tế rồng cọp Đông Á mà ta gọi là "tân hưng".
Vũ Hoàng: Nhưng vì sao ông nói nội dung dự báo là mỉa mai và có lẽ chỉ đáng mua vui thôi?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việc dự báo vài chục năm tới là điều khó, nhất là từ nền tảng bất trắc của bốn năm qua. Năm 1900, chẳng ai dự báo là các nước Âu Châu đang mở mang buôn bán với nhau lại lâm chiến và gây ra Thế chiến vào năm 1914! Gần đây hơn, đầu năm 1997, hai tổ chức tài chính quốc tế là Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế còn ngợi ca tám nền kinh tế rồng cọp Đông Á mà ngờ đâu khủng hoảng tài chính tại Thái Lan đầu Tháng Bảy năm đó đã gây khủng hoảng kinh tế Đông Á rồi lan ra toàn cầu từ năm 97 đến 99.
- Thứ hai, quả thật thì một động lực của phát triển là dân số, tức là số người tham gia lao động. Đó là về lượng, chứ về phẩm thì người ta phải gia trọng hay gia giảm với các yếu tố khác, như dân trí, giáo dục và đào tạo hoặc "phẩm chất của tư bản" theo cách gọi của giáo sư Barro. Đa số các xứ công nghiệp hoá ở tại Âu Châu đều bị nạn lão hóa dân số vì sinh đẻ ít hơn, tỷ lệ cao niên nhiều hơn và vì vậy có đà tăng trưởng thấp hơn. Tuy nhiên hiện tượng lão hóa cũng đã xuất hiện tại Trung Quốc với nhiều ảnh hưởng bất lợi về kinh tế và xã hội, chưa nói gì đến cái bẫy xập của cải cách và nguy cơ động loạn mà chúng ta vừa nhắc tới.
Vũ Hoàng: Và thưa ông dự báo này nói gì về trường hợp Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Dự báo này cập nhật và điều chỉnh một công trình nghiên cứu từ năm 2010 và dựa trên dữ kiện kinh tế của những năm 2007 về trước, tức là trước khi có tổng suy trầm toàn cầu và trên cao điểm của hiện tượng lạc quan tếu của Việt Nam vào năm 2007 sau khi xứ này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Giả thiết khởi đầu của dự báo đặt cơ sở trên các thống kê của Việt Nam trước khi bị hai đợt lạm phát vào năm 2008 và 2011 rồi khủng hoảng vì chế độ quản lý vĩ mô bất cập với các biện pháp thái quá.
- Thứ hai, và nhìn trong dài hạn, dân số rất trẻ của Việt Nam quả là một ưu điểm. Nhưng nếu chỉ máy móc dựa trên tuổi thọ và số năm đi học của nam giới mà suy diễn về trình độ dân trí thì có lẽ phiến diện và lạc quan. Người ta quên mất lời cảnh báo của giới trí thức Việt Nam về nạn khủng hoảng giáo dục và đào tạo hiện nay. Thật ra năng suất không cải tiến của một dân số rất trẻ sẽ giới hạn mức phát triển trong dài hạn mà còn là vấn đề ngay trong trung hạn.
- Sau cùng, dự báo của tập đoàn HSBC có thể đánh giá sai tiêu chuẩn về dân chủ khi bỏ qua nạn tụt hậu về nhân quyền của Việt Nam trong mấy năm qua. Như diễn đàn này trình bày năm ngoái nhân chuyện Egypt, biện pháp cải cách nửa vời về kinh tế mà không cải cách về chính trị càng dễ đưa tới động loạn vì hiện tượng gọi là "nghịch lý của cải cách".
Vũ Hoàng: Chúng ta bị kẹt vào cái đồng hồ nên phải chấm dứt chương trình tại đây, xin đề nghị ông nêu ra một kết luận cho buổi đầu năm này.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng dự báo của ngân hàng HSBC thật ra có ích vì cho thấy tiềm năng dài hạn của Việt Nam, nhưng cũng là lời cảnh báo về yêu cầu cải cách để vươn lên trình độ ấy. Nếu không, xứ này cũng lại rơi vào bẫy xập của cải cách như nhiều người Trung Hoa đã nhìn ra cho thế giới của họ. Nếu có đảm lược và sáng suốt đi trước trong việc cải tổ chính trị thì Việt Nam có thể tránh được vết xe đổ của nhiều xứ khác và có lẽ đấy là lời tâm nguyện Nhâm Thìn của chúng ta.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa và kính chúc ông cùng gia quyến một năm mới an vui và đạt mọi ước nguyện.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.