Hôm nay,  

Những ‘Đáng Lẽ’ Sau ‘Vụ 9-11’

12/09/201100:00:00(Xem: 8816)
Những ‘Đáng Lẽ’ Sau ‘Vụ 9-11’

Nguyễn Xuân Nghĩa

Mười năm sau, nghĩ lại về hậu quả của vụ khủng bố....

Từng người trong chúng ta có thể gặp một biến cố khiến mình vừa đau buồn, giận dữ lại vừa hãnh diện, để từ đó có phản ứng về cách ứng xử hay sinh sống. Trong hoàn cảnh bất thường ấy, có lẽ mình khó rút tỉa được kinh nghiệm xử thế - nên hay không - cho chính xác và đúng đắn.
Ai ai cũng có thể nghĩ rằng "đáng lẽ" mình nên làm như thế này hay thế khác trước đó thì có khi đã tránh được biến cố này. Rồi sau đấy thì suy ngẫm thêm, rằng sau biến cố bất ngờ này đáng lý mình nên làm thế này hay thế kia... Trong cảnh ngộ cá nhân đó, chúng ta đã có một "phương trình xử thế" phức tạp vì có nhiều kích thước khác nhau. Gần như một phương trình đại số bậc năm... bậc sáu. Khó có lời giải thỏa đáng, thậm chí không giải được!
Nếu một quốc gia lại gặp biến cố như vậy, ta có loại "phương trình bậc ngàn"!
Khi quốc gia ấy có 300 triệu dân, là một siêu cường có ảnh hưởng toàn cầu mà kinh nghiệm lịch sử lại rất mỏng - chỉ có hơn 200 năm hiện hữu – ta có một "ma trận toán học". Hoặc "mô hình cả triệu phương trình", chữ của Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Mỹ Alain Greenspan. Một loại... nan đề triết học.
Vì luận thế nào thì cũng có một vài phần đúng – và nhiều phần sai!
Từ 10 năm nay, người ta - tại Hoa Kỳ và thế giới – đã nói ngàn lần về vụ khủng bố ngày 11 Tháng Chín 2001, gọi tắt là "Vụ 9/11". Năm nay cũng không khác, mà còn phải nói nhiều hơn vì gặp một "kỷ niệm chẵn" về tâm lý, là thời khoảng 10 năm.
Càng nên ngẫm nghĩ vì nhân dịp này đã có tin đồn "chưa chắc chắn nhưng đáng quan tâm" rằng thủ phạm - nhóm khủng bố al-Qaeda - chuẩn bị một vụ tấn công để khác làm kỷ niệm! Ít ai tin rằng al-Qaeda còn có khả năng đó: một xe gài chất nổ - vehicule-born improvised explosive device VBIE - tại nơi đông người, hoặc một tên sát thủ bắn loạn trước khi tự sát là cùng. Sau vụ 9-11, từ 10 năm nay, lãnh thổ Hoa Kỳ bị khủng bố đe dọa 46 lần mà thoát được. Nhưng nếu nước Mỹ lại hụt tay trong lần thứ 47 thì người ta nghĩ sao" Người ta sẽ nêu lên một chuỗi "đáng lý ra" khác!
Đáng lý đáng lẽ là những giả thuyết bất tận! Đó là khuôn khổ tâm lý và lý luận cho bài viết này.
***
Sau một thảm kịch, ai cũng có thể trở thành người sáng suốt và thông thái hơn khi luận rằng "đáng lẽ mình đã có thể tránh được" nếu biết ứng xử thế này thế kia trước đó.
Hoa Kỳ đã biết về sự hiện hữu của lực lượng al-Qaeda từ lâu: Trung tâm Thương mại Thế giới World Trade Center bị al-Qaeda tấn công năm 1993, gây hố sâu năm thước ở dưới hầm;Tổng thống Bill Clinton bị mưu sát hụt năm 1996; hai sứ quán Mỹ tại Kenya và Tanzania bị đánh bom năm 1998 khiến 300 người chết; chiến hạm USS Cole bị tấn công tại Yemen khiến 17 thủy thủ Mỹ thiệt mạng vào Tháng 10 năm 2000....
Như vậy, đáng lẽ tình báo Hoa Kỳ đã phải tinh vi bén nhạy - và có khả năng tưởng tượng cao hơn để dự đoán một đòn tấn công khác.
Hoặc đáng lẽ nước Mỹ không nên xem khủng bố là một vấn đề hình sự của luật pháp - của cơ quan FBI, toà án và luật sư trong khuôn khổ pháp quyền nhà nước – mà nghĩ rộng ra về một hình thái chiến tranh mới, trong đó, Hiến ước Genève về quy tắc ứng xử trong chiến tranh không thể áp dụng được. Vì đối thủ không là một quốc gia, có một quân đội mặc đồng phục, bị chi phối bởi luật lệ quốc tế, v.v....
Sau khi thảm kịch xảy ra, các chính khách Mỹ mới suy ngược về những giả thuyết hồi hiệu ấy để nêu ra những "đáng lẽ" và còn đả kích nhau vì mục tiêu tranh cử. Chuyện ấy càng gây nhiễu âm và hỏa mù khiến người ta khó thấy ra cái lẽ đúng sai.
Thí dụ điển hình là vụ Iraq.
Từ cuối thập niên 1990, Hoa Kỳ cùng hầu hết cơ quan tình báo của các cường quốc lẫn Nguyên tử lực cuộc IAEA của Liên hiệp quốc đều tin rằng chế độ Saddam Hussein – đang bị Liên hiệp quốc kết án và ra lệnh "cấm bay" – có kế hoạch chế tạo võ khí tàn sát hàng loạt. Kể cả võ khí hóa học hoặc nguyên tử.... Khi Mỹ khai mở chiến dịch Iraq năm 2003, cựu Tổng thống Bill Clinton còn úy lạo và cảnh báo chiến binh Mỹ về nguy cơ võ khí hoá học.
Sau này người ta mới biết rằng thông tin tình báo ấy của Mỹ, Anh, Pháp, Nga, v.v... đều sai bét.
Nhưng qua năm 2004, nhiều người trong đảng Dân Chủ bắt đầu đảo ngược chính lập trường và lá phiếu ủng hộ của họ từ 1998 đến 2003 mà đả kích Chính quyền George W. Bush là gian dối. Bỉ ổi nhất trong trò chính trị này là thái độ của Đại sứ Joseph Wilson và bà vợ Valerie Plame, nhân viên cao cấp của CIA – không là một điệp viên đang bí mật phục vụ tại ngoại quốc. Vụ Thứ trưởng Ngoại giao Richard Armitage tiết lộ danh tính của Valerie Plame – mà không thú nhận và để người khác lãnh trách nhiệm – đã gây khủng hoảng chính trị và pháp lý cho Chính quyền Bush.
Đó là một nhiễu âm chính trị từ một vụ khủng bố mà Hoa Kỳ là nạn nhân.
Sau này, nhiều người cứ tiếp tục loan truyền lý luận rằng Chính quyền Bush có gian ý gây chiến, có khi là vì dầu khí! Người ta quên thảm kịch 9-11 mà chơi trò bẩn trong chính trường – ngay giữa thời chiến. Nhưng chuyện ấy chưa bi hài bằng một thuyết âm mưu khác, rằng chính là CIA - hay dân Do Thái - đã gây ra vụ khủng bố để có lý cớ thi hành ý đồ đen tối! Xin miễn bàn về các trường hợp ấy.
Và thu gọn vào hoàn cảnh tâm lý của những người trong cuộc: lãnh đạo Hoa Kỳ. Phản ứng của một cá nhân chỉ là loại "phương trình bậc hai". Của những người cầm đầu nước Mỹ thì có ảnh hưởng lũy thừa, gấp bội. Phương trình bậc ngàn!
***
Trong hồi ký của Bush – "Decision Points" xuất bản năm ngoái – và của Phó Tổng thống Dick Cheney ("In My Time" vừa xuất hiện tháng trước) chúng ta có thể đọc thấy vài ba chi tiết bất ngờ:
Phản ứng tâm lý của Tổng thống Bush trong những ngày giờ sau vụ 9-11 là giận dữ - outrage – và ấm ức – frustrated.
Ông giận dữ vì nước Mỹ bị tấn công một cách hèn hạ, ấm ức vì bị nhân viên bảo vệ trong cơ quan Bảo vệ Yếu nhân gọi là Secret Service áp dụng bài bản, là bảo vệ Tổng thống đến cùng, khiến ông không thể từ Florida trở về Thủ đô ngay sau đó như ông yêu cầu và đòi hỏi. Sau này, nhiều người thiếu am hiểu thì châm biếm tổng thống Mỹ là hốt hoảng, sợ hãi đến nỗi không tìm ra bãi đáp. Đúng mà sai!
Thủ đô khi ấy bị đe dọa với nhiều tin tức chưa thể kiểm chứng. Ai dám lấy trách nhiệm vào lúc hoài nghi và hốt hoảng đó"
Ông Bush còn ấm ức vì trên chuyến bay lòng vòng của phi cơ Air Force One – văn phòng di động của Tổng thống - việc liên lạc điện tử tốt mật với Trung tâm Hành quân Khẩn cấp của Tổng thống (Presidential Emergency Operations Center - PEOC) và Ngũ giác đài bị gián đoạn nhiều lần. Khi hữu sự mà siêu kỹ thuật Mỹ lại tệ đến như vậy sao"
Mà làm sao Bush liên lạc với Bộ Quốc phòng khi Ngũ giác đài vừa sạt mất một góc" Tổng trưởng Donald Rumsfeld thì rời văn phòng xuống cấp cứu nhân viên! Rất đáng kính, rất con người, mà đúng hay sai thì ai dám nói"
Khi ấy, ông Bush còn được biết là ngoài phi vụ AA 11 và UA 175 đã đâm vào hai tòa tháp của WTC và phi vụ AA 77 đâm vào Ngũ giác đài, còn có phi vụ UA 93 đã lao xuống đất, gần thị xã Shanksville của Pennsylvania, thay vì bay vào toà nhà Quốc hội hay Phủ Tổng thống. Nhờ hành khách anh hùng của chuyến bay UA 93 biết ra nội vụ nên họ tự hy sinh. Một số người nhào lên đánh nhau với quân khủng bố làm máy bay nổ dưới đất, ở nơi khác để cứu người khác tại thủ đô.
Chuyến bay AA 77 đâm vào Bộ Quốc phòng có một hành khách khả ái, luật gia và nhà bình luận Barbara Olson của các đài Fox News và CNN. Bà là phu nhân của Theodore Olson, luật sư chính thức của Chính quyền Hoa Kỳ trước Tối cao Pháp viện, và là bạn của ông Bush. Bà Olson liên lạc được với chồng cho đến lúc cuối, trước giây phút tử nạn... Trong giây phút căng thẳng ấy, ông Bush đã hỏi thăm và an ủi Ted Olson về bi kịch này.
Những chi tiết ấy khiến Tổng thống Mỹ nghĩ đến nước Mỹ anh hùng, các nạn nhân vô tội, và đến trách nhiệm trước mắt của người lãnh đạo.
Phần mình, Phó Tổng thống Cheney cũng được bảo vệ nhưng vẫn hội họp với các giới chức hữu trách ngay trong Trung tâm PEOC dưới hầm kín của Tòa Bạch Cung, khi Tổng thống chưa về - và chưa thể nào hai người có mặt cùng một nơi. Vào ngày 13, ông Cheney còn được tin rằng Thủ đô có thể sẽ bị tấn công nữa!

Đã thế, ngày 18, hai người lãnh đạo được mật báo rằng cơ thể của họ có thể đã bị nhiễm chất độc hóa học là botulinum - đừng quên là trước đó có xảy ra nhiều vụ mưu sát chết người bằng bom thư, bên trong có độc chất anthrax.
Họ cũng có tin là quân khủng bố đã đưa vào lãnh thổ Mỹ một ngòi nổ hạch tâm đánh cắp từ Liên bang Nga hay Liên Xô cũ, chế ráp dưới cái dạng một cặp cầm tay. Loại võ khí bẩn ấy mà được kích hoạt thì cả trăm ngàn người thiệt mạng, tại New York hay Washington, hay một nơi nào khác mà chưa ai biết....
Phản ứng "công" và "thủ", truy tìm để tiêu diệt thủ phạm hầu không cho tái diễn một vụ tàn sát là điều ta nên hiểu. Trong hoàn cảnh đó, sự an toàn bản thân, dù là bản thân của những người có trách nhiệm cao nhất nước, chỉ là chuyện tương đối. An ninh của nước Mỹ mới đáng kể.
Chúng ta dần dần mường tượng ra tâm cảnh của lãnh đạo Mỹ vào thời điểm bất thường: cầm đầu một siêu cường độc bá mà bị tấn công bất ngờ vào những trung tâm đầu não kinh tế, quân sự, chính trị của quốc gia. Rồi ấm ức hậm hực vì bộ máy an ninh và quân sự lúng túng, chưa biết sự tình thế nào, làm sao bảo vệ, chẳng biết trả đòn vào đâu....
Sau đó, đến lượt phản ứng người dân. Mà phản ứng của người dân trong một nước dân chủ phải là mệnh lệnh cho lãnh đạo.
***
Khi họ ấm ức và quyết liệt ra tay thì thế giới sẽ chấn động.
Hoa Kỳ lao vào thế giới Hồi giáo như một người điên, tại hai nơi hung hiểm nhất là A Phú Hãn và Iraq, để tiêu diệt đầu não al-Qaeda, giải trừ mọi nguy cơ khủng bố khác và chứng minh rằng nước Mỹ không bị khuất phục. Không thể bị khủng bố làm tê liệt phản ứng hoặc xoay chuyển chánh sách khiến các chế độ Hồi giáo khác sẽ sụp đổ hầu al-Qaeda có thể lập ra một Vương quốc Hồi giáo thống nhất, và Osama bin Laden lãnh đạo thế giới Hồi giáo bằng Giáo luật Sharia....
Sau này, là bây giờ, ta có thể nghĩ rằng việc "lao vào" như vậy là thái độ của kẻ thiếu bình tĩnh.
Song song, cũng chính ông Bush đã có lời hiệu triệu rất Mỹ: kêu gọi dân chúng tiếp túc mua sắm ngay trong thời chiến. Lý do tâm lý: khẳng định quyết tâm không để kẻ thù làm mình phải thay đổi nếp sống. Lý do kinh tế là Hoa Kỳ đang bị suy trầm và cần... kích cầu, kích thích tiêu thụ để duy trì sản xuất!
Từ một vụ khủng bố dù ghê khiếp dữ dội, nước Mỹ đã phản ứng quá đà, bất cân xứng. Rất dễ kết luận như vậy khi mình đã có thời gian và kinh nghiệm. Chứ đúng sai thế nào thì còn là điều tranh luận.
Khi ấy có lẽ ta nên lùi lại một chút để suy ngẫm thêm.
Ngày bảy Tháng 12 năm 1941, Trân Châu Cảng bị Nhật tấn công - bất ngờ là một cách nói - khiến hôm sau Hoa Kỳ chính thức tham chiến với sự cho phép và hậu thuẫn của Quốc hội. Nhưng khi ra quân thì trước tiên... tấn công nước Đức! Phản ứng quá đà" Sau đấy, lịch sử mới có thể suy ngược lên một chủ trương có vẻ hợp lý: nhân chuyện chiến tranh mà gây phân hoá và thất quân bình tại mọi nơi hầu chi phối tất cả các cường quốc khác. Đúng hay sai"
Cũng thế, ngày bốn Tháng 10 năm 1957, Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik lên không gian. Dân Mỹ hốt hoảng y như ngày nay có người hốt hoảng về sự lớn mạnh của Trung Quốc. Dù rằng khi đó kỹ thuật không gian, hóa học và cả chế tạo hỏa tiễn của Mỹ đã vượt xa Liên Xô - chưa nói đến sức mạnh kinh tế.
Kết cuộc là nước Mỹ chứ không phải Liên Xô mới là quốc gia đưa người lên Nguyệt cầu! Và những phát minh cho khoa học không gian đã mở ra nhiều chân trời khác cho xã hội Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ đã thất bại tại Việt Nam từ lãnh vực đầu tiên là quân sự. Rất khó tin mà có lẽ chẳng sai nếu ta nhớ đến ngần ấy phi vụ oanh tạc miền Bắc hoặc cây cầu Hàm Rồng bị chiếu cố bao lần!
Tốn kém rất nhiều mà kết quả chẳng bao nhiêu. Chính là thất bại quân sự trước tiên này – chưa nói đến lầm lẫn về chiến lược - khiến yếu tố chính trị mới quyết định về kết quả nhục nhã cho nước Mỹ. Nhưng thất bại ấy cũng khiến bộ máy chiến tranh Mỹ nghiên cứu lại về kỹ thuật chiến tranh của mình. Từ đó, các hỏa tiễn lẫn "bom khôn", với sức công phá cao hơn và chính xác hơn, đã ra đời. Và góp phần quyết định cho trận Bão Sa Mạc tại Iraq vào năm 1991.
Chiến dịch ấy cũng thay đổi luôn kỹ thuật và tổ chức chiến tranh của nước Mỹ. Và dẫn đến nhiều thay đổi khác về đối sách của Hoa Kỳ.
Nghĩ lại, ta chỉ thấy ra một phần, khá trễ, nhiều hậu quả của loại "hiệu ứng" Trân Châu Cảng, Sputnik hay Hàm Rồng – nói vậy cho tiện – cho hệ thống quân sự, an ninh và đối ngoại Hoa Kỳ. Cũng thế, từ sự hậm hực của lãnh đạo Hoa Kỳ về liên lạc điện tử tối mật, về tình báo mơ hồ trong những giây phút sau vụ 9-11 khủng khiếp - kể cả việc cơ thể tổng thống có khi đã nhiễm độc! - ta nên đoán ra nhiều chuyện khủng khiếp hơn về khoa học chiến tranh, về chiến pháp hoặc cả ngoại giao của nước Mỹ.
Dường như sau mỗi lần hốt hoảng và có những phản ứng có vẻ vô lý hoặc quá đà, Hoa Kỳ lại tiến thêm một bước rồi hợp lý hóa từng quyết định, trong khi làm cả thế giới mất thăng bằng.
***
Sau cùng, nếu thu gọn vào một mục tiêu để phân định thắng bại là "không để xảy ra một vụ 9-11 nữa", ai cũng có thể kết luận là Mỹ đã thành công - trừ nhà chức trách có tinh thần trách nhiệm và các chính khách biết rào trước đón sau!
Hãy so sánh với các xã hội Âu Châu sau này vẫn bị khủng bố loại "Thánh Chiến nội hóa" tấn công thì biết. Trong xã hội Hoa Kỳ, người Mỹ gốc Hồi giáo được hội nhập, tự do và không bị kỳ thị, khác hẳn dân Hồi giáo gốc Bắc Phi, Trung Đông hay Nam Á tại các nước Tây Âu.
Vài ba vụ ra tay lẻ tẻ của cá nhân quá khích vẫn có thể xảy ra, như vụ một Thiếu tá gốc Hồi giáo đã bắn loạn trong trại Fort Hood ở Texas năm 2009 khiến 13 người chết. Loại thảm họa tương tự đã từng xảy ra với đám "dân quân" cực hữu rất khật khùng của xã hội Mỹ, như vụ đánh bom cao ốc của chính quyền tại Okholahoma City năm 1995. Nhưng không thể có kích thước gây chấn động như vụ 9-11.
Với tám chín ngàn phi cơ hàng không hay cả vạn chuyến tầu hàng và xe lửa di chuyển mỗi ngày, trên một lãnh thổ có chu vi 15 ngàn cây số thì không ai có thể khẳng định rằng Hoa Kỳ an toàn 100%. Nhưng với chế độ kiểm soát gay gắt của một hệ thống độc tài, Liên bang Nga không thể ngừa nổi nạn khủng bố Hồi giáo trong khi nước Mỹ vẫn phải bảo vệ cả sự an ninh lẫn quyền tự do của người dân - mà đã tránh được một vụ tàn sát.
Cho nên, bảo rằng nước Mỹ thành công là không sai.
Còn lại, ta thấy ra một nghịch lý khác: các nước có dân Hồi giáo cư ngụ đều bị khủng bố Hồi giáo đe dọa. Thậm chí gặp vấn đề Hồi giáo đòi ly khai, như Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ và rất nhiều nước khác - trừ nước Mỹ.
Nhưng, Hoa Kỳ gặp vấn đề Hồi giáo ở nước khác! Chỉ vì vị trí siêu cường của mình.
Khi ấy, câu hỏi nên nêu ra là "Có phải vì Hoa Kỳ hung hăng hay vì chính đạo Hồi ở tại Bắc Phi, Trung Đông và Nam Á""
Người dân theo đạo Hồi giáo được Hoa Kỳ tôn trọng ở bên trong, lại còn được Mỹ bênh vực và bảo vệ - như tại Bosnia năm 1995, Kuweit năm 1991, Kosovo năm 1999, A Phú Hãn năm 2001 và Iraq năm 2003. Trong khi đó, các nước Hồi giáo và lãnh đạo của họ làm gì" Hay là chỉ ức hiếp người dân của họ, rồi đả kích Mỹ như tại Iran, Syria, Libya. Hoặc trông cậy vào Hoa Kỳ như tại Ai Cập, Saudi Arabia, Yemen, Jordan, v.v...."
Câu hỏi ấy khiến ta nhớ đến các pho tượng Phật tại khu vực Banyan của A Phú Hãn đã bị chế độ Taliban cho nổ tung vào Tháng Ba năm 2001, sáu tháng trước vụ 9-11. Trong ngần ấy quốc gia Hồi giáo, có mấy ai lên tiếng phản đối và nhìn ra dấu hiệu của tội ác trong vụ 9-11 "
Chúng ta đang ra khỏi chuyện 9-11 mà nói về nhiều bài học chưa thấm ngay trong thế giới Hồi giáo về vụ khủng bố 9-11! Một chuyện "đáng lẽ" khác....
Sau cùng, hãy ngẫm lại về chuyện Việt Nam:
Khi Trung Quốc bất ngờ xua quân tấn công miền Bắc vào năm 1979, để "cho Việt Nam một bài học", lãnh đạo Hà Nội làm gì"
Họ tạm lánh nạn vào đâu, sau đó bàn tính ra sao, rút tỉa kết luận thế nào về mục tiêu, chiến lược hay đối sách"... Một câu hỏi rất tầm thường khác là đã có bao nhiêu người Việt hy sinh trong cuộc chiến ngắn ngủi mà dữ dội đó" Người dân không hề biết và chẳng được quyền biết, chưa nói gì đến cái quyền có phản ứng để bảo vệ tổ quốc!
Tại Hoa Kỳ, Quốc hội và các cơ quan hữu trách mở cuộc điều tra và công khai hóa nhiều chi tiết về vụ 9-11. Rồi từng người trong cuộc viết sách kể lại nội vụ, với kho dữ kiện còn nguyên đó cho dư luận kiểm chứng và phê phán.
Chuyện ấy có là một "đáng lẽ" đáng cho ta suy ngẫm chăng"

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.