Hôm nay,  

Đọc Báo Y Khoa: Ung thư bao tử, Viêm Gan C

23/04/201100:00:00(Xem: 11566)

Đọc Báo Y Khoa: Ung thư bao tử, Viêm Gan C

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô

Ung Thư bao tử. Biểu hiện LAT1 và ung thư bao tử. Bs Masaaki Ichinoe và các cộng sự viên cho biết biểu hiện LAT 1 (L-type amino-acid transporter 1 (LAT 1) ung thư bao tử đăng trong báo điện tử Pathology International ngày March 17, 2011. Theo các tác giả thì biểu hiện amino acid LAT 1 lên cao hơn trong trường hợp bệnh nhân ung thư bao tử có di căn lan tơí hạch bạch huyết so với trường hợp bệnh nhân ung thư bao tử chưa lan tơí hạch bạch huyết. Tiên liệu bệnh nhân ung thư bao tử với biểu hiện LAT 1 lên cao có thể xấu hơn trong trường hợp ung thư bao tử chưa biệt hoá (undifferentiated), ngoại trừ trường hợp ung thư bao tử loại chai (scirrhous). Theo các tác giả thì LAT 1 có thể liên hệ tế bào ung thư bao tử nảy nở, giúp tiên lượng ung thư bao tử. Tăng cao biểu hiện LAT 1 cũng tìm thấy nơi ung thư ống thực quản Barrett's (adenocarcinoma) (Neoplasia, 6: 74, 2004).

Chất lượng soi bao tử có thể tốt hơn tùy thuộc vào những cuộc sửa soạn trước khi soi bao tử. Bs Dominuque Pateron và các cộng sự viên đã phổ biến ý kiến này đăng trong điện báo Annals of Emergency Medicine, ngày 18 tháng 2, 2011. Theo các tác giả thì trong trường hợp bệnh nhân bị chảy máu bao tử cấp tính, nếu chuyền thuốc trụ sinh Erythromycin vào bệnh nhân bị chảy máu bao tử cấp tính, qua gân máu (intravenous), thì việc nội soi bao tử sẽ khả quan hơn, tránh được cách phải dùng ống luồn qua mũi vào bao tử (nasogastric tube) và rửa bao tử.

Theo bác sĩ Nicholas Carbonell và các đồng nghiệp đăng trong báo American Journal of Gastroenterology, 101: 1211, 2006, thì bệnh nhân bị chảy máu bao tử cấp tính có những máu cục trong bao tử sẽ gây khó khăn trong việc nội soi bao tử cấp cứu. Theo các bác sĩ này thì chuyền thuốc trụ sinh Erythromycin qua gân máu bệnh nhân sẽ giúp việc rửa bao tử và như vậy phẩm chất nội soi bao tử cho bệnh nhân chảy máu bao tử cấp tính sẽ khá hơn. Mặc dù lợi ích lâm sàng có thể bị giới hạn.

Theo Bs Jean Louis Frossard và các đồng nghiệp thì Erythromycin là chất kháng Motilin, giúp cho bao tử dễ trống rỗng (gastric emptying). Truyền Erythromycin qua gân máu cho bệnh nhân trước khi nội soi bao tử giúp cho thơì gian nội soi ngắn hơn và dễ dàng hơn, đôi khi giúp khỏi phải soi lại bao tử thêm (Gastroenterology, 123: 17, 2002). Motilin là một kích thích tố, polypeptide, chứa 22 amino acids. Motylin tiết ra từ tế bào nội tiết (M cells) trong ruột non đặc biệt ở tá tràng (duodenum) và không tràng (jejunum).

Viêm gan C kinh niên. Trị bệnh viêm gan C kinh niên vơí thuốc Pegylated interferon alfa-2B và Ribavirin cho bệnh nhân lớn tuổi. Bs Tsugiko Oze và các đồng nghiệp tường trình trong báo Journal of Hepatology, 54: 604, 2011, tường trình kết quả nghiên cứu bệnh nhân lớn tuổi dưới 65 bị viêm gan C kinh niên, genotype1, hay bệnh nhân lớn tuổi, dưới 70, bị viêm gan C kinh niên, genotype 2, khi dùng 2 thuốc tổng hợp Pegylated interferon (Peg-IFN) alfa-2B và Ribavirin. Đồng thơì cũng tường trình những công phạt dùng 2 thuốc kể trên. Theo các tác giả thì bệnh nhân tuổi trên 70 (khoảng 36%) phải ngưng thuốc Peg-IFN và thuốc Ribavirin, phần lớn vì lý do công phạt của thuốc gây thiếu máu. Bệnh nhân viêm gan C kinh niên, genotype 1, cho tới 65 tuổi, và bệnh nhân viêm gan C kinh niên, genotype 2, cho tơí 70 tuổi, có thể dùng tổng hợp Peg-IFN và Ribavirin. Cần đọc thêm những chi tiết trong bài để tìm hiểu những hướng dẫn khi dùng thuốc Peg-IFN và Ribavirin cho bệnh nhân lớn tuổi viêm gan C kinh niên, genotype 1.

Tăng tỉ lệ chai gan và ung thư gan bệnh nhân viêm gan C kinh niên, trong 10 năm qua. Bs Fasiha Kanwal và các đồng nghiệp và các đồng nghiệp vừa phổ biến những kết quả nghiên cứu, trong thơì gian 10 năm từ 1996 tới 2006, đăng trong báo Gastroenterology,140: 1182, 2011. Theo các tác giả thì trong 10 năm nghiên cứu: Tỉ lệ chai gan đã tăng từ 9% lên 18.5%, tỉ lệ gan mất bù (decompensated) trong 10 năm tăng từ 5% tơí 11%, và tỉ lệ ung thư gan tăng từ 0.07% tơí 1.3%. Theo lời khuyên của các tác giả thì các bác sĩ nên vạch ra những phương thức hữu hiệu, hợp thời, để điều trị những bệnh nhân viêm gan C kinh niên có nguy cơ (ung thư gan, chai gan) cao này.

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô, Xin mời ghé thăm Y Dược Ngày Nay, www.yduocngaynay.com, Một Trang Web Y Khoa của người Việt viết cho người Việt.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
Hội chứng người cứng đơ (Stiff Person Syndrome – SPS) là một căn bịnh có thể gây co thắt dữ dội và làm suy nhược các cơ, nhưng hầu hết mọi người đều không biết gì về nó mãi cho đến cuối năm ngoái, khi nữ danh ca Celine Dion công bố tình trạng bịnh của mình. Chứng rối loạn thần kinh và tự miễn dịch hiếm gặp này được cho là chỉ ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 người trong một triệu người – và hai phần ba trong số những người bị là phụ nữ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.