Sau khi tốt nghiệp trung học tại Koenigsberg vào năm 1924, Arendt bắt đầu học thần học với Rudolf Bultmann tại Đại học Marburg. Tại Đại học này, bà đã gặp gỡ Heidegger, lúc này là một vị giáo sư triết trẻ, nổi tiếng với tác phẩm Hữu Thể và Thời Gian (1927) gây chấn động trong giới trí thức cũng như sinh viên, mở ra trào lưu Triết học Hiện sinh. Như trên đã nói, bà đã nghe tiếng Heidegger từ khi còn ở Berlin. Cuộc gặp gỡ chỉ hoàn tất vai trò định mệnh. Bởi vì, nếu thế kỷ 20 là đỉnh cao của Cái Ác, nó còn là đỉnh cao của Tình Yêu, với những biểu tượng cụ thể như cuộc tình Kafka-Milena (Milena sau chết trong trại tập trung), Sartre-de Beauvoir, và Heidegger-Arendt. Đây không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa một đôi trai gái, mà còn là cuộc gặp gỡ của tư tưởng đối nghịch, của bóng đen và ánh sáng... Một cách nào đó, chúng ta hiểu được số phận của chúng ta, và có thể, số phận của thế kỷ, qua những cuộc tình đó. Nên nhớ Heidegger là người Đức, và là một triết gia đã từng ủng hộ Quốc Xã; còn Arendt, một cô gái ngay từ nhỏ đã cảm nhận được thân phận ăn nhờ ở đậu của người Do Thái, trong một xã hội Đức. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa hai người tại Đại Học Marburg chấm dứt, sau khi Arendt nghe theo lời khuyên của ông thầy, dời tới Đại Học Heidelberg thụ giáo Karl Jaspers.
Vào tháng Chín 1929, Arendt kết hôn với Gunther Stern, viết văn dưới bút hiệu Gunther Anders. Cùng năm, bà hoàn tất luận án ý tưởng tình yêu trong tư tưởng của St. Augustine. Nhưng làn sóng bài Do Thái trở nên nặng nề khiến bà không còn quan tâm đến siêu hình học, và quyết tâm đối diện với vấn đề những người Đức gốc Do Thái. Từ đó, là tác phẩm "Rahel Varnhagen: Cuộc đời cô gái Đức gốc Do Thái vào thời kỳ chủ nghĩa lãng mạn". Đây là tiểu sử Rahel Varnhagen, một cô gái Do Thái, nữ chủ nhân một "phòng trà văn học" tại Berlin, nơi gặp gỡ của những tinh hoa của xã hội Đức, vào đầu thập niên 1980. Arendt cố tìm hiểu làm sao nhân vật này lại cải qua đạo Cơ đốc (Christianity), và qua đó, là những mâu thuẫn giữa "thân phận nhược tiểu" của người Do Thái, và chủ nghĩa quốc gia Đức. Arendt khi đó 24 tuổi, sau cuộc tình ngắn ngủi với ông thầy đã có vợ, bà khởi viết cuốn tiểu sử Rahel Varnhagen (1771-1833), nhưng phải đợi tới năm 1958 nó mới được xuất bản. Với Rahel Varngahen, từ bỏ đạo gốc, cải qua Cơ đốc, thay tên đổi họ, chỉ có mỗi cách đó để được coi là người Đức, "kể từ đó", nhưng vẫn luôn luôn là Do Thái đối với những người khác; đây là tuyệt lộ nói lên tính giả đạo đức của một xã hội khi nó giả đò đối xử với những người Do Thái hội nhập: như thể họ không còn là Do Thái. Số mệnh của Rahel Varngahen là một thí dụ điển hình của về nỗi đau hội nhập, của một thiểu số, vào quê hương thứ nhì: vấn đề với Arendt, qua cuốn tiểu sử trên, không phải là, bằng cách nào những người Do Thái được chấp nhận bước vào bên trong một phòng trà văn học gồm toàn những tinh hoa của xã hội Đức, cái quốc gia đã cưu mang họ, mà là: bằng cách nào người Do Thái được chấp nhận, như là những cư dân của trái đất.
(còn tiếp)
Jennifer Tran



