Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Vì Sao Thất Nghiệp Cao?

31/07/201000:00:00(Xem: 8637)

Vì Sao Thất Nghiệp Cao"

Nguyễn Xuân Nghĩa

...y tế, gia cư làm chậm nhịp tuyển dụng khi kinh tế đã đụng đáy từ một năm trước...
 
Nạn thất nghiệp quá cao đang ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ. Nhưng vì sao lại quá cao như vậy" Bỉnh bút Nguyễn Xuân Nghĩa, một chuyên gia kinh tế, đề nghị một số lý giải trong bài phân tách sau đây...  
Khi còn tranh cử tổng thống, Nghị sĩ Barack Obama đã hứa hẹn tạo thêm hai triệu rưởi việc làm trong vòng hai năm nếu ông đắc cử. Sau khi đắc cử ông nâng mức hứa hẹn lên ba triệu việc làm, rồi ba triệu rưởi. Thậm chí bốn triệu nếu kế hoạch kích thích kinh tế của ông sớm được Quốc hội phê chuẩn.
Kế hoạch kích thích trị giá 787 tỷ đô la đã được phê chuẩn - và cuối cùng lên đến 865 tỷ - mà thất nghiệp không giảm, vẫn tăng và mấp mé từ 9,5 đến 10% lực lượng lao động. Nếu so sánh với chỉ tiêu đã được Tổng thống đề ra thì coi như hụt mất bảy triệu rưởi việc làm! Không chỉ có dân thất nghiệp mà chính ông Obama cũng phải thất vọng về khả năng dự báo của ông...
Nhìn cách khác, kinh tế Mỹ bị suy trầm từ tháng 12 năm 2007 và coi như "đụng đáy" vào Tháng Sáu năm ngoái trước khi hồi phục rất chậm và đầy bất trắc trong suốt năm qua - và còn có thể đụng đáy lần nữa, là lại suy trầm từ cuối năm nay. Trong giai đoạn ấy, thất nghiệp tăng vọt từ 4,9% vào cuối năm 2007 lên tới hơn 10% vào cuối năm ngoái và giảm rất chậm. Nạn thất nghiệp tất nhiên ảnh hưởng đến cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào ngày hai Tháng 11 tới đây.
Nhưng vì sao Hoa Kỳ bị thất nghiệp cao và dù kinh tế có hồi phục, mức thất nghiệp vẫn chưa giảm" Chúng ta cần phân tách nguyên nhân xa gần để thấy ra sự ngoa ngụy của các chính trị gia.
***
Hãy nhớ lại chuyện xa xưa mà nói lại cũng không thừa.
Vào thời lập quốc hơn 200 năm trước, đại đa số lực lượng lao động Hoa Kỳ đều làm việc trong khu vực canh nông để kiếm cho đủ ăn. Thế rồi với tiến bộ khoa học kỹ thuật, giới lao động trong các ngành nông, lâm, ngư và súc sản nay chỉ còn khoảng 0,5% lực lượng lao động: phân nửa một phần trăm thôi. Khi ấy, nông gia không mất việc mà tiến vào khu vực chế biến nhờ Cách mạng Kỹ nghệ. Bây giờ, khoa học kỹ thuật tiếp tục cải tiến nên cùng một yêu cầu sản xuất người ta cần ít lao động hơn, tức là năng suất có tăng. Mà các xứ khác trên thế giới cũng đã công nghiệp hóa nên có thể nhận lãnh công việc chế biến ấy với giá rẻ hơn. Kết quả tổng hợp là hiện tượng toàn cầu hoá giúp doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào những nơi có mức lương rẻ hơn, nên thành phần lao động trong khu vực chế biến tại Hoa Kỳ mới giảm dần. Nhưng, giới lao động trong khu vực ấy không chạy theo công việc làm ra ngoài, hoặc ngồi ở nhà để chịu thất nghiệp. Họ tìm việc làm trong khu vực dịch vụ, ngày nay đã chiếm tới gần 80% của nền kinh tế. Cho nên thay đổi về cơ cấu sản xuất dẫn tới sự chuyển dịch lao động từ canh nông qua công nghiệp rồi dịch vụ.
Khi phàn nàn về sự sa sút của khu vực chế biến, các chính trị gia đã không hiểu gì và còn lừa mị người dân bằng cách kết án giới đầu tư đã "xuất cảng việc làm" khiến dân Mỹ thất nghiệp. Cũng hàm hồ như lý luận kinh tế của Karl Marx.
Bây giờ đến chuyện gần.
Từ gần hai chục năm nay, cuộc Cách mạng Tín học lại một lần nữa đảo lộn cơ cấu sản xuất và tác động mạnh vào các ngành nghề trong khu vực dịch vụ, vốn đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao hơn. Khi kinh tế bị suy trầm, như trong các năm 90-91 rồi 2001 và 2008-2009, doanh nghiệp phải thải bớt người, chủ yếu trong khu vực dịch vụ. Nhân cơ hội đó, họ nâng cao năng suất và cải tổ luôn hệ thống sản xuất nhờ tiến trình tự động hoá với kỹ thuật điện toán và thông tin điện tử. Vì việc cải tổ ấy, khi kinh tế hồi phục, doanh nghiệp lại tuyển ít người hơn trước - gọi đó là "tăng năng suất" - nên ta mới gặp hiện tượng thất nghiệp cao khi kinh tế đã hồi phục (jobless recovery).
Hiện tượng này đã thấy rõ nhất sau vụ suy trầm 2001 và khi ấy đảng Dân chủ coi đó là tội của ông Bush!
Một nguyên nhân thứ ba nữa là tâm lý bất an.
Ta không quên là sau hơn sáu năm tăng trưởng liên tục và ngay giữa một chu kỳ suy trầm khởi sư từ cuối năm 2007, Hoa Kỳ lại bị một vụ khủng hoảng tài chính bùng nổ ngay giữa một năm có tổng tuyển cử. Khủng hoảng giữa suy trầm trong không khí tranh cử có góp phần gây thêm hốt hoảng vì những báo động liên tục và đầy bi quan của các chính trị gia nhằm hốt phiếu người nhẹ dạ. 
Tâm lý bất an dễ hiểu của thị trường, kể cả các doanh nghiệp và giới tiêu thụ, lại bị chìm trong một chuỗi dài các kế hoạch vừa kích thích kinh tế vừa cải tạo xã hội của Chính quyền mới đắc cử trong cả Hành pháp lẫn Lập pháp. Kết quả là nỗi ưu lo của mọi người về tương lai trước mặt, với nạn bội chi ngân sách quá cao, gánh nặng công trái cũng sẽ là kỷ lục trong suốt 10 năm tới và gánh nặng thuế khóa cũng sẽ tăng sau khi các biện pháp giảm thuế của ông Bush năm 2001 và 2003 sẽ mãn hạn.


Vì vậy, dòng tín dụng vẫn nghẹn, tư doanh chưa tuyển thêm người và còn lo rằng kinh tế hồi phục yếu ớt có thể lại bị suy trầm nữa, là chuyện có thể xảy ra với xác suất ngày một cao hơn. Hôm Thứ Tư 21 vừa rồi, Thống đốc hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ cũng phát biểu là đà hồi phục của kinh tế Mỹ gặp "bất trắc bất ngờ". Ngần ấy lý do khiến giới kinh tế dự đoán là phải mất nhiều năm nữa thì mức thất nghiệp mới trở lại tỷ lệ dưới 5% như đã thấy trước kỳ suy trầm vào cuối năm 2007.
Nghĩ lại thì sau bảy lần suy trầm trước đây, sau khi kinh tế hồi phục là năm đầu tiên là tạo thêm 2,3% công việc làm mới trong tư doanh và ngoài nông nghiệp (chế biến và dịch vụ). Lần này thì coi như là 0%. Vì sao các doanh nghiệp lại ngần ngại tuyển dụng như vậy"
Khi ấy, ta phải nhìn vào một số trở ngại chuyên môn rất phức tạp khác.
Ngoài tâm lý bất an trước và sau bầu cử và sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong dài hạn, ta còn thấy các lý do thuộc về cơ cấu thất nghiệp: 1) tỷ lệ mất việc tăng mạnh trong thành phần gọi là thất nghiệp thường trực - không chỉ bị sa thải rồi tái tuyển dụng nếu kinh tế phục hoạt; và 2) còn mạnh hơn nữa trong thành phần đã thất nghiệp từ hơn nửa năm (27 tuần). Thành phần thứ hai này hiện lên tới gần bảy triệu người, chiếm hơn 45% của lực lượng thất nghiệp. Nguyên nhân của tình trạng bất thường đó là chi phí bảo dưỡng y tế quá cao. Doanh nghiệp tuyển dụng phải thanh toán cả phúc lợi y tế lẫn bồi thường khi sa thải nên ngại thuê người vào chính ngạch mà tìm cách trả theo lương giờ và thuê người bán thời.
Ngoài chuyện phúc lợi y tế, trở ngại thứ hai là xã hội Hoa Kỳ thay đổi quá nhanh về kỹ thuật sản xuất nên doanh nghiệp thiếu người có khả năng thích hợp. Có muốn tuyển cũng tìm không ra. Cũng lạ!
Nhưng nếu có tìm cho ra người cũng chưa chắc đã tuyển được vì... khủng hoảng gia cư:
Ngày xưa, người Mỹ thường bán nhà đi qua nơi có việc làm và mua nhà mới ở gần hãng xưởng; ngày nay, việc dời đổi dễ dàng như vậy đã hết. Bán nhà cho ai và có bán được thì vay tiền cũng rất khó để mua nhà mới. Các chính khách ưa múa huê dạng về các vấn đề tăng chi hay giảm thuế để kích thích kinh tế và cấp cứu người mất nhà lẫn chấn chỉnh hệ thống tài chánh ngân hàng mà không nhìn ra mối liên hệ giữa an cư và lạc nghiệp. Dân Mỹ bị bó chân trong thất nghiệp dù biết rằng bên kia sông là ánh mặt trời - và công việc làm.
Chính là mối tương quan nhân quả giữa y tế, gia cư với thất nghiệp mới làm chậm nhịp tuyển dụng khi kinh tế đã đụng đáy từ một năm trước. Và sự lo ngại của doanh nghiệp và thị trường về hậu quả kinh tế của chánh cách cải tạo xã hội đang làm nốt phần vụ còn lại.
Kết luận thì Chính quyền Hoa Kỳ lặng lẽ làm một cuộc cách mạng được ém trong hàng loạt những đạo luật cải tổ chế độ bảo dưỡng y tế, cải tổ hệ thống tài chánh ngân hàng, gia tăng vai trò của nhà nước trong sinh hoạt kinh tế, tăng chi và tăng thuế, rồi cải cách giáo dục, môi sinh, năng lượng, v.v... Chưa ai tính ra những phí tổn vĩ đại của cuộc cách mạng, nhưng mọi người đều biết là mình sẽ phải trả và càng có tiền thì trả càng nhiều vì chủ trương xã hội của chính quyền.
Khi biết là sẽ còn mất tiền nữa và bị kiểm soát chặt chẽ hơn - dưới dạng này hay dạng khác - mọi người đều trì hoãn: hoãn đầu tư và tuyển người, hoãn cho vay hay mua nhà, hoãn chi tiêu... Tình trạng bất trắc chung do những quyết định chính trị cũng là yếu tố kéo dài nạn thất nghiệp cao.
***
Từ hai năm nay - trước và sau khi đắc cử - ban tham mưu kinh tế của ông Obama liên tục đoán nhầm. Nguyên nhân chính có thể là tâm lý bất an của thị trường, như vừa trình bày ở trên.
Khi ông Obama đắc cử, lực lượng lao động tại Mỹ có được 135 triệu việc làm, với tỷ lệ thất nghiệp là 7%. Khi ấy, Chính quyền của ông đặt ra chỉ tiêu là tạo thêm chừng ba triệu rưởi việc làm tính đến cuối năm nay, tức là nâng lực lượng lao động lên mức 138 triệu sáu, chủ yếu là trong lãnh vực tư doanh. Bây giờ, lực lượng lao động thực tế chỉ còn 131 triệu việc làm, hụt mất hơn bảy triệu rưởi, và tư doanh không thể tạo thêm việc làm như mong muốn. Đã thế, đà gia tăng dân số bình thường khiến hàng năm kinh tế phải tạo thêm chừng một triệu 300.000 công việc làm thì mới giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức cũ. Nói cho dễ nhớ thì trung bình phải hơn 10 vạn việc làm một tháng.
Nhìn vậy ta thấy ra mức độ nan giải của bài toán. Điều ấy cũng phần nào giải thích vì sao tỷ lệ ủng hộ Tổng thống Obama sa sút rất nhanh, từ hơn 70% nay chỉ còn gần 46% và tỷ lệ bất mãn của dân chúng về Quốc hội trong tay đảng Dân Chủ đã vượt 71%!
Khu cầu khách quan hiện nay là cần khai thông ách tắc hành chánh, chấm dứt đả kích doanh giới theo lý luận đấu tranh giai cấp để lấy lòng dân nghèo, tiết giảm công chi và đẩy lui mối lo thuế khoá nhằm khuyến khích đầu tư và sản xuất. Những biện pháp ấy mới trấn an thị trường và nâng đà tăng trưởng hầu sớm tạo thêm việc làm. Khi kinh tế đã hồi phục, thất nghiệp giảm, may ra người dân sẽ hết e ngại mà chấp nhận những chương trình "cải tạo xã hội" - theo kiểu Hà Nội - mà ông Obama muốn tiến hành.
Nếu không cấp bách giải quyết những ưu tiên đó, Obama sẽ thất bại trên cả hai mặt là kích thích sản xuất và cải tạo xã hội.
Và chính ông sẽ thất nghiệp.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Điều làm tôi khâm phục và ngưỡng mộ anh hơn hết là ý chí và niềm đam mê văn chương của anh rất mạnh mẽ. Stroke thì mặc stroke, anh ráng tự tập luyện bàn tay và trí óc bằng cách gõ những bài văn thơ trên phím chữ của máy vi tính thay vì những cách tập therapy thông thường mà các bác sĩ và y tá ở bệnh viện yêu cầu.
Nguyễn Công Trứ không chỉ là một con người có tài văn và võ mà ông còn là một người có tài kinh bang tế thế (trị nước cứu đời). Được vua cử làm Dinh điền sứ (1828), ông đã có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, di dân lập ấp, khai khẩn đất hoang, đắp đê lấn biển, lập lên hai huyện mới Tiền Hải (thuộc tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (thuộc tỉnh Ninh Bình).
Một số chuyên gia lập luận rằng chúng ta đang "hiện diện trong việc thành lập" một kiến trúc an ninh mới cho Ấn Độ -Thái Bình Dương, bằng cách dựa vào tên cuốn hồi ký của Dean Acheson, một trong những kiến trúc sư chiến lược của Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn vào những năm của thập niên 1940. Có lẽ chúng ta cũng như cả khối AUKUS và hội nghị thượng đỉnh của bộ Tứ (Quad) cũng đều không giúp chúng ta tiến rất xa trên con đường đó. Trong khi cả hai đều báo hiệu sự phản kháng ngày càng tăng đối với lập trường ngày càng quyết đoán của Bắc Kinh, nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong nỗ lực nhằm khai thông các tham vọng của Trung Quốc.
Thông tin chống đảng trên Không gian mạng (KGM) đang làm điên đầu Lãnh đạo Việt Nam. Tuy điều này không mới, nhưng thất bại chống “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong Quân đội, Công an và trong đảng của Lực lượng bảo vệ đảng mới là điều đáng bàn.
Có anh bạn đồng hương và đồng nghiệp trẻ, sau khi tình cờ biết rằng tôi là dân thuộc bộ lạc Tà Ru (tù ra) bèn nhỏ nhẹ khen: Không thấy ai đi “cải tạo” về mà vẫn lành mạnh, bình thường như chú! Chưa chắc đó đã là lời chân thật, và dù thật thì e cũng chỉ là câu khen trật (lất) thôi! Nói tình ngay, tôi không được “bình thường” hay “lành mạnh” gì lắm. Tôi ít khi đề cập đến những năm tháng lao tù của mình, giản dị chỉ vì nó rất ngắn ngủi và vô cùng nhạt nhẽo.
Trước hết nói về thị trường địa ốc ở Trung Quốc hiện chiến 25-30% GDP – so với 9% GDP ở Mỹ năm 2006 tức là vào lúc cao điểm trước cuộc khủng hoảng địa ốc 2007-08. Nhà đất chiếm 80% tài sản của dân Tàu (so với 40% ở Mỹ). Người Hoa không có nhiều cơ hội đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu như ở Hoa Kỳ nên để dành tiền mua nhà nhất là khi giá nhà tăng liên tục từ 30 năm nay (trừ những lúc giá cả khựng lại trong ngắn hạn như vào năm 2014.) Ngành địa ốc ở Trung Quốc nếu suy sụp trong một khoảng thời gian dài sẽ ảnh hưởng đến GDP, và trực tiếp tác động lên dân chúng vốn dựa vào giá nhà như khoảng đầu tư lớn nhất trong đời chuẩn bị cho cưới hỏi, hưu trí hay gia tài để lại con cháu. Cho nên Bắc Kinh vô cùng thận trọng quản lý khủng hoảng địa ốc để không nổ bùng trở thành bất mãn xã hội như trường ở Mỹ năm 2007 vốn dẫn đến Donald Trump và Bernie Sander năm 2016 và 2020. Khủng hoảng kinh tế nguy hiểm ở chỗ từ một đốm lửa nhỏ trong chớp mắt lây lan thành trận cháy rừng, lý do nơi tâm lý
Lời người dịch: Chủ nhật vừa qua, Chủ tịch Tập Cận Bình đã kêu gọi Đài Loan gia nhập Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, điều mà Tổng thống Thái Anh Văn đã bác bỏ rõ ràng. Vào tuần trước đó, Trung Quốc đã nhiều lần điều máy bay chiến đấu đến vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan. Hiện nay, Lầu Năm Góc đã thừa nhận rằng các giảng viên Mỹ đang bí mật huấn luyện cho quân đội Đài Loan.
Trước khi đội Việt Nam gặp đội Tàu China trong giải đấu chọn đội đại diện Châu Á dự World Cup Qatar 2022 ở bảng B ngày 7 tháng 10 năm 2021 thì báo chí quốc tế đưa ra nhiều nhận xét nhưng tổng quát là trình độ 2 đội coi như ngang ngửa nhau. Đội nào cũng có cơ hội thắng đội kia.Tuy vậy, cũng có vài ý kiến lo ngại rằng yếu tố chính trị sẽ xen vào chuyện thể thao- một trận đấu mang nhiều ý nghĩa danh dự của quốc gia.
Sau 2 năm vật lộn với dịch Covid-19, tình hình kinh tế Việt Nam đang đứng trước viễn ảnh u tối nhất kể từ khi Đổi mới 35 năm trước đây (1986). Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì: “Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,04%; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5,02%; khu vực dịch vụ giảm 9,28%.“
Ngược lại, những biến cố dồn dập đủ loại trong COVID-19 mở ra cuộc đấu tranh chính trị mới: đòi quyền được sống còn, có thuốc trị cho tất cả, đi lại an toàn, đó là một cái gì thiết thực trong đời sống hằng ngày và không còn chờ đợi được chính quyền ban phát ân huệ; nó khiến cho người dân có ý thức là trong các vấn đề nội chính, cải tổ chế độ là cần ưu tiên giải quyết. Người dân không còn muốn thấy vết nhơ của Đồng Tâm hay tiếp tục qùy lạy van xin, thì không còn cách nào khác hơn là phải có ý thức phản tỉnh để so sánh về các giá trị tự do cơ bản này và hành động trong gạn lọc. Tình hình chung trong việc chống dịch là bi quan và triển vọng phục hồi còn đấy bất trắc. Nhưng đó là một khởi đầu cho các nỗ lực kế tiếp. Trong lâu dài, dân chủ hoá là xu thế mà Việt Nam không thể tránh khỏi. Cải cách định chế chính trị và đào tạo cho con người để thích nghi không là một ý thức riêng cho những người quan tâm chính sự mà là của toàn dân muốn bảo vệ sức khoẻ, công ăn việc làm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.