Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Một Thế Giới Xúc Động

03/01/200700:00:00(Xem: 6632)

Một Thế Giới Xúc Động

Lời giới thiệu: Khi cuốn sách “The Clash of Civilizations” của Samuel Huntington ra đời cách đây hơn 10 năm, nhiều học giả cho rằng nhan đề cuốn sách nhắc nhớ lại sự khác biệt giữa hai nền văn minh đã sinh ra các cuộc thánh chiến kéo dài trong nhiều thế kỷ trong lịch sử, trong lúc thế giới đang đối đầu trước một sự căng thẳng mới giữa hai nền văn minh Thiên chúa giáo và Hồi giáo là một nhan đề thiếu tế nhị.

Nhưng nếu không có sự đụng chạm giữa các nền văn minh, thế giới chúng ta cũng đang đối đối đầu trước một sự đụng chạm khác. Học giả Dominique Moĩsi, một cố vấn thâm niên của Viện Nghiên cứu Bang giao Quốc tế Pháp đặt trụ sở tại Paris (Institut Francais des Relations Internationales – IFRI) cho rằng sự đụng chạm đó là sự xúc động. Và ông trình bày ý của ông trong một tiểu luận nhan đề “The Clash of Emotions” (Sự đụng chạm của xúc động) đăng trong tạp chí Foreign Affairs số tháng Giêng/Hai 2007 và tôi lược dịch các ý chính sau đây.

Học giả Dominique Moĩsi viết tiểu luận này trước khi chính phủ Iraq do những người Shiite cầm đầu treo cổ ông Saddam Hussein (sáng ngày Thứ Bảy 30/12/2006), 4 ngày sau khi một tòa án Iraq xử y án bản án tử hình do một tòa án dưới xử và tuyên án ngày 5/11/2006. Việc ông Saddam Hussein bị treo cổ một cách vội vàng chứng tỏ đó là một hành động do sự xúc động của những thế lực liên hệ.

Không ai chối cãi ông Saddam Hussein đáng tội chết nhưng theo thông lệ của thế giới văn minh án tử hình cần thời gian để duyệt xét trước khi hành hình. Hơn nữa bản  chất vụ án ông Saddam Hussein là một vụ án chính trị sự thi hành bản án cần phải thận trọng hơn có nghĩa là cần thời gian hơn. Giết ông Saddam Hussein ngay không làm cho thế giới ổn định hơn nếu không muốn nói làm cho cuộc nội chiến tại Iraq trở nên khốc liệt và tàn bạo hơn. Thêm nhiều người Iraq vô tội  sẽ chết. Và mối hận thù giữa Hoa Kỳ và Iraq trở nên khó hòa giải hơn. Và nếu ngoại giao sẽ là giải pháp cuối cùng của mọi tranh chấp, sự sống còn trong nhà tù của ông Saddam Hussein biết đâu cũng có thể giúp cho một giải pháp trong tương lai. Trong bối cảnh đó, việc treo cổ ông Saddam Hussein bốn ngày sau khi tòa chung quyết có thể làm thỏa  mãn sự xúc động của một số người nhưng hẳn không phải là một quyết định khôn ngoan, đóng góp cho sự ổn định của thế giới.

** Trần Bình Nam **

SỰ ĐỤNG CHẠM CỦA MỘT THẾ GIỚI ĐẦY XÚC ĐỘNG

Mùa hè năm 1993 ông Samuel Huntington cho xuất bản cuốn sách “clash of civilizations” chủ trương rằng những khác biệt về văn hóa, về quyền lợi quốc gia và triết  lý chính trị là những yếu tố chi phối mọi hoạt động chính trị trên thế giới. Những gì đã diễn ra trong 13 năm qua cho thấy ông Samuel Huntington nói không sai. Có một điều ông Huntington quên không nhắc tới  là thế giới cũng đang bị chi phối bởi “xúc động”. Sự xúc động diễn ra dưới nhiều hình thức: thế giới Tây phương “lo lắng” (cho an ninh đất nước *) thế giới A Rập và Hồi giáo cảm thấy “sĩ nhục” (vì bị Tây phương uy hiếp *) và Á châu thì xúc động bởi niềm “hy vọng” muốn vươn lên.

Tây phương, chính yếu là Hoa Kỳ và Âu châu giải quyết sự  lo lắng cho nền an ninh của đất nước mình một cách khác nhau. Trong khi thế giới Hồi giáo đoàn kết với nhau chung quanh những lực lượng quá khích để chống lại sự  uy hiếp bằng hận thù. Lợi dụng không khí tranh chấp giữa Tây phương và Hồi giáo, Á châu im lặng toan tính cho tương lai.

Tuy nhiên có hai vùng trên thế giới là Nga Sô và Nam Mỹ cả ba sự xúc động đều hiện diện và tác động lẫn nhau và cũng sẽ ảnh hưởng không ít đến tương lai của thế giới.

Hoa Kỳ và Âu châu lo gì"

Lo thế tương đối của nhau, lo cho tương lai, lo mất bản thể quốc gia trong một thế giới càng ngày càng phức tạp.

Âu châu có nhiều mối lo hơn Hoa Kỳ. Âu châu lo ngại bị thế giới nghèo xâm nhập, nhất là từ phía nam với dân số đông đảo. Hình ảnh những người Phi châu bị giết khi leo qua hàng rào giây thép gai bao bọc chung quanh khu riêng biệt của người Tây ban nha tại Morocco làm chúng ta nhớ lại hình ảnh cách đây không lâu khi dân Đông Đức bị bắn chết khi vượt bức tường Bá Linh để tìm tự do. Người Đông Đức bị giết vì chạy trốn sự áp bức, trong khi người Phi châu bị giết vì chạy trốn sự nghèo khó.

Dân Âu Châu lo ngại bị thành phần Hồi giáo quá khích phá hoại, và lo ngại đạo  Hồi giáo đông đảo sẽ tràn ngập Âu châu và biến lục địa này thành lục địa “Eurabia”. Sau cuộc khủng bố năm 2004 tại Madrid, cũng như năm 2005 tại Luân Đôn và những vụ khủng bố bị phát giác mùa hè năm 2006 vừa qua, người Âu châu chợt thấy mình đứng trước một thực tế là Âu châu chẳng những là đất bị khủng bố mà còn là căn cứ địa của những tổ chức khủng bố.

Sau cùng là mối lo ngại bị tụt hậu về kinh tế. Đối với dân Âu châu, toàn cầu hóa là nguyên nhân tạo ra bất ổn và mất công ăn việc làm. Dân Âu châu bị ám ảnh bởi nổi lo rằng Âu châu sẽ biến thành một tàng cổ viện – như thành phố Venice - , một nơi dành cho du khách và người nghỉ hưu chứ không còn là một trung tâm của uy quyền và tư tưởng của những thế kỷ trước.

Sau cùng, người dân Âu châu lo sợ những cường quốc bên ngoài lục địa như nước bạn Hoa Kỳ, hoặc một tổ chức không hình không bóng nhưng nhiều quyền lực như Hội đồng Âu châu (European Commission) uy hiếp.

Cái làm cho những mối lo riêng lẻ nói trên trở thành một mối lo to lớn là sự mất quyền kiểm soát đất đai, mất an ninh và đánh mất bản thể Âu châu, nói cách khác là lo không điều khiển nổi vận mệnh của mình. Đó là lý do tại sao năm 2005 người Pháp và người Hòa Lan đã bỏ phiếu chống Hiến pháp Âu châu. Và cũng là lý do tại sao nhiều quốc gia tại Âu châu đã bày tỏ tinh thần tự hào dân tộc một cách quá hăng say trong dịp tranh tài World Cup vừa qua.

Người Mỹ cũng có một cảm giác chơi vơi như sợ đánh mất sự kiểm soát chính mình như vậy, mặc dù tại Hoa Kỳ sự hội nhập của người Mễ ít có vấn đề như sự hội nhập của người Hồi giáo tại Âu châu. Nếu tại Hoa Kỳ nguời ta đã tranh cãi nhau có nên có một bài quốc ca Mỹ bằng tiếng Tây Ban nha (tức tiếng người Mễ dùng) thì nó cũng như sự cãi vã tại Âu châu về việc choàng khăn che đầu và che mặt của người theo đạo Hồi giáo.

Mức tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ cao hơn mức tăng trưởng các nước Âu châu nên Hoa Kỳ không lo ngại tình trạng kinh tế xuống dốc như người Âu châu, ngoại trừ  sự lo lắng công ăn việc làm của người Mỹ chạy ra nước ngoài - một hiện tượng gọi là outsourcing). Tuy nhiên người Mỹ lo về những hiện tượng suy thoái khác như chứng béo phì, ngân sách thâm thủng, và gần như không xác định nổi mục tiêu lâu dài của quốc gia.

Sự quá lo lắng về an ninh của Hoa Kỳ sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 (năm 2001) là chính đáng và hợp lý. Nhưng những hành động do sự quá lo lắng đó mà ra đã làm cho hình ảnh và ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên thế giới bị mất mát như thế nào" Vụ vi phạm nhân quyền do sự giam người tại Guantanamo và những khó khăn du khách gặp phải khi nhập cảnh Hoa Kỳ đã làm cho Hoa Kỳ mất cái giá trị cố hữu của nó là một quốc gia luôn mở rộng đôi cánh tay và có một giá trị luân lý đặc thù cao hơn các quốc gia khác.

Trong khi người Âu châu tìm cách tự bảo vệ bằng sự tránh né khó khăn và tương nhượng, người Mỹ tìm cách giải quyết tận gốc ở nước ngoài. Nhưng thực tế là ông Bush càng biện minh chính sách của ông để đáp ứng vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 bằng những lời lẽ lạc quan bao nhiêu thì Hoa Kỳ càng ít được lòng người trên thế giới hơn. Vụ đánh Iraq chẳng hạn đã tạo thêm nhiều vấn đề hơn là nó giải quyết. Iraq rơi vào nội chiến và quyền hành trong thế giới Hồi giáo lọt vào tay những thành phần qua khích thuộc khuynh hướng Shiite.

Còn sự xúc động của nguời Hồi giáo như thế nào"

Người Hồi giáo cảm thấy họ xuống dốc từ nhiều thế kỷ qua, trong khi người dân Âu châu cảm thấy sự xuống dốc sau khi chấm dứt cuộc Thế chiến I: Năm 1919 nhà thơ Pháp Paul Valéry viết: “Chúng ta biết nền văn minh của  chúng ta không phải là bất tử”. Khi Âu châu còn nằm trong thời Trung cổ (được ghi nhận từ 476 đến 1450 sau Thiên chuá giáng sinh *) thì nền văn minh của Hồi giáo đang hồi cực thịnh. Và khi Âu châu bước vào thời đại phát huy văn học và nghệ thuật (thế kỷ 14, 15 và 16 *) thì thế giới Hồi giáo bắt đầu đi xuống. Đế quốc Ottoman (tượng trưng cho văn minh Hồi giáo), bị hạm đội Thiên chúa giáo đánh bại tại Lepanto năm 1571, sau đó thất bại không chiếm được thành Vienna năm 1683 và cuối cùng biến mất trên diễn đàn thế giới sau cuộc Thế chiến thứ I.

Đối với người Hồi giáo sự hình thành nước Do thái ngay trên vùng đất của họ là chứng minh hùng hồn nhất sự thất bại của Hồi giáo. Đối với người Do Thái trái lại sự hình thành nước Israel là một điều hợp lý bởi nhiều lý do: trước hết là lời nguyền của tôn giáo, sự hứa hẹn lập quốc và là sự đền bù của thế giới đối với thảm họa Holocaust. Đối với người A Rập họ cho rằng sự lập quốc Do Thái là một hình thức thực dân của Tây phương vào thời đại chế độ thực dân đang tan rã. Người A Rập tin rằng tội diệt chủng của Tây phương đối với người Do Thái lại bắt họ phải trả.

Và cuộc tranh chấp dai dẵng không có lối thoát giữa Do Thái và các nước A Rập tại Trung đông đã biến cái cảm giác bị uy hiếp thành hận thù. Và qua thời gian, sự hận thù xuất phát do tranh chấp đất đai biến thành sự hận thù giữa hai tôn giáo: đạo Hồi và đạo  Do thái, nếu không muốn nói là hận thù giữa Hồi giáo và thế giới Tây phương.

Cuộc nội chiến tại Iraq và trận chiến cuối năm 2006 mới đây giữa Do Thái và nhóm  Herbollah tại Liban (được Iran và các nước đồng minh của Iraq yểm trợ và khai thác) làm cho khối người Hồi giáo thêm bất mãn. Trong một cuộc chiến mà nguyên nhân không gì khác hơn là cho rằng mình bị làm nhục và bị uy hiếp, những người Shiite quá khích trở nên người cầm cờ dẫn đấu chống lại sự uy hiếp và càng bị đánh, quyết tâm chiến đấu của họ càng mạnh thêm.

Sự toàn cầu hóa làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn. Dân chúng vùng Trung đông chứng kiến sự phồn thịnh của Tây phương và Đông Á do việc toàn cầu hóa trong khi họ bị bỏ lại đàng sau.

Cái cảm giác bị uy hiếp không những chỉ có tại Trung đông mà còn hiện diện trong các cộng đồng người Hồi giáo tại các nước Tây phương. Vụ thanh thiếu niên gốc Hồi giáo đốt xe, phá rối trị an tại Pháp mùa thu năm 2005 có nguồn gốc kinh tế và xã hội, biểu lộ sự bất mãn của một lớp người thiể`u số trong một nước nói là đối đãi bình đẳng với mọi sắc dân nhưng thực tế ngược lại.

Sự khác biệt giữa Tây phương và thế giới Hồi giáo còn do cái nhìn khác nhau về  thế giới do lịch sử để lại. Trong khi các nước Âu châu càng lúc càng xa rời tôn giáo, người Hồi giáo càng lúc càng sùng đạo như một cứu cánh của cuộc đời, không khác gì người Âu châu đã vì tôn giáo mà gây ra bao cuộc chiến tranh trong thế kỷ 16 và thế kỷ 17. Tại Hoa Kỳ cũng có hiện tượng đó nhưng nhẹ nhàng hơn, vì chính yếu Hoa Kỳ vẫn còn là một quốc gia sùng đạo và hiện tượng trở về với đạo lại được khơi dậy mới đây (tác giả ám chỉ cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ năm 2004 *). Tóm lại nhóm quá khích trong Hồi giáo hành động do sự thúc đẩy bởi hai mối hận: thứ nhất là nhóm thiểu số Shiite chống lại nhóm đa số Sunni và giữa Hồi giáo và Tây phương.

Trong khi thế giới Tây phương và Trung đông đánh nhau thì Á châu cảm nhận một niềm hy vọng mới. Cuộc triển lãm mang tên “Ba vị hoàng đế Trung quốc từ 1662 đến 1795” năm 2005 và 2006 tại Hàn Lâm Viên nghệ thuật hoàng gia Anh tại Luân Đôn đã phản ánh suy nghĩ mới của người Trung hoa. Thông điệp của Bắc Kinh qua cuộc triển lãm là: “Trung quốc đang trở lại chính trường quốc tế”. Đến xem triển lãm ai cũng phải chú ý đến một bức tranh đồ sộ vẽ từ thế kỷ thứ 18 ghi lại hình ảnh các sứ giả Tây phương đang đến chào mừng hoàng đế nước Tàu. Sau hai thế kỷ suy thoái, Trung quốc đang dần khôi phục uy thế quốc tế của mình. Chính sách của Trung quốc đặt trọng tâm vào phát triển kinh tế và tránh đụng chạm với các thế lực lớn trên thế giới  là một chính sách khôn ngoan làm cho Trung quốc vừa có lợi vật chất vừa tạo thêm uy ín.

Trong khi đó Ấn Độ độc lập và cũng trở thành một sức mạnh đáng nể trên thế giới. Ấn Độ hợp tác ngoại giao với Hoa Kỳ, buôn bán với Âu châu, và giới chất xám của  Ấn Độ chứng tỏ tự tin và lạc quan hơn giới chất xám của Trung quốc. Ấn Độ là một quốc gia dân chủ lớn nhất thế giới và dân số sắp vượt qua Trung quốc sẽ là một quốc gia có tiềm năng vô giới hạn.

Lẽ dĩ nhiên có nhiều bất trắc trước mắt đối với Á châu như học giả Cassandras tiên đoán rằng những khó khăn về chiến lược, kinh tế, xã hội có thể làm cho niềm hy vọng vươn lên của Á châu không trở thành sự thật. Các nước Á châu chưa thực hiện được sự hòa giải giữa các quốc gia do lịch sử để lại như Âu châu. Trung quốc và Nam Hàn vẫn còn tố cáo những hành vi thái quá của quân đội Nhật Bản trong chiến tranh (giống như tình trạng hiềm khích giữa các nước tại Âu châu vào thập niên 1950).  Bắc Hàn đang là một quốc gia bất trị nguy hiểm. Và một cuộc chạy đua vũ trang nguyên tử là mối đe dọa thường trực cho an ninh của Á châu.

Tại Trung quốc sự mâu thuẫn giữa sự phát triển kinh tế và thể chế chính trị độc đảng (và không có dấu hiệu nào những người lãnh đạo Trung quốc muốn thay đổi) sẽ làm cản đường cho một sự phát triển hài hòa của Trung quốc. Tuy vậy, cho đến giờ phút này các nhà lãnh đạo Trung quốc và quần chúng hình như vẫn lạc quan cho rằng không có vấn đề gì trầm trọng trước mắt chừng nào kinh tế vẫn phát triển.

Vậy phải làm gì trước một thế giới đầy xúc động" Trước hết Tây phương cần nhìn nhận rằng cái cảm nhận bị khinh khi của thế giới Hồi giáo là một mối đe dọa cho Hoa Kỳ và Âu Châu. Bỏ qua hay coi thường cái cảm nhận “bị khinh dể” của Hồi giáo là một sai lầm nghiêm trọng. Tuy nhiên đáp ứng bằng nhượng bộ hay bằng sức mạnh đều không giải quyết được vấn đề. Chiến tranh đang diễn ra tại Iraq cho người Hồi giáo thấy rằng dù họ hy sinh bao nhiêu để rửa nhục họ cũng chưa mang lại đuợc thắng lợi nào, nhưng nó cũng chứng tỏ rằng thế giới Tây phương có thể thất bại vì chúng ta phải tôn trọng luật pháp quốc tế và quyền tự do cá nhân. Tây phương cũng không thể thành công bằng cách thuyết phục những người Hồi giáo ôn hòa chống lại những người Hồi giáo quá khích. Cách tốt nhất có lẽ là tạo điều kiện làm cho xã hội Hồi giáo cảm thấy hy vọng và tiến bộ để cho khối người Hồi giáo trầm lặng không rơi vào đôi tay đang chờ đón của những thành phần quá khích.

Nhìn dưới góc độ đó, cuộc tranh chấp Do Thái – Palestine có thể là cái mẫu thu nhỏ của cuộc xung đột Tây Phương và Hồi giáo trong tương lai. Do Thái hiện nay (và Tây Phương trong tương lai) bị bao vây bởi sự hận thù (vì người Hồi giáo cho rằng họ bị làm nhục) đang tìm đường thoát ra khỏi vòng vây để tạo một niềm hy vọng vĩnh cửu cho đất nước. Nhưng trước hết phải tìm một giải pháp cho Palestine, nếu không Do Thái không có hy vọng gì thoát khỏi vòng vây của hận thù.

Cũng vậy, Hoa Kỳ và Âu châu đều muốn thoát ra khỏi sự bao vây của hận thù. Nhưng Hoa Kỳ và Âu Châu chỉ có thể thành công khi tìm được một công thức giúp người Hồi giáo giải quyết những khó khăn của họ.

Dominique Moĩsi

Jan. 2, 2007

(*) ghi chú của người lược dịch

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.