Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Ba Mươi: Vụ Án Sông Gianh

24/11/200800:00:00(Xem: 2925)

Ba mươi: Vụ Án Sông Gianh

Cũng vì buổi sáng hôm Chủ Nhật đó, tôi nói chuyện với H. Thanh nên đã quên buổi hẹn với Lê Văn Kinh. Chiều hôm ấy tuy Kinh và tôi có gặp nhau nói chuyện ở hội trường, nhưng Kinh tiếp tôi như một sự gắng gượng, thiếu hẳn nét cởi mở của những ngày trước. Tôi hiểu rằng, cái nguyên nhân chính cũng vì cái buổi nói chuyện của tôi với H. Thanh khi sáng. Chính vì thế, tôi biết nội dung sự việc của Lê Văn Kinh chỉ sơ lược, nhưng sau tôi đã gặp đám thủy thủ này lại có nhiều người đã đưa tôi ra Bắc trước đấy mấy tháng nên vụ án sông Gianh lại tương đối có chi tiết. Nội dung chính như sau:
Đây là một trong những kế hoạch đầu tiên, trong chủ trương dùng người nhái bất ngờ xâm nhập bờ biển miền Bắc của cộng sản để phá hoại những công trình quân sự, để trả đũa phía cộng sản đã thành lập mặt trận giải phóng và càng ngày càng gia tăng quấy phá miền Nam.
Do những tin tức tình báo và do những tấm không ảnh chụp được của máy bay Mỹ, nên đã nhìn rõ về giòng sông Gianh. Giòng sông đã đi vào lịch sử của dân tộc, nó đã làm mốc ngăn chia đất nước trong giai đoạn chúa Trịnh và chúa Nguyễn phân tranh.
Cơ quan tình báo trung ương miền Nam phát giác, phía sâu trong nội địa hàng chục cây số, trên giòng sông Gianh có một số tàu thuộc hải quân miền Bắc. Từ căn cứ sâu hiểm này, những chiếc tàu đó lén lúc chuyển vũ khí vào miền Nam qua những mật cảng trong khu vực ranh giới của Việt Nam và Campuchia. Để triệt hạ tại gốc, tình báo miền Nam họach định một công tác đặc biệt: Dùng người nhái bí mật đột nhập vào sông Gianh, dùng hải mìn đánh chìm những chiếc tàu này.
Sau nhiều ngày nghiên cứu tuyển lựa, tình báo Sàigòn đã tuyển chọn được 4 người nhái quả cảm và có nhiều kinh nghiệm: Lê Văn Kinh, dân sự, cao 1m82, nặng 78 kg. Anh đã đạt nhiều thành tích trong những công tác thủy chiến ở miền Nam. Nguyễn Văn Tâm, quân sự, cao 1m78 nặng 70kg. Một huấn luyện viên người nhái đã tình nguyện tham gia công tác đặc biệt này. Nguyễn Văn Thảo, quân sự, cao 1m78 nặng 48 kg. Võ Chuyên, quân sự, cao 1m75 nặng 70k, một hung thần xung kích. Do truyền thống gia đình đã có nhiều hận thù sâu nặng với cộng sản, anh đã có nhiều lần tử chiến với quân cộng sản. Ngực anh  đã xâm hai chữ "sát cộng', thề không đội trời chung với kẻ thù là lũ cộng sản khát máu.
Trong số 4 người quả cảm, ưu tú của người nhái được tuyển chọn này, có hai anh Tâm và Chuyên những năm trước đấy đã được đi dự khóa huấn luyện đặc biệt đầu tiên về biệt hải ở Đài Loan. Khi đó các anh còn trong liên đội quan sát I do thiếu tá Phạm Văn Phú làm liên đội trưởng và đại úy Lê Văn Tất làm liên đội phó, trực thuộc sở khai thác địa hình do đại tá Lê Quang Tung chỉ huy.
Các anh được huấn luyện bổ sung và thực tập công tác ở một doanh trại đặc biệt bên Mỹ Khê, Đà Nẵng. Ngoài những huấn luyện viên về chuyên môn, người trực tiếp chỉ huy là ông Phan và ông Lý (ông Phan cũng là người đưa tôi đi ở Đà Nẵng, ông Lý tôi cũng đã nói tới nhiều lần khi tôi còn ở Đà Thành), và một người cố vấn Mỹ tên là Robert, cũng là một con cá kình của người nhái Mỹ.
Vào một ngày cuối thang 10 năm 1962, khoảng 10 giờ sáng tại một bến đò hẻo lánh bên biệt khu hải quân gần Sơn Trà, Đà Nẵng, cả ông Phan, ông Lý và ông Robert cố vấn đã hân hoan, niềm nở cùng 4 chúng tôi (từ đây là lời của Lê Văn Kinh) sắp xếp, chuẩn bị với những vật dụng trang bị từ vũ khí đến hải mìn. Chiếc hải thuyền đưa chúng tôi đi, trang bị như nhiều thuyền đánh cá khác ở những vùng ven biển. Thủy thủ đưa chúng tôi gồm 10 người, trong đó có bác Vương Tiến  An là thuyền trưởng và anh Nguyễn Dự là thợ máy. (Anh Dụ này cũng là thợ máy trong chuyến tàu đầu tiên của tôi đổ bộ hụt ở ranh giới 2 huyện Kim Sơn và  Nga Sơn). Khi đó tôi chỉ biết tên anh là Tarzan theo Phan gọi.
Đặc biệt trên hải thuyền có một chiếc thuyền gỗ con. Chiếc thuyền gỗ này làm giống hệt theo kiểu những chiếc thuyền con dùng để đánh đáy ở các cửa sông ngoài miền Bắc. Theo kế hoạch, khi hải thuyền đến ngang cửa sông Gianh sẽ lảng vảng ở ngoài khơi chừng 15 hay 20 cây số. Thả chiếc thuyền con xuống biển, bên trên vờ có hai người ngồi chèo thuyền, nhưng thực tế, thuyền lắp ngầm một máy cực mạnh, có thể chạy 10-12 hải lý giờ.
Chiếc thuyền con sẽ tùy theo hoàn cảnh của từng đoạn đường, lúc dùng máy, lúc dùng chèo len lỏi vào cửa sông, lẫn vào những thuyền đánh đáy khác. Cứ thế rồi tiến sâu vào mục tiêu để thực hiện công tác. Theo quy định đã được phân nhiệm rõ ràng khi còn ở trong phòng hành quân ở Mỹ Khê thì: Anh Võ Chuyên là toán trưởng, anh Nguyễn Văn Tâm là toán phó. Khi đến mục tiêu thì cả 4 người, mỗi người sẽ ôm một hải mìn nổ chậm. Loại mìn này có chỗ điều khiển, bấm nút để điều chỉnh thời gian mìn nổ. Mỗi hải mìn nặng trên 3 kg. Sau khi quan sát tại chỗ, anh Võ Chuyên chỉ định từng mục tiêu cho mỗi người. Cuối cùng chính anh cũng phải ôm một hải mình đến đặt, để phá một chiếc tàu mà chính anh đã tự nhận.
Sau khi ông Phan, Lý và Robert đã kiểm tra lại đầy đủ mọi vật dụng cho chuyến đi là những cái bắt tay nồng nhiệt những lời chúc thành công và hẹn ngày mai, cũng vào giờ này sẽ ra đây đón do những người ở lại. Chúng tôi rời bến hải khu lúc 11giờ, cái lúc mặt trời đang mở to mắt, quắc lên từ trên  cao nhìn thẳng xuống hải thuyền. Trên hải thuyền còn lại tất cả 14 người gồm, 10 thủy thủ và 4 chúng tôi. Con thuyền rẽ sóng âm thầm ra khơi, hướng về phía Bắc.
10giờ 15 phút tối hôm đó, bác An thuyền trưởng báo cho chúng tôi biết là thuyền đang ở ngoài khơi cách cửa sông Gianh từ 15-20 cây số. Chúng tôi vội vàng chuẩn bị hành trang, đồ nghề. Cuối cùng, chúng tôi hè nhau đẩy chiếc thuyền con từ trên thuyền lớn xuống biển.
Đã được phân công từ trước, 3 người thủy thủ to khỏe, nhanh nhẹn tháo vát sẽ chèo và lái thuyền con đưa chúng tôi đến mục tiêu. Ba anh thủy thủ, sau này chúng tôi được biết tên là Hoàng Bài, Trịnh Văn Truyện và Nguyễn Dụ là thợ máy. Thuyền con rời hải thuyền lúc 10.35'.
3 Thủy thủ, 4 chúng tôi gồm tất cả là 7 người, trên chiếc thuyền con, mở máy lầm lũi, tiến sâu vào cửa sông Gianh. Hơn 1 giờ sau, trong cái lấp loáng mờ ảo giữa nước với trời, chúng tôi đã nhìn thấy những ánh đèn le lói của những thuyền đánh đáy ngoài cửa sông. Chúng tôi cùng bảo nhau, một mặt tắt máy đi, mặt khác cũng thắp lên ngọn đèn con như những thuyền của họ.


Len lỏi qua những bè đáy, có lúc rất gần, chúng tôi trông thấy cả những bóng người ngồi trên những con thuyền nhỏ đánh đáy. Theo những hoạch định ngay từ ngoài khơi, 4 chúng tôi và anh Hoàng Bài nằm sát xuống xạp thuyền, che bạt ở trên. Như vậy, trông xa chỉ có anh Nguyễn Dụ và Truyện chèo thuyền. Tuy chúng tôi nằm, mà lòng vẫn bồn chồn, hồi hộp, căng thẳng trong những giờ phút đã tiếp cận với kẻ thù. Thậm chí, có lần chúng tôi còn nghe thấy cả giọng Quảng Bình nặng chịch hỏi ré lên:
- Sao về sớm rứa!
Tiếng hỏi thọc sâu vào tiếng sóng rầm rì; chúng tôi đều bảo nhau là hãy im lặng không trả lời. Qua được vùng đáy, thuyền chúng tôi đã vào hẳn bên trong cửa sông. Mập mờ, hai bên bờ sông, cảnh vật thấp thoáng chìm trong màn đêm và sương đục. Cửa sông Gianh rộng đến hàng cây số, nhưng càng sâu vào trong càng hẹp lại. Vắng lặng, chỉ có tiếng gió thì thầm nói chuyện với tiếng sóng đêm, chúng tôi ngồi hết cả dậy, mở máy tiến vào mục tiêu. Trong cái mờ ảo của bóng đêm trên mặt sông, xa xa, chúng tôi đã nhìn thấy một vài ánh đèn lấp ló trên cao, khoảng ngang mái nhà. Kinh nghiệm cho chúng tôi biết, đấy là những chiếc đèn canh đêm trên chòi tàu.
Lúc này đã 12 giờ 15 phút, thuyền chúng tôi giảm ga, giảm tốc độ, cho tới khi chúng tôi đã nhìn rõ những chiếc tàu thân xám xậm đang nằm say sưa ngủ trên mặt sông. Nước thủy triều đang lên cao, tắt hẳn máy, dùng chèo, chúng tôi tiến sát gần những chiếc tàu. Trong một cái hủng sông phía bờ trái, có nhiều cây dại mọc trùm xuống mép nước, chúng tôi lần mò lách thuyền vào. Thuyền chúng tôi chỉ cách những chiếc tàu của địch từ 100 -150 mét là cùng. Trong màn sương đêm, chúng tôi đều trố mắt quan sát toàn bộ khu vực có thể nhìn được, không kể những chiếc thuyền gỗ nhỏ, chỉ có 6 chiếc tàu, 3 chiếc khằm xuống hẳn vì chứa đầy hàng bên trong.
Khi đã nắm vững tình hình và điều kiện tại chỗ, anh Võ Chuyên đã phân công rõ ràng: Lê Văn Kinh và Nguyễn Văn Tâm có nhiệm vụ gắn mìn, phá 2 chiếc tàu chéo phía trong cách khoảng 150 mét. Nguyễn Văn Thảo và chính anh Chuyên sẽ phá 2 chiếc ngay phía trước mặt, chỉ cách 90-100 mét. Hai chiếc này thật to, mỗi chiếc dài đến 30 mét, lại chở nặng, khằm.
Theo quy ước đã thống nhất khi mọi người rời thuyền con: Sau khi dùng chuyên môn gắn hải mìn vào nơi thân tàu đã quy định. Để thời gian nổ chậm 2 giờ rồi bấm nút, rời mục tiêu, bơi ngay về chỗ thuyền con. Phòng hờ một vài trục trặc bất ngờ, nên đã đều nhất trí để thời gian nổ là sau hai tiếng đồng hồ. Thực ra, thời gian bơi đến mục tiêu, gắn mìn, rồi trở về thuyền con, thuyền con chạy ra thuyền mẹ là hải thuyền đang chờ ở ngoài khơi chỉ hết khỏang 1giờ 30 phút đến 1giờ 40 phút là cùng. Nghĩa là khi hải mìn nổ, thì cũng là lúc hải thuyền đang trên đường trở về Đà Nẵng.
Tính ở trên là tính theo cái lẽ thông thường của cuộc đời. Tính nước chảy xuôi theo giòng, mà cuộc đời lại vẫn có cái bất thường của nó và những giòng nước chảy ngược thì ít ai tính được. Bởi vậy, (từ đây theo lời của anh Truyện, Hoàng Bài và Nguyễn Dụ ba người thủy thủ còn lại trên chiếc thuyền con. Sau này, 1972, tôi gặp ở trại chính Phố Lu thuật lại) khi các anh Kinh, Tâm và Thảo đã xuống nước bơi đi đến 5-10 phút rồi, anh Võ Chuyên mới đeo các đồ nghề người nhái, ôm mìn tụt xuống nước.
Sau khi anh Chuyên đã xuống nước rồi, bơi được hơn một chục mét, không hiểu nghĩ thế nào, anh lại bơi quành trở lại thuyền, ra hiệu cho anh Truyện trao cho anh khẩu tiểu liên ở trên thuyền mà anh muốn mang theo. Anh Truyện vừa trao khẩu súng cho anh Chuyên, thình lình một ánh sáng vàng chóe loáng lên trong đêm đen. Rõ ràng, anh Truyện nhìn thấy chiếc tầu lớn phía trước mặt được phân công cho anh Thảo đặt mìn phá, bỗng dưng nhẩy chồm lên khỏi mặt nước, một tiếng nổ tưởng xé màng tai. Một làn hơi ép xô mạnh đến làm quay ngang chiếc thuyền con đang ở cách xa 90 mét. Cả một khoảng sông sóng cuộn lên. Chúng tôi nhớn nhác mất cả tinh thần, vội vàng kéo anh Chuyên lên thuyền. Nhìn về phía anh Tâm và Kinh, trời tối đen kịt, không thấy bóng dáng các anh đâu. Nước lại chảy xiết, lúc này khắp nơi vang lên tiếng ong ỏng rên lên. Thấp thoáng đã có những vệt đèn pin vạch kẽ màn đêm chằng chịt thành nhiều nét. Chúng tôi trên thuyền con đã chợt hiểu. Có thể anh Thảo, trong lúc chìm sâu dưới đáy nước, tinh thần lại căng thẳng nên đã điều chỉnh, bấm nút nhầm từ 2 giờ như đã quy định thành 1 hay 2 phút. Và như vậy, hẳn rằng thân xác của anh cũng đã tan theo quả mìn định mệnh, không những phá đựơc tàu của địch mà còn giết cả người đặt mìn.
Do chúng tôi suy đoán như vậy, cho nên chúng tôi chỉ hướng về nơi các anh Tâm, Kinh đón các anh rồi tẩu vi thượng sách. 5, 10 phút trong tình thế nước sôi lửa bỏng, nhưng vẫn bặt dáng các anh. Chúng tôi suy đoán, có lẽ vì nước chảy quá mạnh, các anh khó bơi ngược trở lại thuyền con, vì vậy, chúng tôi chèo thuyền con về phía các anh để đón. Thời gian như căng trên sợi chỉ, không thể cho phép chúng tôi chờ chực được nữa. Nhất là khi đã có vài tràng súng AK đanh đanh thọc vào sông nước, vắt vào đêm trường, kết hợp với những tiếng máy ca nô khởi động rú lên. Bốn chúng tôi quay mũi thuyền trở ra và mở hết tốc độ... chuồn.
Trên đường tháo chạy, đã có những chiếc ca nô rượt theo bắn đuổi. Do sự bắn trả quyết liệt của anh Chuyên, nên chúng nó đuổi rất chậm. Chúng tôi lại không có súng (đến đây là lời tường thuật của anh Truyện, thủy thủ). Khoảng 3.30 sáng, thuyền con của chúng tôi chạy ra tới thuyền mẹ. Lúc này, rất nhiều tàu và ca nô từ trong bờ, vừa tiến ra bao vây vừa bắn xối xả. Cả đại liên lẫn tiểu liên, đạn réo lên ào ào về phía thuyền của chúng tôi. Chúng tôi vừa bắn trả, vừa mở máy tối đa chạy về hướng Nam. Dọc đường, gặp những ca nô và thuyền từ trong bờ xông ra chặn đường chúng tôi về. Với một ý chí quyết tử, chúng tôi mở máy xông bừa vào thuyền chúng. Trước sự dũng mãnh thà chết của chúng tôi, chúng phải tránh dạt để thuyền chúng tôi đi.
Trời sáng dần, rồi mặt trời ngoi lên nhìn rõ cảnh và vật. Phía sau chúng tôi, lổm nhổm nhiều tàu và ca nô biên phòng của cộng sản đuổi theo. Thuyền chúng tôi chỉ có 4 khẩu tiểu liên của 4 người nhái. Ba khẩu của các anh Tâm, Kinh, Thảo để lại thuyền, chúng tôi là thủy thủ, hầu hết là dân sự, chỉ chuyên nghề chài lưới, vì thế anh Chuyên đã chỉ bảo cấp tốc cách xử dụng tiểu liên để chiến đấu trong giờ phút ngồi trên nồi rang này.
10giờ, rồi 11giờ, lù lù một đoàn tàu 4 chiếc của hải quân CS từ Đồng Hới tiến ra chặn đường của chúng tôi. Nhìn chiếc hải thuyền nhỏ bé, với những chiếc tàu to nhỏ phía trước, phía sau, tôi có cảm tưởng chiếc hải thuyền như con nai tơ đơn độc bị một đàn sói thèm thịt bao vây trên thảo nguyên bao la hoang vắng, không còn một hướng, một phương nào cho con nai vàng chạy thoát.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Mắt thường chúng ta có thể nhìn thấy bao xa?
Theo nhà dịch tễ học hàng đầu của Thụy Điển, hầu như không có dấu hiệu nào cho thấy miễn dịch cộng đồng đang giúp nước họ chống lại Covid-19
Theo dự báo mới nhất của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA), đại dịch Covid-19 sẽ gây thiệt hại lớn cho ngành hàng không toàn cầu trong giai đoạn 2020-2021.
Sau khi các hãng dược phẩm Mỹ và Anh lần lượt công bố kết quả thử nghiệm khả quan vaccine phòng Covid-19, Nga cũng tuyên bố sẽ bán vaccine Covid-19 với giá rẻ hơn và đặt mục tiêu sản xuất 1 tỷ liều trong năm 2021
Theo trang Financial Times, Facebook đang lên kế hoạch “lấy lòng” ông Biden bằng các chiến dịch tập trung vào Covid-19 và biến đổi khí hậu.