Hôm nay,  

Giải Nobel Hoà Bình Và Tt Obama

10/13/200900:00:00(View: 8968)

Giải Nobel Hoà Bình Và TT Obama

Vũ Linh

...chống các chế độ CS thiên tả, như trường hợp Thầy Quảng Độ, nhưng không bao giờ trúng giải...
TT Obama đã đoạt giải Nobel Hòa Bình cho năm 2009. Tin này là ngạc nhiên lớn cho tất cả mọi người, kể cả cho những người đã bỏ phiếu cho ông lên làm tổng thống, và ngay cả chính tổng thống.
Những người ủng hộ TT Obama dĩ nhiên hết sức vui mừng, coi như đây là một sự nhìn nhận có tính cách quốc tế, từ một tổ chức có uy tín rất lớn. Trong khi đó, những người không ủng hộ thì thắc mắc không hiểu TT Obama đã làm được gì ghê gớm để được trao giải thưởng cao quý này sau tám tháng… đọc diễn văn.
Để hiểu rõ ràng hơn, ta cần hiểu bối cảnh của vấn đề.
*
Giải Nobel Hòa Bình do một ủy ban năm người gồm những học giả và chính trí gia - hiện nay gồm bốn bà và một ông -  do quốc hội Na Uy (Norway) bầu với nhiệm kỳ sáu năm. Quốc hội Na Uy hiện nay do đảng Dân Chủ Xã Hội (Social Democrat) nắm đa số kiểm soát từ nhiều năm qua. Đảng này có khuynh hướng xã hội thiên tả.
Ủy ban này nhận sự tiến cử của nhiều nhân vật và nhóm vận động đầu tháng Hai mỗi năm, và đến đầu tháng Mười thì công bố quyết định. Ngoài giải Nobel về Hòa Bình còn có nhiều giải về các bộ môn khác như vật lý, hoá học, y khoa, văn chương, v.v…
Năm nay đã có 205 người hay nhóm đã được đề cử nhận lãnh giải về Hoà Bình, trong đó có hai người tương đối được coi như có nhiều hy vọng là Thủ Tướng Zimbabwe (lãnh tụ đối lập nhưng đã chấp nhận tham gia nội các), và Hoà Thượng Thích Quảng Độ. Còn lại là những nhân vật và tổ chức đã liên tục tranh đấu cho hòa bình, cho nhân quyền, hay cho nhiều lý tưởng nhân đạo, từ thiện khác từ rất nhiều năm qua, có người đã tranh đấu cả đời. Ngoài sự tưởng thưởng tinh thần, còn có tưởng thưởng tài chánh là một triệu bốn trăm ngàn Mỹ kim. Chưa kể sau này sẽ có cơ hội đi thuyết trình, đọc diễn văn kiếm thêm vài triệu nữa.
Năm nay, trước sự ngạc nhiên của cả thế giới, TT Obama đã là người được chọn để trúng giải.
TT Obama là vị tổng thống thứ tư của Mỹ nhận được giải Nobel về Hoà Bình, sau các TT Teddy Roosevelt (vì những nỗ lực chấm dứt chiến tranh Nga-Nhật), Woodrow Wilson (vì là cha đẻ ra  Hội Liên Quốc, là tiền thân của Liên Hiệp Quốc, là một tổ chức được thành lập để giúp thế giới giải quyết những mâu thuẫn quốc tế), và Carter (vì những cố gắng tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ trong các quốc gia chậm tiến). Cựu Phó TT Al Gore cũng được giải thưởng này cách đây ít năm vì những cố gắng báo động về chuyện hâm nóng địa cầu. Do đó, chuyện chính khách cao cấp của Mỹ nhận được giải không có gì mới lạ,
Điều tạo ra ngạc nhiên và tranh luận là việc TT Obama nhận được giải quá sớm, chưa có được một thành tích cụ thể nào ngoài những bài diễn văn rồng bay phượng múa của ông. Điểm đặc biệt càng đáng ghi nhận hơn là TT Obama đã nhận được sự đề cử đúng 12 ngày sau khi nhậm chức. Người ta không biết ai đã đề cử và càng không biết lý lẽ nào đã được đưa ra.
Ủy ban giám khảo viện dẫn hai lý do chính để trao giải thưởng cho TT Obama: chủ trương hoà hoãn, hợp tác với thế giới; và chủ trương giải giới vũ khí nguyên tử trên thế giới. Nhiều người chỉ trích TT Obama chưa có được một thành quả cụ thể nào, do đó ông thật ra không xứng đáng để nhận giải. Ngay cả chính TT Obama cũng nhìn nhận chuyện này.
Trên thực tế điều chỉ trích này không chính xác lắm.
Giải Nobel về Hoà Bình khác hẳn với các giải Nobel về các bộ môn khác. Với các bộ môn khác, ủy ban đòi hỏi phải có thành quả chẳng những cụ thể mà còn phải qua được thử thách của thời gian. Ví dụ như một phát minh y khoa: chẳng những phải là một phát minh quan trọng, độc đáo, mà còn phải được chứng minh đã có tác dụng, có ảnh hưởng lớn trong ngành y khoa.
Riêng đối với giải về hoà bình, thì thông thường đó là một tuyên ngôn chính trị, phản ảnh quan điểm hay ý nguyện của ủy ban, tức là của đảng Dân Chủ Xã Hội là đảng đa số của Na Uy. Do đó, ta có thể nhận thấy phần lớn những người hay nhóm nhận được giải về Hoà Bình đều là những người hay nhóm có khuynh hướng xã hội, cấp tiến hay thiên tả.  Nhìn vào ba vị lãnh tụ chính trị Mỹ đã nhận được giải về Hoà Bình gần đây, TT Carter, PTT Gore, và TT Obama, cả ba đều là những người có khuynh hướng cấp tiến nhất từ mấy thập niên qua. TT Clinton tuy cũng cấp tiến nhưng tương đối ôn hoà nên cũng không được.
Những chính khách có khynh hướng bảo thủ hầu như không có hy vọng, bất kể thành tích. Lấy ví dụ TT Reagan là người đã hợp tác chặt chẽ với Đức Giáo Hoàng John Paul II thời đó và các lãnh tụ các phong trào đấu tranh Đông Âu để phá bỏ bức màn sắt, chấm dứt chế độ cộng sản đã ngự trị Liên bang Xô Viết và Đông Âu trong hơn bẩy mươi năm, giải phóng được hàng trăm triệu người khỏi ách nô lệ, thay đổi hoàn toàn cuộc diện chính trị thế giới, chấm dứt chiến tranh lạnh. Một thành tích có thể nói quan trọng nhất của thế kỷ hai mươi. Nhưng cả TT Reagan lẫn Đức Giáo Hoàng đều không được trúng giải.
Một bằng chứng nữa về khuynh hướng chính trị của ủy ban Nobel là từ trước đến nay, đã có nhiều nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền hoạt động rất tích cực tại Trung Quốc và Việt Nam chẳng hạn. Phần lớn những nhà hoạt động này đã bất chấp nguy hiểm cho bản thân tranh đấu một cách mạnh mẽ chống các chế độ cộng sản thiên tả, như trường hợp Thầy Quảng Độ, nhưng không bao giờ được trúng giải. Ngược lại nếu là một nhà tranh đấu chống lại một chế độ độc tài thiên hữu, thì sẽ trúng giải dễ dàng hơn, như bà Aung San Suu Kyi của Miến Điện.


Riêng trường hợp TT Obama, đặt câu hỏi “có xứng đáng để nhận không” là đặt vấn đề sai, không đúng. Nếu dựa trên thành tích cụ thể thì hiển nhiên là TT Obama không xứng đáng vì, như đã nói, chẳng có thành tích gì hết. Nhưng nếu đặt vấn đề chủ trương, hướng đi, thì đúng là xứng đáng, nhất là dưới con mắt của ủy ban vì hoàn toàn trùng hợp với quan điểm và ý nguyện của ủy ban.
Nhìn dưới một khía cạnh khác, TT Obama có thể nói đã bị ủy ban Nobel trói tay, đặt vào thế bắt buộc phải thực hiện những chủ trương hòa hoãn mà ông đã hứa hẹn, hầu như là khiến ông khó có thể thay đổi, chuyển hướng. TT Obama hiện đang đối đầu với ba vấn đề đối ngoại lớn:
- Cuộc chiến chống khủng bố: ông đã đi lòng vòng xin lỗi và kêu gọi khối Hồi giáo và Tây phương thông cảm nhau hơn. Ủy ban Nobel một mặt hoan nghênh cách hành động của TT Obama, đồng thời cũng cài ông ở thế không lùi được, mặt khác cũng gửi một thông điệp cho khối Hồi giáo quá khích là nên đáp ứng lại bước tiến của TT Obama.
- Cuộc thư hùng giữa Mỹ và Iran hay Bắc Hàn về những cố gắng phát triển khả năng làm vũ khí nguyên tử. Tương tự như tình hình trên, ủy ban phổ biến thông điệp là họ ủng hộ cách tiếp cận vấn đề của TT Obama và không cho ông cơ hội thay đổi chính sách. Nhưng cũng xác định cho Iran và Bắc Hàn ý nguyện của ủy ban Nobel.
- Đối với cuộc chiến tại Trung Đông, việc trao giải Hoà Bình cho TT Obama có lẽ mang ý nghĩa nhiều nhất. Bây giờ là lúc TT Obama đang nhức đầu nghiên cứu phúc trình của Tư Lệnh Chiến Trường Afghanistan; tăng  thêm từ 40.000 đến 60.000 quân hay không. Việc trao giải thưởng Hòa Bình là một tuyên cáo không thể nào rõ ràng hơn là ủy ban không ủng hộ việc leo thang chiến tranh tại Afghanistan. Việc này sẽ một mặt khiến TT Obama khó lấy quyết định tăng quân theo yêu cầu của vị Tư Lệnh Chiến Trường, mặt khác cũng giúp Obama có thể viện dẫn lý do cả thế giới không đồng ý leo thang chiến tranh, nên sẽ giúp ông dễ bác bỏ yêu cầu của các tướng lãnh hơn. Ngược lại, nếu ông có ý đinh tăng quân, giải thưởng này chỉ mang lại bối rối cho ông, và chỉ là dầu lửa làm bùng lớn hơn các chỉ trích chống tổng thống.
Trên đây là những ý kiến có tính cách “tích cực” hơn. Nhưng cũng có một cách giải thích tiêu cực hơn: ta có thể suy luận những lá phiếu của ủy ban hoàn toàn có tính cách chính trị, nhằm tiếp nối thể hiện tư tưởng bài Bush của ủy ban nói riêng, và khối thiên tả Âu Châu nói chung.
- Cuối thập niên, năm 1978, Liên Xô tung quân chiếm Afghanistan, TT Carter lúc bấy giờ lên tiếng chống sự xâm lăng này, nhưng chẳng làm gì hết, ngoài chuyện tẩy chay Thế Vận Hội năm 1980 được tổ chức tại Mạc Tư Khoa. Một cuộc tẩy chay chẳng đi đến đâu: vắng mợ thì chợ vẫn đông. Trái lại, TT Bush sau vụ 9/11, tung quân ra đánh Afghanistan. TT Carter dĩ nhiên lớn tiếng chỉ trích và so sánh cách  giải quyết vấn đề của ông và cách của Bush. Cuộc tranh cãi giữa hai chính sách đang sôi động, thì ủy ban Nobel năm đó -2002- quyết định tặng giải Nobel Hòa Bình cho Carter.
-  Năm 2003, TT Bush tung quân đánh Iraq, lật đổ Saddam Hussein vì ông tin chắc Saddam có vũ khí nguyên tử. Gần hết thế giới chống lại quyết định này và lý luận cần cho thêm thời gian cho ông El Baradei, Giám Đốc cơ quan IAEA là cơ quan Liên Hiệp Quốc phụ trách vấn đề kiểm soát sự phát triển vũ khí hạt nhân trên thế giới. Bush chê ông ElBaradei yếu đuối và thiếu khả năng; và TT Bush vận động thay đổi ông này. Năm 2005, ủy ban Nobel phản ứng, quyết định tặng ông ElBaradei này giải Nobel Hòa Bình.
- Năm 2007, ủy ban trao giải thưởng cho cựu phó TT Al Gore, một người đã bị thua Bush trong kỳ tranh cử năm 2000, và là người sau mấy năm im lặng, bắt đầu lên tiếng đả kích Bush về đủ mọi chuyện, chẳng những về cuộc chiến Iraq, mà luôn cả các vấn đề bảo vệ môi sinh, chống hâm nóng địa cầu.
- Trong hai năm tranh cử, TNS Barrack Obama đưa chiêu bài tranh cử chính là ông không phải là Bush! Từ cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo, đến các cuộc chiến tại Iraq và Aghanistan, đến cách trực diện với các nước nguy hiểm như Iran và Bắc Hàn. Chỉ cần dựa trên cuộc tranh cử và những bài diễn văn thôi cũng đủ để ủy ban trao giải thưởng cho Obama, không cần phải có thành tích cụ thể gì hết.
Hiển nhiên, nhìn vào những sự kiện trên, người ta có thể suy luận là việc trao giải thưởng Nobel Hoà Bình càng ngày đã càng trở thành một tuyên ngôn chính trị, phản ánh quan điểm và nguyện vọng chính trị của ủy ban, chứ không phải là một sự tưởng thưởng một thành tích cụ thể nào của các nhà hoạt động đã và đang cố gắng tranh đấu cho những lý tưởng hòa bình thực sự trên thế giới. Có nhiều người đi xa hơn, đã nhận định ủy ban cố tình thêm một lần nữa tiếp tục xác định thái độ chống Bush và chống những gì liên hệ xa gần đến các chính sách của Bush.
Riêng đối với dân Việt chúng ta, giải Nobel về Hòa Bình mang một ý nghía khá chua cay. Năm 1973, giải này được trao tặng cho hai nhân vật vừa đặt bút ký xong Hiệp Định Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Trên nguyên tắc hai ông này đã mang lại ‘hoà bình” cho Việt Nam, xứng đáng để lãnh Nobel về Hòa Bình. Thực tế hoàn toàn khác.
Một người - Kissinger- được tưởng thưởng vì đã có công chấm dứt sự can thiệp của Mỹ giúp dân quân Miền Nam chúng ta chiến đấu chống xâm lăng của Bắc Việt. Và một người - Lê Đức Thọ- vì đã có công đang chỉ huy cuộc “giải phóng” Miền Nam. Kissinger hồ hởi nhận giải vì coi như đã hoàn tất sứ mạng “rút lui trong danh dự”, trong khi Lê Đức Thọ từ chối không nhận vì công tác chưa hoàn tất. Qua năm sau, Lê Đức Thọ tung hai chục sư đoàn và hàng ngàn chiến xa vào Nam để dứt điểm cuộc chiến. Không ai đặt vấn đề về sự lựa chọn của ủy ban Nobel hết (11-10-09)
Vũ Linh
(Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý  qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.)

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.