Hôm nay,  

Mối Nguy Lạm Phát

31/01/200800:00:00(Xem: 9509)

...Trung Quốc và Việt Nam cũng có tỷ lệ bất công xã hội cao nhất Đông Á...

Tổng cục Thống kê tại Việt Nam vừa cho biết là chỉ số giá tiêu dùng đã tăng gần 2,4% so với tháng 12. Và nếu so với tháng Giêng năm ngoái, lạm phát tại Việt Nam đã vượt quá 14%, một trường hợp chưa từng thấy trong cả chục năm nay và cũng chưa từng thấy trong cả khu vực Đông Á. Trong chương trình chuyên đề tuần này của Diễn đàn Kinh tế đài RFA, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khả năng ổn định giá cả của Việt Nam qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, hôm 29 vừa qua, Tổng cục Thống kê của Việt Nam đã mới công bố một số dữ kiện về kinh tế trong đó đáng chú ý nhất là việc lạm phát trong năm qua đã vượt 14% và riêng trong tháng này thì gần lên tới 2,4% so với tháng 12. Mối lo về vật giá gia tăng đang ám ảnh nhiều người, nhất là trong dịp giáp Tết. Vì vậy, chúng tôi đề nghị là trong chương trình kỳ này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các nguyên nhân của lạm phát và về khả năng ổn định giá cả của Việt Nam qua phương cách quản lý kinh tế.

Tôi xin được nói ngay về phương cách quản lý kinh tế ấy qua việc Tổng cục Thống kê loan báo những dữ kiện quan trọng về kinh tế. Chúng ta hãy tạm gác qua một bên mức độ chính xác của các thống kê, là điều mình vẫn còn phải trừ hao, mà chỉ nói đến những thông tin quá giản lược và không giúp gì cho nhà sản xuất hay người tiêu dùng. Và tất cả đều được tráng bên ngoài một lớp men lạc quan. Thí dụ như ở tiêu đề bản tin: "kinh tế tháng 1 tiếp tục tăng trưởng nhiều mặt". Nếu đọc kỹ ta mới thấy là dù xuất khẩu có tăng gần 20% so với cùng kỳ của năm ngoái thì nhập khẩu lại tăng đến 27%, khiến Việt Nam bị nhập siêu, là nhập hơn xuất khẩu, tròn một tỷ Mỹ kim, gần một phần tư số xuất khẩu.

Chỉ trên bề mặt như vậy, ta thấy ra tàn dư của tình trạng "làm láo báo cáo hay" tưởng như phải chấm dứt từ lâu. Kinh tế thị trường khó phát triển trong tinh thần tô hồng thực tế như thế, nhất là khi nhà nhà đều lo ngại là vật giá và nhất là lương thực đã vượt khỏi tầm tay của nhiều người - dù có Tết hay không. Đáng chú ý không kém về khả năng quản lý, ta thấy vật giá tại Hà Nội đã tăng gần gấp ba vật giá tại Sàigòn và lương thực, vốn là nhu yếu phẩm cho dân chúng thực ra tăng giá tới hơn 20%. Nếu có một cơ sở khảo sát độc lập có lẽ ta còn có nhiều thống kê chính xác hơn về một tình hình thật ra rất đáng lo ngại.

Hỏi: Ông cho rằng các thống kê này chưa đáng tin hay sao"

Nói về sự khả tín của các thống kê do nhà nước thu thập và công bố trong một xã hội chưa thực sự có tự do thông tin, tôi chỉ xin nhắc tới một thành ngữ của giới kinh tế. Là "con số không biết nói dối, nhưng người nói láo cũng có thể tạo ra con số". Cho nên mình cũng phải trừ hao, là điều mà giới đầu tư nước ngoài vẫn nói về tình trạng thống kê của Việt Nam và Trung Quốc, ngẫu nhiên sao cũng lại là hai quốc gia đang có mức lạm phát cao nhất trong khu vực, và cao nhất từ mươi năm nay. Chúng ta có thể thấy ngay trong đó một nguyên nhân chính, là khả năng quản lý vĩ mô rất kém của nhà cầm quyền.

Hỏi: Nhưng xin hỏi ông ngay tại đây, với giá dầu thô tăng vọt và kéo theo nhiều mặt hàng khác thì nhiều nước trong khu vực cũng đang phải đối phó với nạn lạm phát, thí dụ như chỉ số giá cả tại Nhật đã tăng gấp đôi so với năm ngoái. Đây có phải là một hiện tượng chung của các nước hay chăng"

Tại Nhật, chỉ số vật giá loại tiêu dùng - mà không kể thực phẩm tươi - có tăng thật vì dầu thô lên giá, nhưng không tăng tới mức đáng ngại như tại Việt Nam hay Trung Quốc. Người ta còn cho rằng Nhật đang thoát khỏi tình trạng giảm phát, và thật ra Chính quyền xứ này có khả năng quản lý vĩ mô tinh vi hơn người ta có thể nghĩ tại Hà Nội. Nói đến khả năng quản lý vĩ mô, ta nghĩ sao về việc ngoại tệ, chủ yếu là đô la, đang tràn vào Việt Nam mà các ngân hàng không thu hút kịp" Và việc lãi suất ngân hàng vẫn được ấn định quá thấp nên tiền bạc vẫn dư dôi ngoài thị trường và góp phần thổi lên nạn lạm phát"

Chúng ta có nạn lạm phát tiền tệ, đi cùng với nạn lạm phát nhập khẩu vì giá cả thương phẩm hay dầu thô, nói chung là nguyên nhiên vật liệt đều tăng. Khi cả hai nền kinh tế có cùng một mô thức phát triển và cùng một cơ chế chính trị là Trung Quốc và Việt Nam đều bị lạm phát mạnh vào cùng lúc, chúng ta nên nhìn ra những bất toàn của mô hình đó.

Hỏi: Nếu vậy, ta hãy đi lại từ đầu để cùng tìm hiểu về nguyên nhân trước khi mình nói đến việc quản lý. Vì sao lạm phát lại bùng nổ vào lúc này"

Ta đều biết là giá lương thực và thực phẩm đã gia tăng mạnh trong năm qua trên thế giới, bình quân là 40% so với 16% của năm 2006. Nhưng Trung Quốc và Việt Nam cũng sản xuất nông phẩm và lương thực, vì sao nông dân tại hai xứ này lại bị thiệt hại nhiều nhất vì lạm phát" Người ta có lý do trước mắt là dịch heo tai xanh khiến thịt thà lên giá và kéo theo giá tôm cá nhưng đấy chỉ là nguyên nhân ngắn hạn cho một số mặt hàng lương thực mà thôi. Nguyên nhân sâu xa nằm trong cơ cấu kinh tế là phương thức quản lý tập trung vào việc xuất khẩu với giá rẻ và tỷ giá rất thấp của đồng bạc. Chính là chiến lược ấy mới khiến tiền đồng được tháo ra như nước và gây ra lạm phát tiền tệ. Trung Quốc còn biết sợ nên nâng lãi suất chín lần và tăng mức dự trữ pháp định để phần nào kềm hãm lạm phát, Việt Nam chưa đi tới chỗ đó mà chỉ tự hào là đạt tốc độ tăng trưởng trên 8%. So với giá lương thực đã tăng 22% thì con số trên không còn ý nghĩa gì, nhất là khi thực phẩm chiếm một tỷ trọng rất lớn, tới gần 40% ngân sách chi tiêu của các gia đình.

Khi một ông Bộ trưởng của Hà Nội phát biểu rằng "để kềm chế tốc độ lạm phát trong năm 2008, nhiệm vụ hàng đầu hiện nay là nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng" - đó là tôi trích dẫn nguyên văn - thì mình phải tự hỏi là ông ta có hô khẩu hiệu để nói đùa hay chăng.

Hỏi: Dường như ông giải thích nguyên nhân chính của lạm phát là cơ chế quản lý và chiến lược kinh tế của Việt Nam, chứ không hẳn là một thất quân bình nhất thời của cung và cầu về hàng hoá hay tiền tệ. Nhưng vì sao điều ấy lại xảy ra vào lúc này, hai chục năm sau khi Việt Nam tiến hành đổi mới kinh tế"

Vì một lý do đầy nghịch lý là Việt Nam đã quá thành công trong việc đổi mới nửa vời, đổi mới ở ngoài da, tại các đô thị mở cửa ra ngoài. Một năm sau khi bắt đầu hội nhập vào thị trường quốc tế với việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thì bắt đầu thấy ra những chênh lệch quá lớn ở bên trong cơ cấu xã hội. Nôm na là nhập khẩu cả lạm phát và đẩy lạm phát xuống thôn quê và các tỉnh nghèo đói.

Hỏi: Ông có thể giải thích điều này cho rõ hơn được không" Thế nào là đẩy lạm phát xuống thôn quê"

Việc đổi mới kinh tế có cải thiện mức sống của nhiều người, và vì vậy cũng cải thiện bữa ăn của nhiều gia đình khiến một số người tập trung ở thành phố có thể ăn ngon và bổ hơn. Vì vậy, nhu cầu về ngũ cốc hay ngô khoai để nuôi gia súc cũng tăng với tốc độ cao hơn dân số, nó tăng với đà tăng trưởng kinh tế. Nhưng đa số người dân vẫn chưa tiến tới tình trạng ăn ngon và bổ như vậy và vẫn cần tới loại lương thực cơ bản, nay đã trở thành đắt giá hơn. Vì khả năng quản lý kinh tế rất kém, hay rất chậm so với những bài toán quá mới, nên khi thất quân bình xảy ra, thành phần nghèo túng lại là nạn nhân đầu tiên.

Nhìn một cách khác, chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, và của cả Trung Quốc, là đi làm gia công cho thiên hạ để xuất khẩu tối đa. Những gì không có lợi cho việc đó thì bị lãng quên. Hạ tầng vận chuyển và phân phối không nhắm vào việc phục vụ thị trường nội địa và các địa phương mà nhắm ra nước ngoài nên vẫn còn quá thô sơ để có thể kịp thời giải quyết bài toán phân phối cho các vùng kém phát triển.

Hỏi: Nhưng từ nhiều năm nay, thế giới vẫn ngợi ca thành quả kinh tế của Việt Nam, và còn dự đoán Việt Nam có thể là một con rồng kinh tế mới. Ông nghĩ là thế giới lầm lẫn hay sao"

Đấy là thế giới của các nhà đầu tư hay những ai tiếp cận với các nhà đầu tư, và nhìn vào Việt Nam từ mặt nổi đầy hào nhoáng ở thành phố. Ta có thể thấy nghịch lý ấy ở những trái bóng đầu tư đang căng phồng và sắp bể ở thành phố với những tỷ phú triệu phú sống như người Đài Loan hay Thái Lan, trong khi vật giá cũng căng phồng trong một địa hạt thiết yếu cho quần chúng bình dân, là lương thực. Nhược điểm bất công của đường lối đổi mới nửa vời đó đang hiển hiện thành nạn lạm phát phi mã đối với mặt hàng nhu yếu cho quảng đại quần chúng. Không phải ngẫu nhiên mà cả hai quốc gia có cùng một mô thức phát triển là Trung Quốc và Việt Nam cũng có tỷ lệ bất công xã hội cao nhất Đông Á, nếu đo lường ở hệ số Gini hay lợi tức của nhóm dân số giàu nhất so với nhóm nghèo nhất. Mức chênh lệch giàu nghèo này đang gia tăng cùng tốc độ mở cửa mà đấy cũng lại là hai quốc gia tự xưng là xã hội chủ nghĩa.

Hỏi: Nếu như không có cải tiến thì tình trạng này có thể kéo dài được bao lâu" Và những gì có thể xảy ra sau đó"

Nếu nhìn vào lịch sử Á châu trong trường kỳ với nhãn quan kinh tế thì nhiều biến động lớn có thể đã xảy ra vì khủng hoảng kinh tế và vì nạn lạm phát, trước khi từ ngữ này được phát minh. Nhà Minh sụp đổ năm 1644 cũng vì lạm phát khiến nông dân nổi dậy. Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch cũng bị thua trận vào năm 1949 trước tiên cũng vì nạn lạm phát. Và vụ khủng hoảng Thiên An Môn khiến mấy ngàn người Trung Hoa bị tàn sát vào tháng Sáu năm 1989 cũng do nạn lạm phát châm ngòi. Vì vậy mà chính quyền Bắc Kinh đang coi lạm phát là vấn đề sinh tử và ráo riết đề phòng để khỏi bùng nổ thành động loạn sau Thế vận hội Bắc Kinh vào tháng Tám này.

Lạm phát tại Việt Nam cũng thế, nó đang phơi bày nhiều nhược điểm của cơ chế chính trị và hệ thống quản lý kinh tế của xứ này. Ở một quốc gia có dân chủ, nếu chính quyền bất lực để dân đói khồ thì chính quyền đổ và người dân bầu ra một nội các mới để cải thiện tình hình. Tại Việt Nam và Trung Quốc, vì cơ chế chính trị hiện hành, khủng hoảng kinh tế sẽ biến thành động loạn xã hội và tất yếu trở thành khủng hoảng chính trị vì không thể thay thế chính quyền được.

Nếu không sớm giải trừ được lạm phát thì chẳng những uy tín của đảng và nhà nước bị sa sút mà cả đường lối gọi là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" cũng bị người dân chối bỏ. Cho nên, chuyện vật giá leo thang tại Việt Nam không chỉ là một vấn đề kinh tế nhất thời. Nó là chuyện rất đáng lo, nhất là trong khung cảnh có nhiều bất trắc của kinh tế thế giới trong năm nay.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.