Hôm nay,  

Chuyện Đời Muôn Thuở

23/09/201000:00:00(Xem: 11066)

Chuyện Đời Muôn Thuở

Nguyễn Thượng Chánh
Trong cuộc sống hằng ngày trong gia đình cũng như ngoài xã hội không ít người thường có thói quen hay phán xét, chỉ trích, khen chê tốt xấu. Đôi khi đem chuyện không được tốt đẹp của người nầy đi kể cho ngưòi khác nghe.
Họ có thể nói xấu người vắng mặt, nói xỏ xiên, nói móc lò, nói châm biếm, thêm bớt, bóp méo sự thật, diễn giải khác đi, dèm pha, thêu dệt, gây nghi vấn, tạo sự ngộ nhận với mục đích là để tỏ ra mình biết hơn người hoặc để hạ uy tín hay danh dự của một người nào đó.
Thường là họ đem chuyện tiêu cực của người khác ra mà kể. Còn chuyện tốt thì bị họ cố tình lờ đi. Đúng với câu “tiếng lành đồn gần, tiếng dữ đồn xa”
Phán xét chuyện của người khác
Có thể bằng lời nói, lời viết, bằng cử chỉ , bươi móc vạch lá tìm sâu, bằng thái độ thờ ơ, ngạo mạn, khinh rẻ...
Phán xét có thể đúng, sai, thiên vị, chủ quan hay khách quan.
Dường như phán xét tiêu cực để đả phá, để hạ, để trả thù cho bỏ ghét thường hay thấy xảy ra hơn phán xét tích cực để khen thưởng hoặc để giúp người ta sửa sai.
Phán xét chịu ảnh hưởng của tình cảm cá nhân, tùy theo góc cạnh, cách nhìn một vấn đề, tùy theo trình độ hiểu biết, quyền lợi cá nhân và cũng tùy theo quan điểm chánh trị hay tín ngưỡng của một người.
Phán xét có thể thay đổi theo tuổi tác, theo thời gian và theo không gian.
Tuy nhiên trong xã hội cũng có một hạng người lúc nào cũng muốn chứng tỏ họ luôn luôn  hơn người. Họ thường hay bác bỏ, đả kích bất cứ một hành động, một lời nói nào dù đúng hay sai của người khác.  Khoa tâm lý học gọi nhóm người nầy là những người bị rối loạn nhân cách ái kỷ (narcissisme).
Ngoài ra còn vấn đề khen chê giả dối, trở cờ vì gió đã xoay chiều, vì xã giao, để lấy lòng, để kiếm điểm, để nâng bi, thượng đội hạ đạp. Trước mặt thì khen, nhưng sau lưng thì bỉu môi, thì chửi lén.
Các nhà phân tâm học đả nói gì về vấn đề phán xét"
Je juge tout le monde. Psychologies.com
http://www.psychologies.com/Moi/Se-connaitre/Comportement/Articles-et-Dossiers/Je-juge-tout-le-monde
Trong số Psychologies no 279, nov 2008 nhà phân tâm học Norbert Chatillon đã cho biết khi mình phán xét người khác là chính mình tự phán xét mình (juger l’autre, c’est porter un jugement sur soi).
Chính sự tương đồng hoặc sự khác biệt với người khác làm mình khó chịu nên không thể nào xác định được bản sắc identité của mình. Vậy, cách tự vệ tốt nhất là mình phải tấn công bằng cách phán xét họ.
Phán xét rất chủ quan và chịu ảnh hưởng của định kiến.
Từ việc chỉ trích để xây dựng đến kết tội thì cũng không mấy xa nhau, chỉ cần có thêm vài ba chữ mà thôi.
Phán xét được xem là có ích khi nó giúp cải thiện và xây dựng được bản sắc của mình. Trong trường hợp nầy sự phán xét sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn chính chắn về xã hội quanh ta. Phán xét trở nên độc hại khi nó rơi vào cực đoan, khinh mạn, để hạ, để chà đạp người khác nhằm mục đích che lấp bớt cái dở, cái yếu kém, cái thua thiệt của mình hầu có được cảm giác thượng tôn hơn người.
Tuy vậy, phán xét cũng  rất cần thiết để giúp chúng ta có ý kiến, nhưng đôi khi nó trở thành một lối khinh miệt đưa đến sự kết tội người khác.
Mặc dù thành kiến là cội nguồn của sai lầm và bất công, nhưng triết gia Đức Immanuel Kant (1724-1804) cũng đã nhắc nhỡ chúng ta cần phải có bổn phận phán xét. Đó là trong trường hợp phải phán xét kẻ sát nhân, và những kẻ phạm tội tình dục, hiếp dâm.Đây là những trọng tội trong xã hội.
*Theo các nhà phân tâm học, chúng ta thường có khuynh hướng hay phán xét những hành động vô luân immoralité nếu trong tiềm thức chúng ta cũng có những tư tưởng tương tợ. Có thể nói rằng đây là một cách để mình tự trừng phạt lấy mình.
*So sánh mình không giống với người khác. Khi phán xét cái xấu của một người thì rõ ràng là mình muốn chứng tỏ là mình khác với người ta. Thí dụ, anh kia sao làm biếng quá. Mình khác hơn anh ta, có nghĩa là mình là người siêng năng hơn.
*So sánh điểm tương đồng và sự giống nhau với họ nếu họ có những điểm quá hay. Thí dụ, tôi có cùng tuổi, ở cùng làng, hồi nhỏ tôi học cùng trường với người đó v,v…
*Phán xét bề ngoài, nhân dạng của một cá nhân có nghĩa là mình ngi ngờ về hình ảnh của chính mình. Tôi có khá hơn không" Tôi có thua kém hơn họ không" Qua việc phán xét mình quên đi trong chốc lát những điểm yếu của mình. Mình chỉ chú tâm vào người khác.
Phán xét bề ngoài có thể bắt nguồn từ sự ganh tị, thường hay thấy ở phái nữ với nhau.
*Sự thông minh ở người đàn ông đồng nghĩa với sự cường tráng virilité.
Phán xét sự thông minh ở người đàn ông chẳng khác nào đem họ đi thiến.
*Cách hành động và cư xử. Tấn công vào lối cư xử lố bịch của một người là một cách gián tiếp để mình tự xác định là lúc nào mình cũng đàng hoàng, ngon lành hơn họ và đồng thời mình thuộc vào nhóm người có tư cách hơn. Thái độ nầy cho thấy chúng ta có tâm địa hẹp hòi hoặc là chúng ta sợ bị thải trừ ra khỏi xã hội.
Đứng về mặt xã hội, một người tốt, có giáo dục là một người mà chúng ta có thể giao tiếp được.
Ý niệm nhờ giáo dục (gia đình và học đường) mà một người trở nên tốt là những ý niệm chúng ta đã hấp thụ được từ lúc nhỏ và cũng là điều mà chúng ta thường truyền đạt lại cho lớp con cháu. 
*Phán xét về ý kiến là một loại phán xét khá phổ biến. Trong các sách dạy về cách xử thế, chúng ta được khuyên là nên tôn trọng ý kiến của người khác mặc dù mình không đồng ý với họ.
Văn hào Pháp Voltaire (1694-1778) có nói một câu để đời : « Tôi có thể không đồng ỳ với những gì anh nói ra, nhưng tôi sẽ bảo vệ quyền phát biểu của anh cho đến chết » ( I do not agree with what you have to say, but I’ll defend to death your right to say it. »
Bá nhơn, bá tánh, trăm người trăm ý và cũng xin đừng quên hiện có 7 tỉ người đang sống trên quả đất.
Các tôn giáo lớn nói gì về vấn đề phán xét"
Thiên Chúa giáo :


Kinh Thánh St Luc có nói trước khi phán xét người khác thì nên tự hỏi mình có trong sạch hơn họ không" «  Tại sao các ông để ý tới hạt bụi trong mắt người ta nhưng lại bỏ qua khúc gỗ nơi mắt của mình. » (Why do you look at the speck of sawdust in your brother’s eye and pay no attention to the plank in your own eye") Mathew 7:2-5 (NIV).
Chỉ có Chúa mới có quyền phán xét con người.
Matthew 7:1 (NIV) 
7 “Do not judge, or you too will be judged
Matthew 7:2–5 (NIV)
For in the same way you judge others, you will be judged, and with the measure you use, it will be measured to you.
Phật giáo: 
Phải có một cái nhìn đúng đắn và trong sáng (vision nette). 
Theo như cư sĩ Nguyên Giác Phan Tấn Hải cho biết: 
Đức Phật không hề nói đừng bao giờ phán xét người khác. Câu đó là của Chúa Jesus trong Kinh Thánh.
Ngược lại, Đức Phật yêu cầu đánh giá người khác, để tìm bạn tốt, và tránh xa bạn xấu. Có hai chỗ có thể đọc về Thiện Tri Thức:
TĂNG NHẤT A-HÀM
Hán dịch:  Tam tạng Cù-đàm Tăng-già-đề-bà, người Kế Tân, thời Đông Tấn
Việt dịch: Thích Đức Thắng; Hiệu chú: Tuệ Sỹ
20. PHẨM THIỆN TRI THỨC
http://www.phatviet.com/dichthuat/kinhtang/Tangnhat_A_ham/Tn_00.htm
Tự Điển Phật Giáo - Đại Tạng Kinh:
Thiện tri thức
http://tudien.daitangkinhvietnam.org/index.php"title=Thi%E1%BB%87n_tri_th%E1%BB%A9c
Mặt khác, Đức Phật yêu cầu tự do trạch vấn, nghi ngờ (nghĩa là đánh giá -- judging) ngay cả đạo sư. Trong Kinh Kalama: "Này các Kalama, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng, chớ có tin vì nhân lý luận, chớ có tin vì nhân suy luận, chớ có tin sau khi suy tư về những dữ kiện, điều kiện, chớ có tin theo thiên kiến, định kiến, chớ có tin vì thấy thích hợp với khả năng, chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Ðạo Sư của mình.
...tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình y tựa chính mình, không y tựa một cái gì khác, dùng chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác.
Nói xấu người khác (médisance)
J’adore dire du mal. Psychologies.com
http://www.psychologies.com/Moi/Se-connaitre/Comportement/Articles-et-Dossiers/J-adore-dire-du-mal
*Hắn ta tìm mọi cách để thành công
Thí dụ: “Bạn có biết không, nghe nói ông A đã có thời đã ngồi tù về tội lường gạt.”
Theo nhà xã hội học Jean Bruno Renard  thì người nói xấu cố tình gieo rắc những tìn không tốt về một người nào đó và họ cho rằng đó là tin có cơ sỡ đáng tin cậy.
Cho dù nguồn tin có đúng hay sai đi nữa thì người nói xấu vẫn có thể chứng minh thái độ ngay tình, ý tốt của anh ta (hay chị ta) muốn thông tin, cảnh báo thiên hạ về một mối hiểm nguy.
*Để tạo mối giao hảo xã hội (pour créer un lien social)
Kẻ nói xấu cố tạo cho họ một cái vỏ thiện cảm: các lời chỉ trích của hắn ta đều có vẻ có ích lợi. Nó chứng tỏ hắn cũng biết một cái gì đó ở nạn nhân với ngụ ý là hắn ta khá hơn người đó rất nhiều.
Nói xấu người khác, có nghĩa gián tiếp là mình nói điều tốt về mình và cả cho những người chịu nghe hắn kể.
Sau những câu nói xấu đều có tìm ẩn cái ý sau đây: Tôi kể cho bạn chuyện đó vì tôi không phải là hạng người như thế và cũng tại vì tôi biết các bạn cũng không phải như vậy.
*Thiếu lòng tự trọng (manque d’estime de soi)
Tại sao không tạo mối giao hảo xã hội bằng cách kể những chuyện có tính cách tốt và xây dựng"Theo nhà tâm lý học Isabelle Filliozat: «kẻ nói xấu người khác có cảm giác là hắn ta chẳng có cái gì riêng để kể hết». Hắn ta nói chuyện về một người bạn láng giềng, về một người đồng nghiệp vì không còn chuyện nào khác để kể, vì hắn nghĩ rằng nếu đem chuyện mình ra kể thì chả có hấp dẫn một ai hết.
Những lời nói xấu nhắm vào người khác là một báo hiệu của một tình trạng tuyệt vọng détresse của một người không còn lòng tự tin và tự trọng nữa (confiance et estime de soi).
*Vì họ thích nói xấu người khác (par envie)
Thiếu lòng tự tin vào chính mình sẽ kéo theo tình trạng họ không dám tự khẳng định (s’affirmer).
Trong đời sống, họ luôn luôn mang tâm trạng tức giận, bực bội và từ đó tạo nên sự giận dữ.
Nếu họ nhìn nhận là họ tức giận thì đó chẳng khác nào họ xác nhận sự yếu hèn của họ hay sao"
Ngưòi ta thường nói sự tức giận là vũ khí của kẻ hèn yếu (la colère est l’arme des faibles).
Vì vậy, từ vô thức họ chĩa mũi dùi vào người khác, đặc biệt là vào những người tài giỏi, những người thành công và may mắn hơn họ. « Thằng đó có tài nghệ gì đâu. Chức giám đốc của nó chẳng qua là do chạy chọt đút lót, nhờ phe đảng, nhờ quen lớn mà thôi… »
*Vì phóng chiếu (par projection)
Trong nhiều trường hợp khác, họ nói những gì mà họ ghét và khinh tỡm nhất trong chiều sâu của họ. Thí dụ : Bà đó tham lam quá, thằng đó quá qui kỷ (égocentrique). Nó tưởng nó là trung tâm của vũ trụ.
Theo nhà phân tâm học Philippe Grimbert :  « Mình sẽ phịa ra hay chỉ đích danh cho mọi người biết, những nét mà mình không ưa, mình không chịu đựng được vì đó chẳng qua là những khía cạnh mình đang mang trong người mà chính mình cũng không có thể nào chấp nhận được. »
Sự nói xấu dựa trên hiện tượng tâm lý học gọi là phóng chiếu: mình gán cho người khác một phần của chính mình mà mình từ chối không chấp nhận hay mình ý thức rằng không thể nào nhận biết nó được.
Dans d’autres cas, au contraire, on parlera beaucoup de ce qui nous rebute profondément : « Celui-là est un égocentrique », « Celle-là est radine »… « On va inventer ou montrer du doigt chez autrui des traits de caractère que l’on ne supporte pas, parce que ce sont justement des aspects que l’on possède en soi et que l’on ne peut accepter », explique le psychanalyste Philippe Grimbert. La médisance repose alors sur un phénomène dit de projection : on attribue à l’autre une part de soi-même que l’on refuse ou que l’on est consciemment incapable de reconnaỵtre.
Kết luận
Nếu không nói ra được những điều gì tốt đẹp thì tốt hơn hết là đừng nên nói gì hết.
(If you can’t say someting nice, don’t say anything at all).
 Montreal, Oct 25, 2010

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.