Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Nguyễn Thông: Thân Thế Và Sự Nghiệp

16/07/200500:00:00(Xem: 5052)
Kính nhớ Quý Ân Sư Võ Trác, Nguyễn Văn Công, Lê Tá, Nguyễn Thanh Tùng, Lê Khắc Anh Vũ.. iêng Giáo Sư Nguyễn Minh Đức, hậu duệ Cụ Nguyễn Thông, hiện ở CA - Hoa Kỳ
Tại Đông Kinh ngày 16-8-1945, Nhật Hoàng đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Tin trên được công bố, làm cho người Việt khắp ba kỳ hân hoan phấn khởi. Ai cũng ngỡ, thế là từ đây, đất nước sẽ thoát khỏi vũng bùn ô uế của hơn 80 năm bị thực dân Pháp chà đạp đô hộ. Việt Nam sẽ được ngẩn mặt nhìn trời cao đất rộng, như cha ông ta một thời ngang dọc khắp miền Đông Nam Á. Nhưng than ôi, đó chỉ là mộng mị trăng sao, vì vận mệnh của các dân tộc nhược tiểu thời nào, cũng do bọn thực dân da trắng da vàng quyết định. Cho nên có thoát được hay không đều do sự khôn ngoan, tài trí và lòng ái quốc của các cấp lãnh đạo. Những quốc gia Aán Độ, Miến Điện, Mã Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân lúc đó may mắn, vì nhờ các chủ nhân ông Anh và Mỹ khôn ngoan, theo thời, nên đã cho các thuộc địa trên độc lập. Riêng Đông Dương thì chẳng bao giớ có may mắn trên, dù Pháp đã bị Nhật hất chân từ tháng 3-1945 nhưng lòng tham của tướng De Gaulle, lúc đó đang lãnh đạo chính phủ lâm thời Pháp, cộng với dã tâm của Hồ Chí Minh và cọng đảng đệ tam quốc tế, muốn có chiến tranh với Pháp, để dành quyền lãnh đạo đất nước. Tất cả những oan khiên trên, đã khiến cho non sông Hồng Lạc, tưởng rằng được hòa bình hạnh phúc, lại biến nên lửa máu hận thù suốt 30 năm, cho tới nay dân-nước vẫn còn nguyên vẹn, nổi đau nhục của nhược tiểu VN như hồi còn nô lệ ngoại bang.
Để giải giới quân Nhật tại Đông Dương, các nước thắng trận quyết định giao cho quân Anh-Aán và Trung Hoa quốc gia, trách nhiệm hai bên làn ranh vĩ tuyến 16. VN lúc đó do quốc trưởng Bảo Đại cầm đầu với nội các của chính phủ Trần Trọng Kim. Nhưng Bảo Đại trước sau cũng chỉ là một người tầm thường nói không ai nghe. Còn chính phủ quốc gia lại loạn xà ngầu vì thành viên đa số là bọn khoa bảng học ở bên Tây về, hám danh chỉ biết có tư lợi và cá nhân. Rốt cục, quyền lực quốc gia bị tan vở, thủ tướng Trần Trọng Kim phải từ chức, cả nước như rắn không đầu, đã tạo nên cơ hội ngàn vàng cho Việt Cộng, trong tay có vài ba chục khẩu súng dễ dàng cướp giựt chính quyền. Sự mai mỉa nhất của lịch sử VN cứ quanh đi quẩn lại trùng hợp, như năm 1945, trong lúc Hồ Chí Minh và bộ hạ đang bù đầu tính kế chuẩn bị'tổng khởi nghĩa'tận khu rừng già Tân Trào, Kim Lộng, thì tại Hà Nội, các đảng viên CS Nguyễn Quyết, Nguyễn Khang..với vài ba chục súng, dao găm, mã tấu, hù ép Nguyễn Xuân Chữ giao chính quyền. Tình trạng cướp giựt này lại lan tới Huế, Phan Thiết và Nam Kỳ.
Tóm lại chỉ không đầy hai tuần lễ, lá cờ máu đỏ sao vàng, được sao chép từ lá cờ mẹ tại Nga-Tàu và cái tên Hồ Chí Minh lạ hoắt, mới bắt đầu được thấy nhắc, trong dư luận quần chúng thời bấy giờ.
Theo sử liệu, thì đúng 2 giờ chiều ngày 2-9-1945, nhằm ngày 26 tháng 7 năm Aát Dậu, lễ ký kết đầu hàng của Nhật đã diễn ra trên soái hạm Missouri ngoài khơi Đông Kinh, thì cũng là lúc Hồ Chí Minh, lần đầu tiên xuất hiện, cùng với đám bộ hạ, trên khán đài tại Hà Nội. Cũng qua câu chuyện này, báo chí VC trước đây đã đưa ra nhiều tình tiết quảng cáo đầy mâu thuẩn, về thời gian đầu tiên Hồ có mặt tại VN. Mới đây, theo báo đảng, thì sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại, năm 1940 lúc đó Hồ đang ở Tĩnh Tây (Trung quốc), cùng với Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Đặng văn Cáp..quyết định dời về hang Pắc Pó trong tỉnh Cao Bằng,ngay tại cột mốc số 108 biên giới Việt-Trung. Ngày 6-2-1941, Hồ phân công cho Đồng và Giáp ở lại Tĩnh Tâm, còn những người khác như Phùng chí Kiên, Lê Quảng Ba,Hoàng văn Hoan, Thế Am, Đặng văn Cáp..từ Nậm Quang về ở trong hang Pắc Pó. Tóm lại năm 1941, Hồ Chí Minh chưa đặt chân trong nội địa VN. Mà chỉ sống quanh quẩn tại biên giới, trong địa phận Quảng Tây (Trung quốc). Pắc Pó gồm có hai hang ngoài và trong, theo sử liệu Hồ ở hang trong, do trên ngày nay còn thấy hình và tên núi Các-Mác, suối Lê-Nin..Pắc Pó nằm cách thị xã Cao Bằng chừng 40 km. Riêng Bộ Đội Cọng sản, được thành lập ngày 22-12-1944 tại rừng Trần Hưng Đạo, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, với tên gọi lúc đầu là Đội tuyên truyền giải phóng quân, vỏn vẹn chỉ có 34 người là Trần văn Kỳ (tức Hoàng Sâm-Đội trương), Dương Mạc Thạch (Xích Thằng-Chính trị viên), Ngô Quốc Bình (Hoàng văn Thái-tình báo), Lâm Cẩm Như (LâmKính), Lộc văn Lùng, Hoàng Thịnh, Đàm quốc Chủng, Đức Cường, Bế văn Sắt, Luân Mông, Phúc Thơ, Nguyễn văn Kiểm, Ma văn Phiêu, Chu văn Đế, Bế văn Vạn, Nông văn Bê, Hồng Cô, Nguyễn văn Phán, Đặng Dần Quý, Hoàng căn Nhung, Trung Đắc, Dương Đại Long, La Thanh và Ngọc Trinh. Tất cả do Võ Nguyên Giáp chỉ huy.
Khai mạc buổi lễ cướp chính quyền, Hồ Chí Minh mượn nguyên văn bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và bản tuyên ngôn nhân quyền của Pháp năm 1791, để làm tài liệu phát biểu, cùng với những lời dao to buá lớn, khích động nhân tâm và sau rốt là rủ nhau đi đập phá các pho tượng Paul Bert, Jean Dupuis..tại các công viên khắp thành phố Hà Nội..như báo trước cảnh núi xương sông máu sắp tới, trong đó hầu hết là của những người yêu nước và nạn nhân chiến cuộc. Tất cả đều làm vật lót đường để Hồ Chí Minh cùng một thiểu số bộ hạ thân tín trong đảng cọng sản, toàn thắng vinh quang.
Sau khi theo chân quân Anh-Aán vào Sài Gòn, cưỡng chiếm Nam va Trung Phần, đồng thời được Hồ Chí Minh cho nhập đất Bắc, thực dân Pháp và cọng sản đồng diễn một màn kich, qua cái gọi là chin năm kháng chiến, thực chất là không cần thiết nếu lúc đó không có sự hiện hữu của Việt Cộng. Ngày 9-12-1946, ngay khi cuộc chiến bùng nổ, tờ Le Monde của Pháp đã viết :' tất cả hai phía đã châm lửa vào lò thuốc súng . Nếu VN là tia lửa, thì địa ngục khổ đau là do guồng máy chính quyền Pháp lúc đó. Tóm lại trách nhiệm đều do hai phía'. Cái nhìn đó phải chăng là tiếng nấc nghẹn ngào của chúng ta hôm nay, trước những sự thật điếng hồn của lịch sử, càng lúc càng bi phanh phui ra ánh sáng. Ai cũng biết De Gaulle là tên đại thực dân của thế kỷ XX, thay vì vừa thoát được ách nô lệ của Đức, người Pháp sẽ thức tĩnh, xét lai những quả báo vừa mang. Nhưng qua quyền lãnh đạo chính phủ lâm thời nước Pháp lúc đó, De Gaulle đã vội nuôi ảo vọng tái chiếm lại cái thuộc địa giàu có béo bở nhất trong khối Liên Hiệp Pháp lúc bấy giờ. Dù không ăn nhập gì tới việc giải giới quân viễn chinh Nhật tại bán đảo Đông Dương, nhưng qua sự phản bội của chính phủ Anh và Thống chế Tưởng Giới Thạch, đã giúp Pháp quay về VN một cách chính thức. Để thực hiện cuộc cưỡng chiếm VN lần thứ hai (1945-1954), De Gaulle đã vội bổ ngay đô đốc Thierry d'Argenlieu làm Cao Uỷ Đông Dương, để khôi phục lại chủ quyền nước Pháp tại đây. Điều này đã gây nên nhiều sự bàn cãi tại thủ đô Ba Lê, kể cả viên phụ tá của Cao Uỷ Đông Dương là tướng Leclere de Hautelocque , cũng gọi đó là một hành động điên rồ. Rồi cơ hội hiếm có giúp cho phe thực dân đạt được ý nguyện, khi tình hình nước Pháp đầy xáo trộn, phải thay đổi liên tiếp bốn lần thủ tướng như DE Gaulle, Félix Gouin, Georges Bidault và Léon Blum, đã tạo nên một khoảng trống quyền lực, để phe chủ chiến tự do tự tác mà không bị ngăn cản. Tại Hà Nội, hai đại bịp Hồ Chí Minh và Sainteny đem vận mệnh của đất nước và dân tộc VN ra chiếu bạc tranh hùng. Điều này ngày nay đã được chứng minh bằng một bức điện mật, do Sainteny viết ngày 8-12-1946, được lưu trữ trong văn khố Pháp, vừa cho giải mã. Theo đó, Pháp để cho Hồ Chí Minh phát động lệnh tổng khởi nghỉa, có như vậy Hồ và Đảng cọng sản mới danh chánh ngôn thuận, đứng lên lãnh đạo đất nước qua Mặt Trận Việt Minh. Có như vậy, thực dân Pháp mới biện minh lý do tại sao lại có chiến tranh tại VN, trong lúc cả thế giới đang cổ xuý phong trào giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Như thế, rõ ràng qua hai áp lực, quốc dân VN không còn sự lựa chọn nào khác hơn, lúc đó là phải đứng chung với Việt Cộng, do chúng lèo lái, để đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nưôc của mình. Trong tác phẩm ' Nền đệ tứ cộng hòa', xuất bản năm 1959, sử gia Pháp là Jacques Fauvet, gọi chiến tranh Đông Dương 1946-1954 được đề ra do bọn lãnh đạo ngu dốt, không phân minh và đầy lừa đảo. Nó có thể tránh được, nếu hai phía thực lòng. Rốt cục đã cướp đi hằng vạn mạng sống con người và tạo cơ hội để Hồ Chí Minh đem chủ thuyết và cùm xích Mác-Lê-Mao về dầy xéo đất nước và dân tộc mình, tới nay vẫn không ngoi lên khỏi vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xã nghĩa.
Nhưng có một điều dù muốn hay không muốn nhìn nhận, đó là trùm cọng sản đệ tam quốc tế, qua cái tên cuối cùng ' HỒ CHÍ MINH' thật sự đã thao túng một phần lịch sử VN cận đại, trong hơn nửa thế kỷ. Đây là một nhân vật ảo, mà mãi tới ngày cướp chính quyền tại Hà Nội, người ta mới thấy qua nhân dạng của một người đàn ông trạc ngũ tuần, gầy gò bé nhỏ, phát âm trọ trẹ kiểu Thanh Nghệ, mặc đại trào theo kiểu Mao Xếch Sáng, bốn túi, thế thôi. Nhiều sự kiện lịch sử, ngồi đọc lại, cảm thấy xấu hổ về sự tuyên truyền quá mức của những bồi bút văn nô VC tại Bình Thuận. Thực tế cho tới năm 1945, cả nước trong đó có các nhà trí thức và các đảng phái cách mạng quốc gia từng theo dõi và dấn thân vào dòng sinh mệnh dân tộc, thế nhưng họ chưa biét hoặc chỉ hiểu một cách đại khái mơ hồ về nhân vật Nguyễn Aùi Quốc-Hồ Chí Minh. Thế nhưng tại Bình Thuận-Phan Thiết, một địa phương mà hầu hết người dân quanh năm suốt tháng chỉ lo sinh kế trên sóng biển và trong các lều nước mắm, thậm chí tới bây giờ kể cả những người có học thức, hỏi họ về chuyện công ty Liên Thành, trường Dục Thanh hay anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, ai cũng lắc đầu không biết. Như vậy bằng cách nào mà ngay từ năm 1917, người dân Phan Thiết đã rỉ tai về Lê Nin và cách mạng tháng 10 Nga hay đồng chí Nguyễn Aùi Quốc "
Đến bây giờ mà các sử gia vẫn tuyên bố, chưa tìm hết các tên của Hồ Chí Minh, dù hầu hết văn khố trên thế giới kể cả Nga vừa mở năm 2003 có phần riêng các lãnh tụ đỏ Châu Á, trong đó có VN. Đây là một nhân vật trăm tên, ngàn mặt, bước vào giang hồ, qua anh thanh niên thầy giáo Nguyễn Tất Thành, tại một ngôi trường gần như chỉ có trong huyên thoại và bia miệng của những người làm nghề sản xuất nước mắm, mang tên Dục Thanh tại Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận vào năm 1911. Sau đó Thành xin làm bồi trên một thuơng thuyền Pháp với mục đích sang Tây du học tại trường thuộc địa, để có phương tiện nuôi mình và cứu đói ông bố đang đói rách tại VN vì bị cách chức quan. Rồi tới năm 1945, qua cái tên Hồ Chí Minh, nghiễm nhiên leo lên ghế Chủ tịch nước VN dân chủ Hà Nội cho tới năm 1969 qua đời. Chết nhưng xác thì vẫn được ướp và nằm tại lăng Ba Đình, hằng ngày có máy đưa lên kéo xuống cho thiên hạ coi. Khôi hài hơn vào tháng 5-1990, cái gọi là Unesco của Liên Hiệp Quốc, định đem Hồ lên ngai thần tượng nhà văn hóa, tư tưởng, ái quốc..thì bị quốc dân VN tại hải ngoại đã đảo, thưa kiện và làm lớn chuyện, khiến mọi sự phải dẹp tiệm.
Ngày nay, nói chung khi nhắc tới nhân vật ' SIÊU TRÙM ' này, đã có hằng núi sách vở, bia miệng, bia đời, hồn oan nhắc nhớ. Một nhóm quần thần, đệ tử, trong đó không ít trí thức thiên tả..coi Hồ là thánh có pháp thuật biến hóa, còn hơn Hồ Ly hay Tề Thiên trong Tây Du Ký, chuyện gì cũng biết, cũng giỏi hơn hẳn mọi người trong cõi nhân gian xưa nay, kể cả Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Chính vậy, mà những điều hôm nay được cơ quan Đảng cho biết về NGƯỜi, làm cho bất cứ ai, dù có máu trào phúng cũng không thể cười nổi, trong đó có chuyện ' bác còn trinh', vì không một ai ở trong cái thế giới văn minh này, lại tin đó là những điều có thật. Ngoài ra Phạm Khắc Hòe, Phạm văn Đồng và nữ văn sĩ cộng sản Ý Hélène Tourmaine, còn ghê gớm hơn, đã hoá kiếp để Hồ nhập vào xác Phật, Chúa, Lenin và Mac, khiến cho Hồ trường sinh bất tử không còn ai theo kịp. Nhưng cũng thảm lắm qua dòng thác lũ chống đối. Thôi thì không còn sót một thứ chữ nào, để nguyền rủa tên gian tặc bán nước. Tóm lại tất cả những nợ nần vướng víu mấy chục năm qua , một mình Hồ Chí Minh lãnh hết. Từ năm 1983, hai sữ gia VN cận đại là tiến sĩ Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu, đã may mắn khai quật được trong nấm mộ thời gian, tại kho lưu trữ hồ sơ mật Pháp, ba lá thư viết tay của Nguyễn Tất Thành, viết sau khi tới Pháp vào năm 1911. Tất cả viết bằng chữ Pháp, hai lá xin được nhập học Eùcole Coloniale (Trường thuộc địa), lá thứ ba xin chính quyền thực dân can thiệp, hồi chức cho bố. Tâát cả đều viết vào tháng 9-1911 với hộ tịch rõ ràng. Qua nội dung ta biết Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Sinh Côn, sinh năm 1892 tại Kim Liên, Nghệ An. Con ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy. Thư viết với tâm nguyện 'Muốn được hữu dụng cho nước Pháp, để khai hóa người Việt'. Tất cả nội dung ba lá thư được công bố, đã làm sụp đổ hoàn toàn HUYỀN THOẠI xuất dương cứu nước của'bác' mà mấy chục năm, tai người Việt cả nước bị đau khổ vì bị nhồi nhét liên tục. Xui thêm 'bác' còn bị tố cáo là không còn trinh như đảng nói, vì có nhiều vợ con rơi rớt khắp nơi, trong đó chính ông tổng bí thư hiện nay là Nông Đức Mạnh, cũng con NGƯỜI. Góp phần xác quyết lý lịch các tên Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành rồi Hồ Chí Minh cũng chỉ một người, còn có bức điện số 1229 do chính Hồ viết ngày 9-11-1950 gởi cho ủy Ban Nhân Dân xã Kim Liên, phân ưu cái chết của người Anh ruột kế là Nguyễn Tất Đạt hay Nguyễn Sinh Khiêm, mất tại làng nhà vào ngày 15-10-1950. Trong thư còn nhắc tới bà chi cả là Nguyễn Thị Thanh, có ra Hà Nội thăm Hồ vào cuối năm 1946.
Theo Chánh Đạo trong ' VN niên biểu nhân vật chí', cho biết vào năm 1983, có phỏng vấn Hồ Tá Khanh tại Pháp, về việc anh thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học tại trường Dục Thanh, Phan Thiết vào năm1911. Hồ Tá Khanh sinh năm 1905 tại Phan Thiết, con Hồ Tá Bang, du học tại Pháp và tốt nghiệp Y sĩ , thuộc nhóm Văn Lang tại Sài Gòn. Từ ngày 17-4-1945, là Bộ trưởng kinh tế trong chính phủ Trần Trọng Kim. Tháng 8-1945, Khanh từ chức vì mâu thuẩn với chính phủ lúc đó và đến đảo Réunion, hành nghề y sĩ và mất tại Pháp năm 1987. Về vấn đề anh thanh niên Nguyễn Tất Thành, dạy học tại trường Dục Thanh, Phan Thiết, theo Chánh Đạo, thì Khanh cho biết đó chỉ là sự huyễn truyền. Nguồn tin này cũng theo Khanh, có lẽ là do người em gái tên Hồ Tá Bang Marguerite, vợ cũa Nguyễn Thành Giung đã tung ra.

Đứng trên phương diện sử quan, chúng ta hôm nay giống như người kể lại những chuyện xưa tích cũ, cho người đời sau biết, cho nên không hề thêm bớt hoặc mao tôn cương, theo kiểu viết sử của xã nghĩa thời trung cổ, chỉ biết nhắm mắt ca tụng lãnh tụ, mà không sợ người đọc mỉa mai khinh ói. Huống chi trên con đường đi tìm tung tích thật của ' bác hồ', vô vàn kính yêu, sống mãi trong quần, chúng ta, đã có hằng núi tài liệu sách vở, nên đâu ai dám thêm bớt hay tự kể chuyện NGƯỜI như Trần Dân Tiên đã làm hay ngay trong cửa miệng của Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Việt Thường, Trần Độ, Nguyễn văn Trấn..Tóm lại cuộc đời Hồ quả thật không biết đâu mà mò. Đã thế còn dinh líu tới nhiều nhân vật lịch sử như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang và con cháu Nguyễn Thông ở Phan Thiết. Nhưng nay thì tất cả lịch sử bi thảm đẫm máu của đệ tam cọng sản quốc tế, do Hồ mang từ Nga-Tàu về đàn áp và gây khổ đau cho đất nước VN, đã lộ nguyên hình dưới ánh sáng mặt trời, từ năm 1930-2005 sau chuyến đi Mỷ của thủ tướng Phan Văn Khải và chẳng biết chừng nào mới chấm dứt.

1- NGUYỄN THÔNG TRÊN MẢNH ĐẤT TỤ NGHĨA BÌNH THUẬN:
Tháng 2 năm 1859, quân Pháp chiếm được thành Gia Đinh, nhưng Trương Công Định đã đem dân quân, từ đồn điền Gia Thuận (Gò Công), lên Thuận Kiều cứu viện. Ngày 25-2-1861, đồn Chí Hòa bị quân Pháp chọc thủng, quân triều đình phải rút về Biên Hòa. Riêng Trương Định cũng lui quân về lập chiến khu chống giặc tại Tân Hòa, Gò Công. Đây là một căn cứ kháng chiến mạnh nhất thời bấy giờ tại Nam Kỳ, dù không có được vị thế hiểm trở như các chiến khu Đồng Tháp của Võ Duy Dương hay các nơi khác tại Trung và Bắc Việt. Do tấm lòng yêu nước nồng nàn, Trương Định đã chống lại lệnh của Triều đình Huế bãi binh và tới An Giang làm lãnh binh. Oâng ở lại củng cố và biến Tân Hòa thành một mồ chôn xác giặc. Chiến khu bao gồm một vùng đất rộng, phiá tây lên đến Giòng Ôâng Huê, phiá bắc có chiến lũy Đông Sơn, nằm dọc theo Rạch Lá, Sông Tra. Về phía đông nam, tới tận cửa Tiễu và bờ biển. Đại bản doanh đóng tại Giòng Sơn Quy có chiến lũy đắp bằng đất cao hơn 1m bao quanh, tiếp nối với tiền đồn Dung Giang, chạy vòng theo rạch Gò Công, bảo vệ Sơn Quy. Tướng Palanca, chỉ huy liên quân Pháp-Tây Ban Nha, nhận xét rằng, chiến lũy Gò Công có hai vị trí kiên cố và hiểm trở, đó là Dung Giang và Đông Sơn, đã gây rất nhiều thiệt hại cho quân viễn chinh. Còn một sĩ quan người Nga trong đơn vị Lê Dương Pháp cũng viết: "Gò Công là một đồn trại lớn, được xây doing kiên cố, trong căn cứ có 40 doanh trại và nhiều hầm tránh.".
Riêng Nguyễn Thông, trong Độn Am văn tập, có viết Lãnh Binh Trương Định truyện. Đây là một tài liệu lịch sử rất giá trị, vì Nguyễn Thông, chính là người đương thời, viết về các nhân vật yêu nước lúc đó, đang kháng chiến chống Pháp như Trương Định, Hồ Huân Nghiệp. Oâng viết: "tại các nơi hiểm yếu, đều có quân phòng giữ, còn Trương Định lãnh đại quân, đóng tại Gò Công.Những ngã đường dẫn vào chiến khu, đều có đồn bót canh giữ cản giặc Pháp. Trong đồn có súng đại bác. Tóm lại qua tài trí của Trương Lãnh binh, quân dân đã chiến đấu với giặc Pháp thật dũng mãnh, tạo nhiều chiến công hiển hách làm quân địch khiếp sợ. Cuối cùng thực dân phải dồn hết lực lượng viễn chinh mới hạ được phòng tuyến. Ngày 20-8-1864 Trương Định đền xong nợ nước, lúc vừa mới 44 tuổi. Danh tiếng và nghĩa khí của ông lưu danh thiên cổ.
Trong Nam tên họ, nổi như cồn
Mấy trận Gò Công để tiếng đồn
Dấu đạn làm rêm tàu Bạch quỹ
Hơi gươm thêm rạng thẻ hoàng môn..
Sau khi hòa ước Nhâm Tuất (1862) nhượng ba tỉnh miền đông cho thực dân Pháp, làm cho dân chúng cả nước và nhất là tại NamKỳ rất phẫn hận trước cảnh quốc phá gia vong. Mọi người kết tội Triều đình Huế nhu nhược và Phan Thanh Giản là người đã chủ hòa dâng đất cho giặc, nên đã có câu vè truyền tụng khắp dân gian:
"Phan-Lâm mãi quốc
Triều đình khi dân"'
Tháng 8-1867, toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ rơi vào tay giặc Pháp, Phan Thanh Giản uống thuốc độc tử xử, để tạ tội với quốc dân vì sự lầm lẫn của mình. Lịch sử sau này có phê phán nặng về ông nhưng không hề xếp Phan Thanh Giản vào chung với bọn phản tặc thời đó như Tôn Thọ Tường, Đổ Hữu Phương, Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân, Lê Hoan, Hoàng Cao Khải, vì ông không hề có ý định phản bội đất nước, mà chỉ vì quá khiếp nhược trước sức mạnh cơ khí của giặc, nên đi theo con đường hòa nghị. Rốt cục giặc vẫn hung hăng cưỡng chiếm hết Nam Kỳ bằng võ lực.
Mới đây tại kho lưu trữ hồ sơ mật của Pháp ở Paris, các nhà nghiên cứu VN tìm được ba bức thư, mang ký hiệu Fonds Berryer - 223AP.17.d.2, đề ngày 19-9-1863, 28-9-1863 và 10-10-1863, từ Nam Kỳ gởi cho Nghị sĩ Berryer, vốn là một luật sư, phát ngôn viên chính thức của Hạ Viện Pháp. Đại ý cả ba bức thư, yêu cầu Hoàng đế Pháp đừng triệu hồi quân viễn chinh Pháp đang trên đà chiến thắng về nước. Đừng cho Phái bộ Phan Thanh Giản chuộc lại ba tỉnh đã mất. Đưa ra những nguồn lợi và tài nguyên của Nam Kỳ và kết luận phải chiếm toàn bộ 6 tỉnh miền Nam, nêu không các nước khác sẽ đến tranh phần. Nói tóm lại, thái độ chủ hòa của triều đình Huế lúc đó chỉ là một hành động dư thừa và nhẹ dạ trước một nước đại thực dân như Pháp.
Trước cảnh quốc phá gia vong, một số lớn sĩ phu Nam triều tại 6 tỉnh đã mất, không chịu quy hàng và hợp tác với Pháp, nên đã ra Bình Thuận tị địa, tiếp tục cuộc kháng Pháp. Tiêu biểu trong số này có Nguyễn Thông, Trương Gia Hội, Trần Thiện Chánh, Trà Quý Bình.
Nguyễn Thông bắt đầu làm quan từ năm 1849 cho tới khi mãn phần tại Phan Thiết năm 1884. Nói chung sự nghiệp của ông hầu như gắn liền với nỗi trầm luân điêu đứng của đất nước, suốt thời kỳ vua Tự Đức trị vì trong suốt thế kỷ thứ XIX. Về sự nghiệp một đời còn lưu lại cho hậu thế, ngoài tài văn hay chữ tốt, ông còn làm được nhiều chuyện lớn lao, có ích lợi cho dân nước như xin vua tuyển chọn nhân tài vào các chức quan văn võ, khai khẩn đất hoang vùng tây nam tỉnh Bình Thuận (nay thuộc hai quận Tánh Linh và Võ Đắc-Bình Tuy) và quan trọng hơn hết là cùng với Phan Thanh, bí mật chỉ huy cục tình báo phương nam của triều đình Huế, chống lại giặc Pháp. Tiếc thay các tài liệu quý giá có liên quan tới các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời đó, đặc biệt là tại Bình Thuận, phần lớn đều bị thực dân tiêu hủy hay bọn văn nô cọng sản lấn láp bịa chuyện thay đời. Tệ hơn là các chương trình giáo dục của chính phủ quốc gia, với chủ trương lừng khừng không độc lập, còn lệ thuộc quá nhiều vào tầng lớp phong kiến, quan liêu và sợ mích lòng, nên những danh nhân chí sĩ yêu nước làm rạng danh người Bình Thuận như Nguyễn Thông, Nguyễn Xuân Oân, Ưng Chiếm, Bùi Hành, Cao Hàng, Phan Chánh, Lê Công Chánh, Tống Hưng Nho, Nguyễn Đăng Giai không hề có tên đường, trái lại Đồng Khánh, Khải Định, Thái Lập Thành lại có tên đường, thật là một chuyện khôi hài.
Do tình trạng trên, ngày nay chúng ta chỉ biết một cách đại khái mơ hồ về các bậc tiền bối trên. Tuy nhiên không ai không ngậm ngùi cho số phận của những anh hùng liệt nữ, một đời dấn thân, rốt cục chỉ âm ba trong tiếng trống vọng tang điền,
"Bãi sông mưa tạnh, chim về
Tù và ai rúc, bóng che nữa lầu
Lửa thiêng thành quách nào đâu"
Bạn xưa gặp nạn, dãi dầu long đong
Đổ Lăng xa nước khóc ròng."
Nhìn lại lịch sữ, ta biết năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành mất. Vua Minh Mạng vì cái hận lập đông cung thái tử ngày trước, nên nhân dịp Tổng trấn mới là Nguyễn văn Quế, Bạch Xuân Nguyên vu cáo. Triều đình đã tru di họ Lê, đào mả Tả quân, vì thế Lê văn Khôi mới phản loạn tại Nam Kỳ vào năm 1833. Ngoài Bắc thành, loạn lạc nổi lên khắp nơi như giặc Phan Bá Vành, Lê Duy Lương khiến quân triều đình phải đánh dẹp thật vất vã. Năm 1858 Pháp nổ súng tấn công thành An Hải, trên bán đảo Sơn Chà (Đà Nẳng), gây thong vong cho nhiều thường dân vô tội nhưng bị phản ứng dữ dội, nên đã bỏ đi. Mùng chín tháng giêng năm Kỹ Mùi (1859), liên quân Tây Ban Nha-Pháp, cưỡng chiếm Sài Gòn và mở màn tấn bi kịch cướp nước VN, mà bước đầu là đất Nam Kỳ.
Năm 1861, Pháp đánh Cần Giuộc, Tân An và Gò Công, sau khi hạ thành Kỳ Hòa. Lúc này Nguyễn Thông đang làm Tham mưu phó cho Tán tương quân vụ Tôn Thất Hiệp. Cuộc chiến đấu trở nên ác liệt, giữa Pháp và quân Triều đình với sự hợp tác của quân dân tại các đồn điền, dưới sự chỉ huy của Trịnh Quang Nghi, Trương công Định, Phan văn Đạt, Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Duy. Để truy điệu quân dân, đã bỏ mình vì nước, Đồ Chiểu đã viết 'Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc'. Đây là một trong những áng văn bất hủ trong dòng thơ ái quốc của dân tộc.
Năm 1862, Triều đình ký hiệp ước nhường đứt ba tỉnh miền đông Nam Kỳ cho giặc, đồng thời ngăn cản quân dân tiếp tục chống quân thù. Hành động trên đã gây nhiều căm phẫn trong nước nên các sĩ phu đã bất tuân lệnh và do đó cuộc kháng Pháp đã tiếp diễn thật dữ dội, trong số này Lãnh Binh Trương công Định là tiêu biểu nhất. Giai đoạn này, Nguyễn Thông đang giữ chức Đốc học Vĩnh Long. Ngày 19-8-1864, Trương Định bị tên việt gian phản tặc Huỳnh Công Tấn sát hại. Thi hài Oâng được chôn tại Gò Công nhưng lại bị Pháp san bằng mồ mã, cho tới năm 1956 Chính phủ VNCH mới trùng tu lại và chiếu theo sắc phong của vua Bảo Đại trước năm 1945 là 'Đại Nam,Thần Dũng Đại Tướng Quân'. Trong dịp này, nhiều sĩ phu trong nước cũng như cụ Đồ Chiểu, có viết nhiều thi văn phúng điếu người anh hùng bất khuất. Năm 1867 Pháp lại tấn chiếm ba tỉnh miền tây còn lại là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Uất hận vì bị Pháp lừa gạt và dân chúng cả nước nguyền rủa vì thái độ chủ hòa khiếp nhược, Phan Thanh Giản uống thuộc độc tự tử. Tuy Nam Kỳ đã mất về tay Pháp nhưng cuộc kháng Pháp vẫn tiếp diễn khắp nơi, duới sự lãnh đạo của hai con Phan Thanh Giản là Phan Tôn và Phan Liêm, cùng Nguyễn Xuân Phụng, Võ Duy Dương, Thủ Khoa Huân, Nguyễn trung Trực..với nhiều chiến công rực rỡ, nay vẫn còn lưu dấu :
'Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa
Kiếm bạc Kiên Giang, khấp quỹ thần.'
Như tằm ăn dâu, Pháp biết VN lúc đó rất suy yếu về quân sự cũng như ý chí, nên lại tấn công Bắc Kỳ. Thành Hà Nội thất thủ lần thứ I (1873), Nguyễn Tri Phương và con là phò mã Lâm tử trận. Phần lớn các tỉnh lân cận đều lần lượt lọt vào tay Pháp. Ngày 15-3-1874, triều đình Huế lại ký với Pháp hòa ước Giáp Tuất, liên quan tới Bắc thành, nhưng cuối cùng Pháp lại thất hứa và đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 (1882), tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết theo gương Nguyễn Tri Phương. Giữa lúc nước nhà đang nguy ngập và rối ren bi thiết, thì vua Tự Đức lại băng hà ngày 16-6-1883 (Quý Mùi), khiến triều đình Huế trở thành vô chủ, mặc cho Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tự chuyên phế lập các vị vua Dực Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi.
Năm 1884, cục tình báo phương Nam, kết thúc theo cái chết của vua Tự Đức, các ông Phan Chánh và Nguyễn Thông cũng chết trong âm thầm vào năm 1884. Riêng về năm chết của Nguyễn Thông, hiện nay vẫn còn có sự sai biệt và đầy nghi vấn. Theo các tài liệu cũ trong Đại Nam Chính Biên liệt truyện, thành ngữ điển tích của Trịnh văn Thành, Tự điển văn học và bài viết của Bùi văn Tụng, dựa theo tư liệu gia tộc, do cháu nội Nguyễn Thông là bác sĩ Nguyễn Quý Phầu, đăng trong Tập San Sử Địa năm 1966, thì ông sinh năm 1827 và mất tại Phan Thiết năm 1894, thọ 64 tuổi. Nhưng hầu hết các tài liệu của VC sau năm 1975 viết rằng Nguyễn Thông sinh năm 1827 và mất năm 1884. Sự khác biệt này đến nay vẫn chưa được kiểm chứng.
Theo sử liệu, Nguyễn Thông sinh tại đất Gia Định, nay là Tân Thạnh, Kỳ Sơn, Tân An tỉnh Long An. Oâng sinh năm 1827, là con của Nguyễn Hạnh và Trịnh thị A Mầu, thuộc dòng nho gia. Năm 18 tuổi ra Huế dự thi và đổ cử nhân khoá 1849 (Kỹ Dậu), thời vua Tự Đức. Vì gia cảnh bần hàn, nên ông không tiếp tục con đường thi cử, mà ra làm quan Huấn Đạo tại Phú Phong (An Giang). Nguyễn Thông tự là Hy Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu là Độn Am. Oâng kết hôn với Ngô thị Thuý A, vốn là tằng tôn của Ngô Nhân Tịnh, được hai người con trai là Nguyễn Trọng Lội và Nguyễn Quý Anh, cùng ba người con gái Nguyễn A San, Nguyễn A Chuyên và Nguyễn A Lỗ. Riêng với bà kế thất cũng có 1 trai, 1 gái. Con lớn ông là Nguyễn trọng Lội rất có công trong việc thành lập công ty sản xuất nước mắm Liên Thành. Ngoài ra cũng là người có liên hệ tới ngôi trường huyền thoại Dục Thanh, mà sau năm 1975, VC đã vin vào anh thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học ở đây, chẳng những cướp đọat toàn bộ sản nghiệp của dòng họ Nguyễn Thông ở Phan Thiết, mà còn báo hại cả hằng trăm gia đình kế cận ngôi trường MA này, trong chu vi bến Trưng Nhị, Lò Gốm, đường Võ Tánh, trong khu vực Cồn Cỏ, Đức Nghĩa, cũng bị cướp nhà, giựt đất, hăm dọa đủ điều, phải dọn đi nơi khác. Quả thật là một tội danh thiên cổ tại Bình Thuận. Theo cháu bốn đời của cụ Nguyễn Thông, là giáo sư Nguyễn Minh Đức hiện đang sống tại Hoa Kỳ, cho rằng cũng vì chuyện Dục Thanh, có liên hệ tới Nguyễn Tất Thành, mà chính quyền Bình Thuận trước năm 1975, đã không suyễn dương tuổi tên cũng như đặt tên đường Nguyễn Thông tại thị xã Phan Thiết. Ngoài ra ở địa phương, trước năm 1975 cũng có nhiều nhà biên khảo nổi tiếng như Lê Hương, Lê Quang Nghiêm, Lê Hửu Lể, Thu Nhi, Nguyễn Ngu Ý, Châu Hãi Kỳ.. Thậm chí nhiều người sống đối mặt với khu vực này như Phạm Đình Thừa, Trần Duy Chánh.. cũng không hề nhắc tới trường Dục Thanh hay mồ mả Nguyễn Thông trên khu vực Lầu Oâng Hoàng" Trái lại những đia phương khác như Vĩnh Long, Sài Gòn đều có đường Nguyễn Thông. Tại Vĩnh Long hiện nay còn di tích cổ thành do trấn thủ Nguyễn Văn Thoại, xây từ thời vua Gia Long, sau đó được tổng đốc Vĩnh Long là Trương văn Uyển trùng tu cuối đời Tự Đức, trước khi lọt vào giặc Pháp. Đó là 'Miếu Bảy Bà' hay Cây Đa cửa hữu, nằm trên một gò đất cao, dưới gốc cổ thụ, giữa hai trường tư thục Long Hồ và Cao tiểu Vĩnh Long hay là trường Trung Học Nguyễn Thông. Ở đây còn có Văn Thánh Miếu do Phan Thanh Giản hoàn thành năm 1867, nằm trên đường liên tỉnh Vĩnh Long-Trà Vinh, cách thị xã chừng 2 km, có tên Đốc học Nguyễn Thông, được khắc trên một bia đá.
Trong hoạn lộ quan trường, Nguyễn Thông cũng không khác gì Nguyễn Công Trứ, bảy nổi ba chìm vì tính tình trung trực và liêm chính, khác biệt với bọn quan lại xôi thịt đương thời. Năm 1855, ông được triệu về kinh tham dự nội các, soạn bộ 'Nhân Sự Kim Giám'. Năm 1859, Pháp xâm chiếm Nam Kỳ, ông xin tòng quân và làm tham mưu cho Tôn Thất Hiệp. Năm 1862 về Vĩnh Long giữ chức Đốc học, dưới quyền Phan Thanh Giản. Trong thời gian này, ông chấn chỉnh lại đạo lý thánh hiền, xây dựng lại văn miếu và đồng thời liên lạc chặt chẽ với các tổ chức chống Pháp khắp ba tỉnh miền đông Nam Kỳ trong đó có Trương Công Định. Dịp này ông đã khởi xướng và được Đồ Chiểu ưng thuận, thực hiện cải táng mộ phần của sư phụ Võ Trường Toản, từ Chí Hòa về Ba Tri (Bến Tre), vì không muốn để cho thực dân làm ô uế. Năm 1867 ba tỉnh miền tây mất, ông cùng với nhiều sĩ phu Nam Kỳ không chịu hợp tác với giặc, nên chạy ra tị địa tại Bình Thuận. Những kỷ niệm quê hương mà ông mang theo khi chạy giặc, nay vẫn còn nhắc nhớ, đó là những chiếc rương to lớn, mà người miền Nam gọi là RƯƠNG XE và tên một con sông ở Vĩnh Long, mà khi làm Bố Chính Bình Thuận, đã đặt cho nơi ông sinh sống, kế bên dòng sông Cà Ty hiền hòa thơ mộng, là làng Thiềng Đức, nay còn lưu lại cái tên động Làng Thiềng. Sau tháng 5-1975, đoạt toàn bộ tài sản của dòng họ Nguyễn Thông, bọn Việt Gian-Việt Cộng Bình Thuận, đã bố thí cho cháu Nguyễn Thông là Nguyễn thị Bích, một căn nhà rách tịch thu của người vượt biển bỏ lại, trên đường Phan Bội Châu, Phan Thiết. Bà này là con gái của Nguyễn Quý Thai, là một liệt sĩ đã hy sinh tại Hốc Môn, Gia Định, khi ông tham dự mặt trận Việt Minh chống thực dân Pháp từ 1946-1954.
Về việc Nguyễn Thông tị địa, Phan Bội Châu bình phẩm là 'Thất thân thi nữ, hà dĩ chi trinh'để đánh giá hành vi của các sĩ phu lúc ấy, đã không chịu chết theo thành mà bỏ chạy, Thật ra tất cả thế thời thì thời phải thế, giống như chính ông sau này, bị Pháp bắt và giam lỏng gần 15 năm tại Bến Ngự Huế, cũng vì thời thế, mà cam chịu thân cá chậu chim lồng, chứ đâu có gan tự chết. Cho nên chê biếm người khác thì quá dễ, đến khi mình lâm vào hoàn cảnh đó, thì cũng thế thôi. Phương chi các ông Nguyễn Thông, Trà Quý Bình, Trần Thiện Chánh, Trương Gia Hội..tới Bình Thuận, đã không chán đời đi ở ẩn, mà vẫn lại tiếp tục bổn phận, lập căn cứ, đồn điền, phát triển nông vụ, khai hoang lập ấp, để tính chuyện chiến đấu lâu dài với giặc.
Năm 1867, Nguyễn Thông đuợc cử làm Aùn Sát Khánh Hòa rồi Quảng Ngãi. Dịp này ông dâng sớ lên triều đình, để biện bạch cho lòng trung quân ái quốc của Phan Thanh Giản, đồng thời dâng bốn bản điều trần, trong đó xin vua Tự Đức chọn tuyển nhân tài, trừ quan lại tham ô, cải tiến binh bị và xét lại thuế má để thu phục lòng dân. Tất cả đều không được nhà vua chấp nhận vì sự gièm pha của đám quan lại cao cấp trong triều. Năm 1870 đổi về hình bộ và thăng Bố Chính Quảng Ngãi. Tại đây ông tích cực thi hành chính sách cải tiến dân sinh, bài trừ tệ nạn tham ô, hà hiếp dân chúng của bọn cường hào ác bá địa phương. Việc làm trên đã đụng chạm tới bọn sâu dân mọt nước, nên chúng kết bè, xuí tên Lê Doãn vào kinh vu cáo. Kết quả ông bị cách chức, tống giam và xử trượng, sau nhờ dân chúng kêu oan tới tai vua, mới được giải tội. Chán ngán cho thói đời, ông về ở ẩn dưỡng bệnh tại Sơn Trung Bình Thuận, kết bạn cùng các thân hào trí thức địa phương, ngày ngày cùng nhau ngâm thơ vịnh nguyệt từ 1873-1874 nhưng vẫn không quên chuyện khẩn hoang. Năm 1876, ông lại được triệu về kinh, giữ chức Tu Nghiệp Quốc Tử Giám. Thời gian này, ông cùng với các quan trong triều như Bùi Ước, Hoàng Duy Tân khảo duyệt Bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Năm 1877, triều đình chấp thuận kế hoạch khai hoang vùng La Ngư, Ba Dầu (Bình Tuy) ngày nay, nên cử ông về làm Doanh Điền Sứ Bình Thuận. Lúc này sức khoẻ ông đã suy yếu, lại thêm bị bệnh thổ huyết vì lần phạt trượng. Thêm vào đó là sự phản kháng của thực dân Pháp, làm cho ông gần kiệt lực. Năm 1880, ông cùng bạn bè, đồng chí lập Đồng Châu Xã, khuyến khích dân địa phương phát triển nghề nông và ra sức giáo dục lớp tuổi trẻ. Oâng mất năm 1884 hay 1894" tại Ngọa Du Sào, là một căn nhà nhỏ bên dòng sông Mường Mán, trên vách có vẽ nhiều tranh cảnh, tiêu biểu cho lý tưởng của ông lúc sinh thời. Hiện mộ phần của ông vẫn còn trên đồi Ngọc Lâm, sát chân núi Ngọc Sơn, đối diện với Tháp Chàm, Lầu ông Hoàng và Bửu Sơn Tự thuộc xã Phú Hài, trên đường liên tỉnh Phan Thiết-Mũi Né. Gần cuối thập niên 90, VC tại Bình Thuận mở cửa và phát triển kỹ nghệ du lich, đã cho vá víu lại phần mộ của riêng Nguyễn Thông để dụ khách tham quan kiếm tiền. Riêng áo mão của Nguyễn Thông lúc sinh tiền, theo Nguyễn Minh Đức, những ngày trước năm 1975, được lưu giữ tại Bảo Tàng Viện Sài Gòn.
Nguyễn Thông là người được giới sĩ phu trí thức tại kinh đô Huế ưa thích, khen tặng là bậc văn nhân tài tử. Oâng đã lưu lại nhiều tác phẩm giá trị, đa số đều viết bằng chữ Hán như Ngọa Du Sào thi văn tập, Việt sử cương giám sử lược, Nhân sự khai giám, Dương Chính lục. Phần lớn các tác phẩm của ông đều bị thất lạc vì chiến tranh, chỉ còn lại hai bộ Độn Am thi văn tập và Ký Xuyên Văn Sao mà thôi. Các tiểu truyện như Phan văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp và Trương Định đều trích trong hai tác phẩm trên.
Làm quan tại kinh đô Huế lâu năm, cũng như nhiều lần ra chấm thi, nhờ tư cách và tài hoa, nên ông đã được kết bạn với nhiều giai nhân tài tử đất thần kinh đương thời như Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Trúc Đường Phạm Phú Thứ, Tùng Trai Đổ Đăng Đệ, Mai Am Công Chúa (em gái Miên Thẩm) và đặc biệt với Vân Lộc Nguyễn Tư Giản. Cả hai ông đều là đại quan của triều đình, lại là hàng văn nhân tài tử, có nhiều tác phẩm được truyền tụng, nên tình bạn thật khắng khít keo sơn, nhất là trong lãnh vực xướng họa. Thi ca của hai người, ngoài những bài vịnh nguyệt thưởng hoa, đa số đều hướng về dân nước, chống thực dân Pháp. Vốn mang nặng tình tự quê hương, thơ Nguyễn Tư Giản luôn nhắc tới Núi Nùng Sông Nhị còn Nguyễn Thông thì hướng về Vĩnh Long, Sài Gòn:
'Sông Nhị không có hèn tướng,
Núi Nùng rất nhiều vĩ nhân.'
hay
'Hàng năm diều hâu bay lùi xa xuống nước,
Dạt về phía Nam lông cánh bị xác xơ
Thánh hiền xưa cũng nhớ quê
Gió tây mấy độ, thổi ùa tóc thưa.'
Theo phê bình của các nhà văn học sử hiện đại, thì Nguyễn Thông ngoài là một đại quan có tài kinh tế, thơ văn, ông còn đuợc đánh giá là một nhà chính trị thức thời, khi dâng lên vua Tự Đức, bản điều trần gồm 4 điểm, mục đích xin vua mau canh tân đất nước, để kịp thời ngăn chống giặc ngoại xâm. Tờ sớ viết vào năm Mậu Thân 1868, đến nay đã gần một thế kỷ rưởi nhưng các nhà phê bình vẫn cho đó là một vấn đề nóng hổi, vì xưa nay muốn tiến vào con đường hoạn lộ, ngoài các ngõ ngách tham nhũng hối lộ, con đường tiến thân chính vẫn là thi cử. Nhưng thời nào cũng vậy, kể cả Hoa Kỳ là quốc gia dân chủ tiến bộ nhất hoàn vũ hiện nay, cũng không thoát khỏi ngoại lệ, có tiền có quyền, mua tiên cũng được. Bởi vậy trong trào ngoài quận, nhan nhản bọn ruồi bu bất tài, vô loại, cậy thế, cậy quyền, được bổ làm quan lại, được giữ những chức vụ quan trọng, thật là tai hại cho dân nước. Trong tờ sớ, ngoài việc đưa ra những bất công, Nguyễn Thông còn vạch thêm sự bê bối khi đề bạt chức vụ, thăng thưởng và bổ dụng. Tóm lại, ông đưa ra những nguyên tắc mới để bổ dụng nhân tài, từ dưới lên trên, ấn định trách nhiệm từng bộ, bang, ngành để không lẫn lộn đạp chân nhau khi thi hành chức vụ như từ trước tới nay. Dĩ nhiên bản điều trần sẽ chẳng bao giờ được chấp nhận, vì đụng chạm tới quyền lợi và phe nhóm của bọn quan lại đương thời.

* NGUYỄN THÔNG THÁM HIỂM MIỀN TÂY BÌNH THUẬN: Mãi tới đầu thế kỷ XX, Bình Thuận là một trong những tỉnh lớn trong nước, bao gồm cả Bình Tuy, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Quảng Đức, Tuyên Đức và một phần tỉnh Darlac ngày nay. Theo các tài liệu của Dương văn An trong Ô Châu Cận Lục (thế kỷ XVI) và Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII), thì người Việt đã có mặt tại vùng cao, các sơn động man động, từ đầu thế kỷ thứ XVI, và được người thiểu số cao nguyên gọi là Yuan Kinh.
Vào năm 1834, Phan Huy Chú đã vẽ bản đồ nước Đại Nam, trong đó có nhiều núi non ở phía tây tỉnh Bình Thuận. Vùng này ngày nay chính là Lâm Đồng, Tuyên Đức hay là lưu vực sông La Ngà ở phía tây Bình Tuy, trong hai quận Tánh Linh và Hoài Đức" Tuy nhiên có sự xác thực, mà sử liệu đã công nhận, là Nguyễn Thông đã đặt chân tới miền tây tỉnh Bình Thuận, trước các phái đoàn thám hiểm của Pháp, kể cả bác sĩ Alexandre Yersin.

Mục đích của cuộc thám hiểm sơn quốc, hình thức là khẩn hoang lập đồn điền, tạo thêm đất đai để người dân canh tác nhưng mặt thật là mở rộng phòng tuyến để bắt tay với nghĩa quân vẫn còn đang chiến đấu tại Nam Kỳ, dù đất đã bị giặc Pháp cưởng chiếm. Theo các nhà nghiên cứu sử, thì chỉ có Trung và Bắc Kỳ, mới nồng nhiệt hưởng ứng phong trào cần vương do vua Hàm Nghi ban hịch từ năm 1885. Chính Nguyễn Thông là người đã bắt một đầu cầu chiến lược, khi mượn cớ thám hiểm, để sau này các thủ lãnh Cần Vương Bình Thuận là Tống Hưng Nho và Nguyễn Đăng Giai tiếp hành. Thật sự ngay từ năm 1885, Phó tổng đốc thành Hà Nội là Lê Công Chánh, trong lúc về Bình Định tham gia phong trào chống Pháp với Mai Xuân Thưởng, ông đã được vua Hàm Nghi tín cẩn, ban mật chiếu vào Nam Kỳ phát động phong trào Cần Vương chống Pháp. Lê Công Chánh đã lập căn cứ tại Thất Sơn-An Giang nhưng bị Pháp bắt và đầy ra Phú Quốc.Năm 1889, Lê Công Chất vượt ngục và về tái lập căn cứ Thất Sơn, đồng thời mở rộng địa bàn hoạt động tới tận Mỹ Tho, Gò Vấp, Sài Gòn. Tháng 8 năm 1893, Lê Công Chất ra Bình Thuận tiếp xúc với các thủ lãnh cần vương tại đây là Tống Hưng Nho và Nguyễn Đăng Giai, để thiết lập mối quan hệ hoạt động giữa hai vùng Nam-Trung Kỳ cho cuộc chiến đấu được thống nhất và chặt chẽ hơn. Cuối tháng 9-1893, cả ba ông vào nhà Nguyễn văn Lễ tại Gò Vấp, tổ chức cuộc họp bí mật, để bầu lãnh tụ cuộc kháng Pháp tại Bình Thuận-Nam Kỳ. Kết quả Nguyễn Đăng Giai làm Chưởng Lãnh Lưỡng Kỳ, Nguyễn văn Lễ làm Nam Kỳ tổng chưởng, Lê Công Chánh làm Nam Kỳ chỉ huy Quân Vụ. Sau đó Tống Hưng Nho và Nguyễn Đăng Giai về Bình Thuận, chuẩn bị lương mễ, ấn triệu và tiền bạc cho ngày tổng khởi nghĩa, trong lúc Lê Công Chánh đã phát động được nhiều cơ sở kháng chiến khắp Nam Kỳ. Nhưng mọi công tác đang tiến hành tốt đẹp, thì bị bọn Việt gian ở Mỹ Tho phát hiện, nên hầu hết các yếu nhân như Lê Công Chánh, Nguyễn Văn Lễ, Trần Xuân Sanh đều bị bắt, kể luôn các cơ sở nghĩa quân tại Bình Thuận của Tông Hưng Nho và Nguyễn Đăng Giai.
Trong cuộc thám hiểm Sơn quốc, tức là vùng cao ở phía tây Bình Thuận, hành trình được Nguyễn Thông ghi lại như sau:
'Ngạ hổ giáp bộ hành,
Ai nhao hầu lâm đoạn
( hổ đói ở khắp nơi, nơi góc đường khỉ kêu réo).
Theo sử liệu, thì lộ trình thám hiểm phát xuất tù hai lối. Đầu tiên khởi hành theo hướng Nam, đi dọc theo dòng sông Đồng Nai về hướng thượng nguồn (Ngã Bối nam lai giã). Lần khác, từ Phan Thiết tới Phan Rí và Phan Rang, rồi đi ngược về hướng tây (tam Phan tây khứ, tiếp cùng hoang). Trong lúc thám hiểm, ông đã gặp được nhiều bộ lạc người Thượng sinh sống trong vùng La Như Thượng, đầu nguồn sông Đồng Nai ở Lâm Đồng, nên đã ghi 'Quần cư giai Chiêm Man', ý nói người Chàm và người Thượng sống lẫn lộn. Trong tờ trình xin phép khẩn hoang dâng vua Tự Đức, có đoạn nhắc tới vùng Di Linh (Lâm Đồng) rất rõ ràng, cùng với nhiều địa danh khác, đều trùng hợp với các vị trí địa dư hiện tại. Tóm lại Nguyễn Thông đã đặt chân tới vùng đất Võ Đắc, Tánh Linh, Sùng Nhơn, Madegui, giáp ranh với Định Quán, Long Khánh, theo dọc con sông La Ngà, từ cao nguyên Di Linh chảy qua Bình Thuận, rồi lại ngược lên tới Định Quán, nhập vào sông Đồng Nai. Đó là địa bàn mà Nguyễn Thông đã ghi trong tài liệu là Manmepu, sông Tô Sa, sông Đa Dòng, Sách Côn Hiên. Lúc đầu vua Tự Đức đã chuẩn tấu cho phép Nguyễn Thông thực hiện công cuộc khai hoang, nhưng bọn thực dân Pháp tại Nam Kỳ đã hiểu thấu mục đích bên trong của ông, nên đã phản đối dữ dội, khiến triều đình Huế phải bãi bỏ công trình trên .

NGUYỄN THÔNG VÀ CỤC TÌNH BÁO PHƯƠNG NAM.
Sau cuộc kháng Pháp của Bình Tây Đại Nguyên Soái Trương Định bị thất bại vào năm 1864, Phó soái Trần Tuấn tức Phan Cự Chánh, hay Phan Chánh tự Tử Đan, hiệu Bút Phong, sinh tại An Phước, tỉnh Bình Thuận, được triều đình Huế, cử giữ chức Điền Nông Sứ Khánh Hòa, còn Phó sứ là Nguyễn Thông. Hình thức, thì đây là một cơ quan phụ trách về nông nghiệp nhưng thực tế nó lại đóng một vai trò và trách nhiệm của cục tình báo phương nam, do vua Tự Đức bí mật lập ra, đã hoạt động liên tục từ năm 1866 tới năm 1884 mới tan rã. Vì là một tổ chức vô cùng bí mật, nên sau khi ngưng hoạt động, chính Phan Trung và Nguyễn Thông đã hủy hết dấu vết, tài liệu, tang chứng, để thực dân không thể vin vào đó bắt chẹt được triều đình. Vì thế nên hôm nay, ít người hiểu rõ về lý lịch của tổ chức này. Sự việc Nguyễn Thông được âm thầm cung cấp nhân vật lực để thám hiểm một vùng rừng núi trùng trùng, mà lúc đó hầu như không có vết chân người, đã là một chứng cớ xác thực về nhiệm vụ bí mật của ông và Phan Chánh.
Theo tài liệu ghi trong Đại Nam Chính Biên liệt truyện, thì Nguyễn Thông kết bạn thân thiết với Trần Thiện Chánh và Phan Trung. Trần Thiện Chánh và Nguyễn Thông đều là những sĩ phu cầm đầu nghĩa quân kháng Pháp từ năm 1859 tới năm 1866, cho nên cả hai đã viết nhiều tác phẩm có đề cập tới Bình Tây Phó Soái Phan Chánh.

* TRẦN THIỆN CHÁNH : Sinh năm 1822, tự là Tử Mẫn, hiệu Trừng Giang, người thôn Tân Thới, huyện Bình Long, tỉnh Gia Định, nay thuộc Hốc Môn. Oâng mất năm 1874, thọ 53 tuổi. Sinh thời, Trần Thiện Chánh từng được Phạm Phú Thứ khen là 'Mộ sĩ vạn kim' hay Tùng Thiện Vương Miên Thẩm thì viết 'Phá gia mộ sĩ Lục Ngư Hồ', để ca tụng nghĩa khí của một phú gia đất Gia Định, thời đó đã dám đem ngàn vàng, để mộ hơn 5000 quân tại Hóc Môn, kéo lên Sài Gòn, ngăn giặc Pháp khi chúng đánh bại quân triều đình tại thành Gia Định. Oâng đậu cử nhân tại Gia Định năm 1842 thời Thiệu Trị. Bắt đầu làm quan Hậu Bổ Khánh Hòa, rồi Huấn Đạo và tri phủ Long Xuyên. Năm 1864 làm Phó Quản Đạo Phú Yên, thăng Kinh kỳ Thủy Sư Hiệp Lý. Tháng 6-1867, Tri Phủ Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận. Lúc này, Nguyễn Thông đang giữ chức Doanh Điền Sứ Bình Thuận, nên hai ông đứng ra lập ra Đồng Châu Xã. Tóm lại trên đường hoạn lộ, Trần Thiện Chánh cũng lao đao lận đận như Nguyễn Thông nhưng nhờ tài kiêm văn võ, tạo được nhiều chiến công hiển hách khi chống Pháp. Ngày 9-7-1874, khi đang là Thị Lang, kiêm Tuần Phủ Ninh Bình, thì qua đời vì bạo bệnh. Oâng đã lưu lại hậu thế nhiều tác phẩm giá trị như Trừng Giang thi văn tập, Nam Hành thi tập, Bắc Chinh thi thảo. Con trai ông là Trần Thiện Cốc làm tri huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
Tóm lại, như Nguyễn Thông, dòng họ Trần Thiện Chánh khi đến tị địa tại Bình Thuận, đã chọn nơi này làm quê hương bao đời. Con cháu nhiều người thành danh, trong đó có nhà thơ Trần Thiện Bang trong Liên Thành thi xã, Trần Thiện Hải là một kịch tác gia cũng như nghệ sĩ nổi tiếng của Phan Thiết, ông đã chết thảm trong trại tù cọng sản vào năm 1977 tại Lâm Đồng. Nhưng nổi bậc hơn hết là nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, tức ca sĩ Nhật Trường (con Trần Thiện Hải) và nhạc sĩ Trần Thiện Khải (con Trần Thiện Bang). Trần Thiện Khải chết tại Nam Lào năm 1987 khi theo kháng chiến HCM, còn Nhật Trường, mới qua đời tháng 6-2005 tại Nam CA vì bạo bệnh.
Từ đầu năm 1866, Phan Trung và Nguyễn Thông, chính thức nhận trọng trách tại Ty Điền Nông Khánh Hòa, mang ấn khảm phái quan phòng. Theo phẩm hàm của Nhà Nguyễn từ vua Gia Long (1802) tới vua Tự Đức (1883), trong ngành nông nghiệp chỉ có các hàm Điền hàn ty, Điền thứ ty, Điền hiện, Điền nghị, mà không hề có Điền nông sứ. Hơn nữa lại có điều khoản đặc biệt, là tất cả công văn của cơ quan này, không qua hệ thống địa phương, mà trực tiếp trình thẳng lên Cơ Mật Viện lại do chính vua Tự Đức duyệt phê và ban huấn lệnh.
Tuy ngày nay phần lớn tài liệu của nước nhà, bị thực dân hay chiến tranh hủy hoại, nhất là các sử liệu có liên quan đến chính sự, quốc phòng nhưng dựa vào những gì còn sót lại, qua các văn bản báo cáo, dưới hình thức tờ tấu, mật thư, cung lục, mật lục mà điển hình là tờ trình ngày 9-7 năm Tự Đức thứ 34 (4-8-1882), báo mật về đoàn thám hiểm của Pháp do bác sĩ Paul Néis, từ Định Quán ra tới Phú Khánh, hay tờ tấu ngày 8-2-1877, báo cáo về sự khó khăn của quân Pháp tại Nam Kỳ, ảnh hưởng từ Hoàng đế Nã Phá Luân đệ tam, cùng 100.000 quân Pháp, bị Đức bắt làm tù binh, trong trận chiến Pháp-Phổ (1870-1871). Ngoài ra, trong các văn khố tại Huế, Sài Gòn, Đà Lạt hiện nay còn lưu trữ nhiều báo cáo của Ty Điền Nông Sứ, về phong trào kháng Pháp tại Nam kỳ, do Nguyễn Trung Trực, Hồ Huấn Nghiệp, Võ Duy Dương, Thủ Khoa Huân lãnh đạo. Chính Trương Gia Mô (1867-1929), con Trương Gia Hội cũng là một sĩ phu đã cùng Nguyễn Thông, Trần Thiện Chánh tị địa tại Bình Thuận, đã dựa vào tài liệu của Ty Điền Nông Sứ (Phan Trung-Nguyễn Thông), để viết Gia Định Tam Tiên liệt truyện, kể lại giờ phút cuối cùng của ba vị anh hùng dân tộc là Hồ Huấn Nghiệp, Thủ Khoa Huân và Nguyễn Trung Trực. Do sự tuyệt mật trong cơ cấu tổ chức, nên ngoài Phan Trung và Nguyễn Thông, không mấy ai biết tới những thám báo, cộng sự viên, liên lạc, gián điệp đã góp phần mạng sống và máu xương bảo vệ đất nước mình. Nhưng rõ ràng Cục đã mở rộng tầm hoạt động khắp Nam Kỳ tới Hạ Châu (Singapore), cũng như ngay trong đầu não Pháp, tại các văn phòng thuộc phủ Thống Đốc thời bấy giờ (Jules Dupré-Charles Le Myre). Tiếc rằng vua Tự Đức lúc đó quá nhu nhược, lại gặp phải bọn triều thần phần lớn là lũ xôi thịt, bất tài, nên cuộc kháng chiến chống giặc Pháp của toàn dân phải thất bại một cách nhục nhã, căm hờn, uổng phí sự hy sinh cao quý của Cục Tình Báo Phương Nam trong nhiều năm. Cuối năm 1883, vua Tự Đức băng hà trong tuổi 55, giữa lúc đất nước đang bốn bề thọ địch. Mọi hy vọng đều tan nát vì xã tắc đã không thể tìm đâu được minh quân, lèo lái con thuyền quốc gia trong cơn bão táp, khiến cho toàn cõi VN phải nhầy nhụa ngoi ngóp trong vũng bùn ô nhục hơn 80 năm nô lệ giặc Pháp, sau hiệp ước Patenôtre 1884. Biến cố trên cũng đã kết thúc cuộc đời của hai vị anh hùng dân tộc Phan Trung và Nguyễn Thông, cùng tố chức Điền Nông Sứ.
Bao nhiêu năm qua rồi, với nhiều cuộc đồi đời bi thảm, nay ngồi đây lần về quá khứ, sau lớp rêu phong và tro bụi của thời gian, chợt cảm xúc bồi hồi, khi nhớ về Nguyễn Thông, một nhà thơ tài hoa uyên bác, một kinh tế gia lỗi lạc phi thường và hơn hết là một anh hùng. Tiếc thay chữ Tài liền với chữ Tai một vần, số mệnh chào thua định mệnh. Bởi vậy ông không có dịp đem tài trí và sở học ra để kinh bang tế thế, thỏa mãn chí trai hồ hải tang bồng. Đã vậy còn phải bị nhục hình trong bước hoạn lộ.
Cảm khái trước khí phách người xưa, quyết tâm lần về nương đất cũ, để mong gặp lại trong khoảnh khắc mơ hồ, hình bóng của cố nhân, nhưng than ôi;
'Sông kia rày đã nên đồng
chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
vẳng nghe tiếng ếch bên tai
giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò.'
(Tú Xương)
Tiếng gọi đò không có hồi âm, hình bóng cũ tan biến theo Ngọa Du Sào, cũng như bến Trưng Nhị bên hữu ngạn sông Mường Mán, nay chỉ còn là ảnh hình nhạt nhoà, trong cơn gió thoảng, giữa bóng trăng suông lạnh lùng, sau mộ cuộc bể dâu trầm thống
Liên quan tới Nguyễn Thông, còn có Văn Xương Các ở Vĩnh Long, trước khi ông ra Bình Thuận tị địa sau năm 1867. Buôåi đó, Chiêu Anh Các ở Hà Tiên, Bình Dương thi xã ở Gia Định, Bạch Mai thi xã ở Chợ Lớn và Văn Xương Các tại Vĩnh Long, là những thi đàn nổi tiếng khắp nước. Vào năm 1864, khi ba tỉnh miền đông rơi vào tay giặc Pháp. Các sĩ phu yêu nước tại Biên Hòa, Gia Định và Định Từng không chịu đầu hàng và hợp tác với kẻ thù, nên kéo hết về Vĩnh Long tị địa. Từ đó mọi người xây dựng Văn Thánh Miếu, đồng thời thành lập Văn Xương Các ở làng Long Hồ, thuộc tỉnh Vĩnh Long, hầu thay thế Văn Miếu Gia Định. Công trình này do Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông khởi công năm Giáp Tý 1864 và hoàn thành năm Bính Dần 1866.
Văn Thánh Miếu và Văn Xương Các nằm chung trên một địa điểm, sau cổng tam quan, phía trái là Miếu , bên phải là Văn Xương Các còn được gọi là Tuý Văn Lầu hay Thơ Lầu, là nơi khách tao nhân tụ hội bình thơ, xướng họa và dạy học. Thơ lầu lúc đầu làm bằng gỗ, về sau xây gạch, nóc lợp ngói ống, có lầu nhỏ làm bằng gỗ quý, thờ các vị tiên hiền trong Khổng học. Tầng dưới là nơi hội họp của các
sĩ phu miền tây Nam Kỳ. Trong Văn Xương Các còn là nơi thờ cúng Võ Trường Toản, là vị thầy đầu tiên của Đàng Trong thời chúa Nguyễn Aùnh tẩu quốc. Oâng đã đào tạo nhiều môn sinh sau này trở thành đại quan của nhà Nguyễn như Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định..Bởi vậy khi mất ba tỉnh miền đông Nam Kỳ, Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông đã bốc mộ Võ Trường Toản, về chôn tại Ba Tri, Bến Tre, đồng thời đem bài vị cụ vào thờ trong Văn Xương Các-Vĩnh Long. Sau này, các vị Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, Phan văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt..cũng được phụng thờ tại đây. Hiện trong Các còn lưu lại nhiều câu đối từ thời Vua Gia Long ban khen cho Võ Trường Toản như ' Hoàng phong xử sỉ phong cao lão-Tự hiệu thơ sanh tiết liệt thần'. Năm 1933, vua Bảo Đại phục hồi nguyên chức và danh dự cho Phan Thanh Giản, đồng thời còn truy phong là ' Đoan túc dực bảo trung hưng tôn thần'. Lúc sinh thời, Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông thường tới Thơ Lầu, để cùng các tao nhân mặc khách khắp sáu tỉnh Nam Kỳ, ngâm vịnh xướng họa và luận bàn chính sự. Trong số này nổi bật hơn hết có Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị..
Năm 1867, Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền tây còn lại là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử để tạ tội với quốc dân, còn Nguyễn Thông cùng Trà Quý Bình, Trương Gia Hội, Trầm Thiện Chánh chạy ra Bình Thuận tị địa. Văn đàn Vĩnh Long tan rã nhưng tinh thần văn học yêu nước vẫn được nuôi dưỡng và phát triển thành một phong trào to lớn khắp dân gian. Nhờ vậy ngày nay chúng ta mới có được những tác phẩm Lục văn Tiên, Dương Từ Hà Mâu, Văn Tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Đồ Chiểu cũng như những bài thơ khí sắc hào hùng chống giặc của Cử Trị, Thủ Khoa Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt..
Trải qua hơn 135 năm. Văn Xương Các cùng chịu chung số phận thăng trầm của vận nước nhưng chắc chắn ngàn đời sau vẫn không xóa nhòa nổi những tên tuổi sáng lập như Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông và nhiều thế hệ nối tiếp làm rạng danh sĩ phu Nam Kỳ mà ai cũng biết tới như Nhiêu Tâm, Trần Ngọc Lầu, Nguyễn Hữu Đức, Thượng Tân Thị, Nhập Vương Thị, Tống Hữu Định, Trương Duy Toản..
Ngày nay có có dịp về Phan Thiết, ngang qua đường Trưng Nhị, nơi chốn một thời cụ Nguyễn Thông xem hoa thưởng nguyệt, nay chỉ còn lại những công trình phàm tục mà VC mới tái tạo sau 30-4-1975, khiến cho ai cũng ngao ngán cho cuộc đổi đời /-
Xóm Cồn
tháng 7-2005
MG

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
Mỗi năm lên tuổi già đi, tưởng đâu đã được an nhàn, nào ngờ đảng Cộng sản Việt Nam vẫn phải tối mắt đấu tranh để tồn tại vì các chứng nan y: Suy thoái tư tưởng; Đạo đức xuống cấp; Tham nhũng; và, Lợi ích nhóm trong trong cán bộ,đảng viên.
Bản thông báo của cảnh sát đưa ra hôm Thứ Năm ngày 5 tháng 12/2019, cho biết cô bé mất tích tên Lara Nguyen, 12 tuổi, cư dân thị trấn Menda. Lần cuối cô bé được nhìn thấy là tại nhà cô bé này ở đường Coppice Street, khoảng 8 giờ sáng hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 12/2019.
Sài Gòn: Trong 11 tháng kiều hối đạt 4,3 tỷ USD, dự kiến cả năm 2019 dự kiến 5,3 tỷ USD, tăng trên 9% so với năm 2018. Kiều hối về đã giúp sản xuất kinh doanh, giải quyết khó khăn đời sống người thân, giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho kinh tế Tp SG phát triển.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
XEM NHIỀU
(Xem: 50712)
Rất nhiều khách trở lại tiệm làm móng tay, than phiền vì móng bị tróc, hở , thường gọi là lift.
(Xem: 44410)
Đây là kinh nghiệm đi thi của một thí sinh thi đậu về kể lại. Xin chia xẻ với quí bạn.
(Xem: 38828)
Hội đồng Thẩm mỹ (HĐTM) sẽ gởi thơ báo trong thời gian hai tháng rưỡi
(Xem: 34667)
Chào quí anh chị trang Thẩm mỹ, Cho em hỏi là vợ em có bằng thẩm mỹ ở tiểu bang Florida, chuyển qua Michigan. Ở trên nầy họ bắt phải thi lại