Hôm nay,  

Cầu Không Vận Bá Linh

14/05/200800:00:00(Xem: 7843)

Cầu không vận của Hoa Kỳ đã tiếp tế cho hơn hai triệu dân Đức tại Tây Bá Linh 60 năm trước...

Ngày nay, chỉ còn 36% dân chúng Âu châu là có thiện cảm với Hoa Kỳ. Còn tỷ lệ ủng hộ ông Bush tại Âu châu có thể khiến đảng Dân Chủ Hoa Kỳ hả dạ: 17%! Nhưng họ hả dạ không lâu vì đa số dân chúng Âu châu lại xem Hoa Kỳ như một mối nguy cho thế giới, còn tệ hơn Iran hay Bắc Hàn!

Họ quên mất một chuyện xưa...

Ngay sau Thế chiến II, Hoa Kỳ đã từ hướng Tây tiến vào nước Đức để giải giới chế độ Đức quốc xã và giải phóng dân Đức vào ngày tám tháng Năm, 1945. Khi tới thủ đô Bá Linh (Berlin), nằm tại hướng Đông của nước Đức, các đơn vị Mỹ đã ngừng, để chờ đợi... đồng minh Liên Xô cùng tiến. Kết quả là Bá Linh bị chia làm tư trong một nước Đức bị chia đôi. Phần Tây Bá Linh là khu vực quản lý của ba nước Mỹ, Anh, Pháp; phía Đông là của Liên Xô.

Mà muốn vào Bá Linh thì phải đi quan phần đất miền Đông, do Liên Xô kiểm soát.

Chiến tranh lạnh thực tế khởi sự từ đó, từ Bá Linh, vì theo quan niệm của Ngoại trưởng Liên Xô thời ấy là Molotov: "những gì xảy ra tại Bá Linh sẽ xảy ra tại nước Đức, và những gì xảy ra tại Đức sẽ xảy ra tại Âu châu". Vào năm 1946, khi 86% dân chúng Bá Linh bỏ phiếu ủng hộ giải pháp dân chủ, Liên Xô coi như sẽ mất đất, hết ảnh hưởng: nếu nước Đức được thống nhất theo chủ trương ấy, Hồng quân Liên Xô phải cuốn gói ra về.

Mâu thuẫn bắt đầu bùng nổ vào tháng Ba năm 1948, khi Liên Xô đòi kiểm soát các chuyến xe hoả từ miền Tây chở hàng vào Bá Linh. Ngày 12 tháng Sáu, Liên Xô đóng xa lộ, rồi lần lượt khoá hết mọi ngả thông thương của Tây Bá Linh với bên ngoài, khi thành phố chỉ còn một tháng lương thực. Trong khi ấy, các đơn vị Anh, Pháp và Mỹ đã lại được triệt thoái dần - hoà bình rồi mà - và không thể đương cự với Hồng quân Liên Xô nếu giao tranh bùng nổ.

Cuộc phong toả Bá Linh bắt đầu. Mục tiêu của Liên Xô là cưỡng bách thống nhất Bá Linh rồi cả nước Đức dưới chế độ cộng sản, đơn giản và minh bạch vô cùng!

Ngày 26 tháng Sáu năm 1948, cách đây sáu chục năm, Hoa Kỳ lập cầu không vận, dùng một hành lang hàng không - đã thỏa thuận từ tháng 11 năm 1945 - để đưa vào Bá Linh phẩm vật tiếp tế từ ba khu vực kiểm soát của Anh, Mỹ, Pháp. Đây là mạch máu kinh tế và cuống phổi tin tức hay thư tín cho cả triệu người dân bị nhốt tại Tây Bá Linh, khi bức màn đỏ buông xuống.

Trận thử lửa nghẹt thở ấy kéo dài gần một năm, cho tới tháng Năm 1949 mới kết thúc. Nhưng mâu thuẫn lại gia tăng khi bức tường Bá Linh được dựng lên vào năm 1961...

Sau khi bức tường ô nhục này bị đập tan vào năm 1989 và nước Đức thống nhất, nhiều người dân Bá Linh vẫn còn nhớ giai đoạn bi thảm ấy. Và biết ơn Không lực Hoa Kỳ cùng Không quân Hoàng gia Anh. Nhưng họ là thiểu số, người trẻ nhất thời 1949 thì nay cũng đã sắp về hưu. Và kể từ năm 1989, gần hai chục năm rồi, hơn triệu người Bá Linh đã dời cư qua nơi khác. Những người mới tới, khoảng triệu rưởi, không còn kỷ niệm gì với việc tiếp tế bằng hàng không của nửa thế kỷ trước.

Vả lại, Chiến tranh lạnh đã kết thúc, Liên Xô đã tan rã, người dân Đức không còn mối lo sinh tử về an ninh hay tự do như xưa. Hoa Kỳ hết là nguồn tiếp vận và sức mạnh bảo vệ....

Chúng ta trở lại chuyện ngày nay.

Người ta khó biết được là dân chúng Âu châu ghét Mỹ vì Hoa Kỳ là gì hay vì Hoa Kỳ làm gì.

"Hoa Kỳ là gì" là những khái niệm chung, khá mơ hồ, của Âu châu về những đặc tính của nước Mỹ, hay về những gì dân Mỹ gọi là "giá trị của Hoa Kỳ. Còn "Hoa Kỳ làm gì" là những chánh sách do một chính quyền thi hành trong một giai đoạn.

Làm sao phân biệt được sự khác biệt giữa "là" và "làm" khi đặc tính của Hoa Kỳ là cổ võ tự do kinh tế, dân chủ chính trị nhưng sẵn sàng bảo vệ hoà bình bằng sức mạnh" Chính quyền Bush bị đả kích vì chiến lược tiến hành tại Iraq hay đối sách với Iran, đó là tội của "việc làm của nước Mỹ"" Nhưng, khi đối lập Dân chủ lại muốn hạn chế tự do ngoại thương bằng biện pháp bảo hộ mậu dịch thì vấn đề có còn là của ông Bush nữa hay không"

Thực tế thì dân chúng Âu châu ngày nay đã có hòa bình, thịnh vượng và chống Mỹ còn gay gắt hơn thời chiến tranh Việt Nam hay thời đối đầu Đông-Tây của Ronald Reagan, vào đầu thập niên 1980.

Phong trào phản chiến năm xưa của dân Đức - với khẩu hiệu ngây dại "thà đỏ hơn chết" - khi Reagan đòi thiết trí hỏa tiễn tầm trung tại biên cương Đông-Tây Đức đã bị lãng quên. Ngày nay, còn bị vượt qua bởi làn sóng phản chiến chống Mỹ vì Iraq. Và Bush là cái cớ bằng vàng.

Nếu bảo rằng đó là phản ứng của người dân chống lại một chánh sách nhất thời của Chính quyền Hoa Kỳ, ta cũng không thể quên rằng hơn 80% dân Đức ngày nay cho là nước Đức phải có một vai trò toàn cầu quan trọng hơn, là chuyện không hề có khi xứ sở bị phân đôi và nằm dưới tầm hoả tiễn của Liên Xô.

Nước Đức hay cả Âu châu nói chung - kể cả dân Tây Ban Nha - sở dĩ chống Mỹ không chỉ vì Bush mà vì trật tự thế giới đã thay đổi. Họ muốn có một tiếng nói cân xứng với vị trí kinh tế của Âu châu: hết lo về chuyện an ninh, người ta muốn nói đến thế giá.

Có thể đó là chuyện của đời thường, là cảm quan của bá tánh. Chứ thực tế thì lãnh đạo Âu châu thường sát cánh với lãnh đạo Hoa Kỳ trong một số hoạt động trên thế giới. Đức có góp quân với Mỹ trong khuôn khổ Minh ước NATO để tấn công Serbia và cứu dân Hồi giáo tại Kosovo năm 1999. Pháp cũng tham dự chiến dịch Afghanistan và Chính quyền Madrid còn tích cực cổ võ chiến dịch Iraq của Mỹ, cho tới khi thủ đô Madrid bị khủng bố đánh bom và đối lập thiên tả thắng cử hai ngày sau mới đòi rút quân khỏi Iraq.

Nhưng, quan hệ không mấy vui giữa hai bờ Đại tây dương còn có một lý do sâu xa khác: vì những gì đang xảy ra trong xã hội Hoa Kỳ và Âu châu, trong tâm tư người dân.

Nhìn từ Âu châu, dân Mỹ nói chung sùng đạo hơn, họ đi lễ nhà thờ nhiều hơn và tôn giáo vẫn còn giữ một vị trí quan trọng trong sinh hoạt chính trị của Mỹ. Tại Âu châu, người dân xa rời với đức tin tôn giáo và thấy dân Mỹ là bảo thủ, cổ hủ và thiếu khai phóng. Việc một tổng thống như Bill Clinton có thể bị đàn hặc mà xém mất chức vì một chuyện tình ái là điều Âu châu cho là khó hiểu, hoặc đạo đức giả! Ngược lại, việc Tổng thống Francois Mitterand có vợ bé con riêng ngay khi ông còn tại chức là một bí mật ai cũng biết mà không nói tới. Vì thuộc khu vực riêng tư của đời sống cá nhân!

Về chủ trương kinh tế, dân Âu châu cũng nghiêng về khuynh hướng bao cấp hơn dân Mỹ và sẵn sàng phát huy tinh thần liên đới để san xẻ với người khác: họ chịu trả thuế cao hơn, đòi phúc lợi xã hội nhiều hơn, và an hưởng cuộc đời hơn dân Mỹ. Dân Mỹ là những người sẵn sàng đi cầy hai ba job và khi bị tăng thuế thì nhăn như bị. Giá xăng là một thí dụ rõ nhất: xăng pha thuế tại Âu châu thường đắt gấp đôi gấp ba xăng Mỹ mà có thấy các chính khách phải cuống cuồng biện bạch như tại Hoa Kỳ đâu!

Dân Âu châu cũng chủ hòa hơn dân Mỹ. Họ không muốn nói đến chuyện đao binh, rất ngần ngại khi gia tăng ngân sách quốc phòng và trong mọi trường hợp đều nghĩ tới giải pháp thương nghị hơn là dụng binh. Họ cũng thấy rằng Âu châu phải có tiếng nói mạnh hơn trên các diễn đàn quốc tế và Bush là lý cớ rất tiện để thoái thác việc góp tiền gom quân đánh giặc!

Hãy tưởng tượng xem: nếu Hoa Kỳ ủng hộ quan điểm lý tưởng của Âu châu mà cùng can thiệp vào Miến Điện để cứu nạn nhân thiên tai, thì việc lập cầu không vận hay tung lính vào bảo vệ công tác cứu trợ sẽ do ai lo phần lớn" Giả thuyết không mấy sai là sau khi giơ tay ủng hộ giải pháp nhân đạo - vượt qua sự phản đối của chế độ quân phiệt Miến để cấp cứu thường dân - Âu châu có thể ngồi trên đôi tay của mình để xem chiến hạm và phi cơ Mỹ bay vào xứ Miến!

Dường như là dù có Bush hay không, Âu châu đã thoát khỏi mối nguy Liên Xô và cho rằng mình có một nhân sinh quan và chính trị quan có giá trị hơn Hoa Kỳ. Vì vậy, họ phải có tiếng nói ngang bằng với Mỹ về thiên hạ sự. Họ chống Mỹ không chỉ vì ghét Bush mà chống Mỹ vì thấy mình khác Mỹ.

Có nhắc tới cầu không vận Bá Linh vào 60 năm trước, họ sẽ coi là một trang sử đã qua.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.