Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Những Ngày Cuối Của VNCH

11/03/200800:00:00(Xem: 2222)

Lời Người Dịch: Bắt đầu từ năm 1976 Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ mời một số tướng lãnh của ba quốc gia Việt, Cam Bốt và Lào, viết lại kinh nghiệm quân sự của họ trong cuộc chiến Đông Dương. Sáu cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa cộng tác và hoàn tất 16 tác phẩm, ghi lại kinh nghiệm của họ về cuộc chiến Việt Nam. Trung Tâm Quân Sử Lục Quân xuất bản bộ sách này dưới tựa đề Indochina Monographs, gồm các tác phẩm:
The Final Collapse (1983). Đại tướng Cao Văn Viên.
Leadership (1981). Đại tướng Cao Văn Viên.
Reflections on the Vietnam War (1980). Đại tướng Cao Văn Viên & Trung tướng Đồng Văn Khuyên.
The RVNAF [Republic of Vietnam Armed Forces] (1980). Trung tướng Đồng Văn Khuyên.
RVNAF Logistics (1980). Trung tướng Đồng Văn Khuyên.
The Easter Offensive of 1972 (1980). Trung tướng Ngô Quang Trưởng.
RVNAF and U.S. Operational Cooperation and Coordination (1981). Trung tướng Ngô Quang Trưởng.
Territorial Forces (1981). Trung tướng Ngô Quang Trưởng.
Lam Son 719 (1979). Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh.
Vietnamization and the Cease-fire (1980). Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh.
The South Vietnamese Society (1980). Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh & Chuẩn tướng Trần Đình Thọ.
The Cambodian Incursion (1979). Chuẩn tướng Trần Đình Thọ.
Pacification (1980).  The Cambodian Incursion (1979).
The General Offensive of 1968-1969 (1981). Đại tá Hoàng Ngọc Lung.
Intelligence (1982). Đại tá Hoàng Ngọc Lung.
Strategy and Tactics (1980). Đại tá Hoàng Ngọc Lung.
The U.S. Adviser (1980). Đồng Văn Khuyên, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Duy Hinh, Trần Đình Thọ, Hoàng Ngọc Lung.
Đặc biệt trong bộ sách Indochina Monographs, tuy không phải là sĩ quan Việt Nam nhưng đại tá Hoa Kỳ William E. Le Gro, đã soạn một tác phẩm rất quan trọng về hai năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, From Cease-Fire to Capitulation. Đại tá Le Gro là một sĩ quan có nhiều kinh nghiệm ở chiến trường Á Châu. Trong năm năm phục vụ tại Việt Nam ông từng giữ chức trưởng phòng tình báo của Sư Đoàn 1 Bộ Binh; ba năm cuối cùng của chiến tranh Việt Nam ông là sĩ quan tình báo của MACV, rồi sau đó là trưởng phòng tình báo của DAO, cơ quan quân viện thay thế cho MACV sau Hiệp Định Paris 1973. Tác phẩm của đại tá Le Gro đáng được tham khảo song song với những tác phẩm của các cựu sĩ quan Việt Nam nói trên.
Trong thời gian dịch quyển Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa (The Final Collapse), người dịch có nói chuyện nhiều lần với đại tướng Viên. Trong những lần nói chuyện, người dịch biết thêm về những khó khăn đại tướng Viên đối diện từ khi đảm nhiệm chức Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH cho đến ngày Miền Nam thất thủ. Trong khi những khó khăn hay những bí mật về cuộc chiến Việt Nam đại tướng Viên đã kinh nghiệm qua, là một đề tài bàn luận khác, ở đây người dịch chú trọng tới nội dung của tác phẩm đang được nói đến.
Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa được soạn thảo trong khoảng năm 1976-1978 (nhưng đến năm 1983 mới được xuất bản, có lẽ vì phải chờ giải mật và hợp thức hóa một số hồ sơ). Trong thời gian đó những tài liệu bí mật về cuộc chiến Việt Nam chưa được giải mật nhiều; sách của đại tướng Viên bị giới hạn vào những tài liệu được giải mật lúc đương thời hay chỉ có thể đề cập đến một cách tổng quát. Từ lúc tác phẩm được xuất bản cho đến nay, rất nhiều sách biên khảo, hồi ký ra đời, làm sáng tỏ thêm những bí mật của lịch sử và cuộc chiến Việt Nam hơn quyển sách của tướng Viên có thể cung cấp. Ở điểm đó chúng ta thông cảm được cho tác giả Cao Văn Viên: có nhiều sự kiện không được nhấn mạnh hay đề cập đến trong sách vì không có tài liệu hay nhân chứng. Một vài thí dụ như: những sự kiện về trận Ban Mê Thuột được đại tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng quân báo quân đoàn II, sau khi ra khỏi tù cộng sản, viết lại chi tiết hơn. Hay chuyện quân đoàn I bị thất thủ một cách nhanh chóng, và cuộc rút quân ở quân đoàn II trở nên rối loạn là trách nhiệm hoàn toàn của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, theo những gì cựu phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên kể lại. Một số tài liệu khác cho thấy sự rối loạn của các lệnh hành quân gởi ra mặt trận từ Dinh Độc Lập làm cho cuộc sụp đổ của QLVNCH sụp đổ nhanh hơn.
Quyển Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa của tướng Cao Văn Viên là một trong những quyển sách trong bộ Indochina Monographs được nhiều sử gia hiện đại của Trung Tâm Quân Sử Hoa Kỳ như Ronald S. Spector, Jeffrey J. Clarke, Phillip B. Davidson... trích nhiều trong các sách biên khảo về quân sự và quân sử. Các chương 2, 3, và 4 trong tác phẩm cung cấp nhiều chi tiết cần thiết về các hoạt động quân sự của cộng sản ngay sau ngày ngưng bắn. Thực trạng về sự thiếu thốn quân cụ và vũ khí của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng được nói đến trong các chương này. Người dịch hy vọng quyển Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa sẽ là một bổ túc cho những sử liệu về sự sụp đổ của một quốc gia và một quân đội đã hiện hữu 20 năm.
Trong bản dịch này, ngoài một số chú thích của dịch giả để cung cấp thêm tài liệu mới vào sử liệu, tác giả Cao Văn Viên cũng thêm vào một số chú thích của ông. Những chú thích này là phản ảnh của tác giả sau khi đọc nhiều tác phẩm có liên hệ đến cuộc chiến, hay liên hệ đến chính cá nhân tác giả.
Như để giữ lại một dấu tích của tác phẩm ở dạng nguyên thủy Anh ngữ, người dịch và nhà xuất bản xin được chụp lại trang giới thiệu của chuẩn tướng James S. Collins, Jr., viện trưởng Viện Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ, về tác phẩm The Final Collapse của đại tướng Cao Văn Viên.
Nguyễn Kỳ PhongTháng 1, 2003. Centreville, Virginia

*

Chương 1: Tổng Quát

Ngày 30 tháng 4, 1975, khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ và không còn hiện hữu như một quốc gia, thế giới bạn và thù sửng sốt. Mọi người, ngay cả kẻ chiến thắng, không tin cộng sản chiếm được miền Nam một cách dễ dàng và nhanh chóng như vậy. Làm sao chuyện đó có thể xảy ra" Tại sao miền Nam sụp đổ quá nhanh" Chuyện gì đã xảy đến cho một quân đội đã anh dũng chống lại hai cuộc tấn công hung hãn của CS vào năm 1968 và 1972" Làm sao một quân đội hùng mạnh như quân đội VNCH có thể sụp đổ một cách dễ dàng trong một thời gian ngắn ngủi"
Nhiều câu hỏi đặt ra, nhưng khó tìm câu trả lời. Thật vậy, tìm một lời giải thích trung thực và rõ ràng cho những câu hỏi trên là chuyện không dễ: Những kinh nghiệm đau thương và sự phẩn nộ bắt nguồn từ một mất mát lớn lao có thể làm cho câu trả lời sai lạc, thiếu chính xác. Thêm vào đó, những mặc cảm lỗi lầm, hay bản năng tự vệ muốn bảo tồn thanh danh của những người trong cuộc, có thể làm cho sự thật, giả, ngụy tạo, và chân lý lẫn lộn. Trong khi chúng ta có thể xác định những nguyên do trực tiếp đưa đến sự thất thủ, một số nguyên do có hậu quả liên đới khác, những nguyên do xa gần, được ghi lại rành mạch hay chỉ được nhắc đến một cách ngấm ngầm cần được nói đến.
Từ khi lập quốc, Việt Nam có một lịch sử trường tồn dài và gian khổ. Ngoài lịch sử về của những triều đại phong kiến, lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc tranh đấu chống ngoại xâm. Là một quốc gia nhỏ bé ở phía nam biên giới một quốc gia vĩ đại với tên là "Trung Quốc," Việt Nam luôn luôn lo sợ bị đô hộ. Một ngàn năm nằm dưới sự đô hộ của của Trung Hoa, rồi giành lại được độc lập chín trăm năm. Sau đó, gần một trăm năm nằm dưới sự cai trị của Pháp; và ba mươi năm nội chiến... tất cả, là lịch sử Việt Nam. Trong thời gian bị Tàu đô hộ, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, Triệu Ẩu, và Lý Bôn, nhân dân Việt Nam nổi dậy ba lần vào các năm 39, 248, và 542 sau tây lịch, chống lại sự đô hộ và giành lại được độc lập dù chỉ trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, trong suốt thời gian bị thống trị, dù người Tàu bắt buộc người Việt phải sống theo phong tục, tập quán, ngôn ngữ của họ, người Việt đã bền bỉ chống lại sự đồng hóa của người Tàu. Đó là một kỳ công sau những năm dài bị đô hộ, người Việt Nam trở thành một nước độc lập với một nền văn hóa riêng biệt.
Nền độc lập của Việt Nam bắt đầu từ năm 939, dưới triều Ngô. Đây là một triều đại hưng thịnh nhất của lịch sử Việt Nam. Trong 600 năm đầu từ khi được độc lập, các triều đại Lê, Lý, Trần, đã mở mang bờ cõi về hướng nam, sâu vào lãnh thổ dân Chàm, rồi từ năm 1471 sát nhập luôn đất Chàm vào lãnh thổ Việt Nam. Ba lần, vào những năm 1257, 1284, và 1287, dưới sự chỉ huy tài ba của Trần Hưng Đạo, chúng ta đã chống lại những cuộc tấn công hung bạo của quân Mông Cổ. Đánh bại được quân Mông Cổ là chuyện chưa xảy ra trong lịch sử của các dân tộc khác: Cho đến lúc đó, Mông Cổ đã chiếm trọn Trung Hoa, và đang trên đường chinh phục toàn cõi Châu Âu.
Nhưng Việt Nam bị kém may mắn khi bị phân chia ba lần. Lần đầu rất ngắn, xẩy ra năm 1527 dưới đời Mạc Đăng Dung, khi Mạc Đăng Dung cướp quyền nhà Lê. Lần phân chia thứ nhì kéo dài gần 200 năm, xảy ra khi chúa Trịnh ở miền Bắc và Chúa Nguyễn ở miền Nam tranh chấp quyền lực với nhau. Đất nước thống nhất vào năm 1802 khi Nguyễn Ánh, dưới sự giúp đỡ của người Pháp, đánh bại đối phương và lên ngôi với niên hiệu Gia Long.
Chính sự giúp đỡ từ ngoại nhân đã đưa đến sự thống trị của người Pháp. Trong thời gian gần một trăm năm bị đô hộ, nhiều cuộc nổi dậy chống lại người Pháp. Từ những cuộc nổi dậy đầu tiên của các nhà cách mạng như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, hô hào việc khôi phục lại ngôi vua như một chánh nghĩa, cho đến cho đến những nhà cách mạng có tinh thần quốc gia thuộc Quốc Dân Đảng như Nguyễn Thái Học người đã cùng mười ba đồng chí trả giá cho lòng ái quốc bằng đầu mình trên máy chém vào năm 1930.
Sau đệ nhị thế chiến, một số đảng viên Quốc Dân Đảng được sự trợ giúp của Trung Hoa, trở về Việt Nam với ý định tranh đấu giành lại độc lập từ người Pháp. Nhưng với một cơ cấu tổ chức thiếu chặt chẽ; với nội tình trong đảng có nhiều phân chia, Quốc Dân Đảng không tranh được ảnh hưởng sâu rộng đối với quần chúng như những Đảng Cộng Sản lúc đó còn nằm dưới tên Việt Minh. Với cơ cấu tổ chức đảng chặt, ý chí kiên trì, nhóm cộng sản của Việt Minh chiếm chánh quyền dễ dàng sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh vào tháng 8, 1945, rồi tuyên bố Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 cùng năm.
Sau đệ nhị thế chiến, với sự hỗ trợ của Anh Quốc, Pháp trở lại miền nam Việt Nam trước, sau đó vừa thương lượng, vừa hăm dọa miền bắc với ý định tái lập chánh quyền đô hộ. Nhưng những thương lượng giữa Pháp và Việt Minh không đem lại kết quả. Sự căng thẳng giữa đôi bên gia tăng... và chiến tranh bùng nổ vào ngày 19 tháng 12, 1946.
Cuộc chiến tranh chống Pháp kéo dài tám năm. Trong thời gian đó, nhóm lãnh đạo Việt Minh dần dần trở nên lộ liễu hơn với ý thức hệ cộng sản. Họ hô hào người dân tiến về "con đường chủ nghĩa xã hội." Hành động tuyên truyền của những người cộng sản đưa người dân đến một chọn lựa chính trị: Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và ký hiệp định Geneva 1954, những người không cộng sản đã chọn thái độ chính trị của họ. Từ sau hiệp định, Nam Việt Nam hiện hữu như một quốc gia độc lập, với một vận mệnh riêng biệt. Toàn cõi Việt Nam bây giờ là một hữu thể độc lập chia ra làm hai miền: Miền Bắc với chính thể cộng sản, được Trung Cộng và Nga hỗ trợ về hai mặt quân sự kinh tế; miền Nam quốc gia được Hoa Kỳ và các quốc gia không cộng sản phụ giúp. Hoa Kỳ dùng viện trợ kinh tế và quân sự để xây dựng miền Nam thành một quốc gia độc lập, chống cộng, như một kế hoạch nằm trong chiến lược ngăn chặn sự xâm lăng của cộng sản ở vùng Đông Nam Á. (1) Khi chiến tranh tái diễn vào đầu thập niên 1960, đây cũng là nơi hai thế giới cộng sản và không cộng sản dùng nơi thử nghiệm vũ khí mới, chiến thuật quân sự, và ý thức hệ chính trị.
Thật sự mà nói, trong khoảng thời gian trợ giúp Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), với viện trợ quân sự và nhân sự qua các sư đoàn tác chiến, Hoa Kỳ đã tạo cho VNCH một lực lượng tự vệ đáng kể. Từ một quân lực với 173.000 quân nhân trang bị với vũ khí lỗi thời, quân đội VNCH trở thành một quân lực hùng mạnh, trang bị vũ khí tối tân, với hơn một triệu quân, và được coi là quân đội lớn nhất so với các quốc gia không cộng sản ở Á Châu. Không Quân VNCH lớn hàng thứ sáu trên thế giới, và các sư đoàn tác chiến tinh nhuệ của VNCH được so sánh ngang hàng với các sư đoàn tác chiến Hoa Kỳ. Nhưng sự trợ giúp đó cũng là một chuyện đáng tiếc: sau một thời gian dài nhận viện trợ, quân đội hùng mạnh nầy đã quá lệ thuộc vào tiền và quân viện để có thể sinh tồn; tinh thần tác chiến quen nhìn vào khả năng yểm trợ của không lực Hoa Kỳ như một cái mộc chống đỡ sự xâm lăng lộ liễu của cộng sản từ miền Bắc. Không thể chối cãi là quân đội VNCH có khả năng tác chiến; họ có khả năng tác chiến và tác chiến khá. Nhưng trong một thời gian dài họ tập ra tánh lệ thuộc vào những điều kiện đã có sẵn; coi những nhu cầu quân cụ là một nguồn viện trợ vô tận, và Hoa Kỳ lúc nào cũng đứng bên cạnh để giúp đỡ nếu họ bị lâm vào tình trạng nguy ngập. Lối suy nghĩ như vậy, sau một thời gian, điều kiện hóa tinh thần của đa số: dân thấy an lòng và quân đội thấy tin tưởng vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.
Như vậy, khi Hoa Kỳ chuyển hướng muốn thương lượng với cộng sản và bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam một cách nhanh chóng trong kế hoạch "Việt Nam hóa", quân đội VNCH chưa chuẩn bị về tinh thần cũng như nhân sự để thay thế. Làm sao họ có thể thiết lập ngay các đơn vị tác chiến để thay thế bảy sư đoàn đầy đủ, bốn lữ đoàn biệt lập, và vô số các đơn vị yểm trợ phụ thuộc của Hoa Kỳ đang có mặt tại Việt Nam. (2) Đó là chưa kể các đơn vị của các quốc gia của thế giới tự do. Không có vũ khí, quân cụ, huấn luyện quân sự, hay bất cứ một tuyên truyền chính trị nào có thể thay vào khoảng trống nhân sự đang thiếu và trấn an được một tâm lý lo sợ sẽ bị bỏ rơi. Sau khi Hoa Kỳ rút quân, quân lực VNCH bị trải mỏng ra và bắt đầu thấy được những hậu quả của sự thiếu thốn đó.
Cuộc tấn công của địch quân vào năm 1972 cho thấy sự yếu kém của kế hoạch Việt Nam hóa một cách thảm thương. Nếu không có sự yểm trợ về không lực và không vận của Hoa Kỳ quân đội ta khó giữ nổi An Lộc, chận đứng cuộc tấn công của cộng quân vào Kontum, hay chiếm lại Quảng Trị. Sau cuộc tấn công năm 1972, những phần đất đã mất, chúng ta để mất luôn vì không còn khả năng đánh chiếm lại. Nói tóm lại, chúng ta giữ được cán cân quân sự đối với địch nếu có sự yểm trợ không lực của Hoa Kỳ. Và với không lực, VNCH có khả năng chống lại mọi cuộc tấn công của miền Bắc.
Nhưng một khúc quanh lịch sử xuất hiện, và khúc quanh đó đưa đến mọi thay đổi. Hiệp Định Ba Lê được trao vào tay chúng ta như một trát lệnh tử hình. Việt Nam Cộng Hòa bị dẫn vào một ngõ cụt từ đó. Không ngạc nhiên khi đối phương gọi bản hiệp định là một chiến thắng. Thật vậy, cộng sản đã thắng vòng đầu. Khi Hoa Kỳ đã rời khỏi Việt Nam, cộng quân sửa soạn cho một cuộc tấn công cuối. Họ không còn lo ngại gì nữa: không kích và yểm trợ của không quân Hoa Kỳ không còn nữa dù chỉ như một hăm dọa lấy lệ. Cán cân quân sự từ lâu được giữ quân bình một cách cẩn thận bằng không lực, từ nay nghiêng hẳn về phía địch.
Câu hỏi Hoa Kỳ có trở lại can thiệp hay không là sự quan tâm lớn nhất khi VNCH miễn cưỡng chấp nhận duyệt xét Hiệp Định Ba Lê. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã không làm khó dễ với Hoa Kỳ, khi ông đòi muốn Hoa Kỳ bảo đảm can thiệp nếu muốn VNCH ký hiệp định Ba Lê. Sự bảo đảm của Hoa Kỳ là vấn đề hệ trọng, gắn liền vào sự sống còn của một quốc gia. Hơn tất cả mọi người, tổng thống Thiệu nhận thấy nếu không có sự bảo đảm của Hoa Kỳ, VNCH không có cách nào chống lại cuộc tấn công qui mô của quân đội Bắc Việt với vũ khí tối tân, và quân cụ đầy đủ hơn. Chẳng những sự can thiệp của Hoa Kỳ là một cần thiết về vấn đề quân sự, lời hứa bảo đảm còn nâng cao tinh thần của quân đội VNCH. Viễn ảnh VNCH phải chiến đấu một mình không có sự trợ giúp và bảo vệ của Hoa Kỳ sau hiệp định là chuyện không thể suy tưởng được. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa tin khi tổng thống Nixon thành khẩn hứa là Hoa Kỳ sẽ trả đũa mạnh nếu cộng sản vi phạm hiệp định Ba Lê. Việt Nam Cộng Hòa coi lời hứa của tổng thống Nixon là lời hứa của Hoa Kỳ, không nghĩ đến những chuyện khó khăn trong tương lai sẽ xẩy ra cho Nixon như vụ Watergate, hay quốc hội Hoa Kỳ tức giận về chuyện đó đến độ ngăn cản những vị tổng thống kế nhiệm thi hành lời hứa của Hoa Kỳ đối với VNCH dù lời hứa đã được chánh phủ tiền nhiệm đồng ý thoả thuận.
Đầu năm 1975 cộng quân đánh một ván bài để dò xét phản ứng của Hoa Kỳ: Họ chiếm tỉnh Phước Long, tiên đoán Hoa Kỳ sẽ không phản ứng gì. Cộng quân tiên liệu đúng và thắng canh bạc. Bây giờ họ biết chắc Hoa Kỳ sẽ đứng ngoài cuộc chiến, không bao giờ trở lại. Con đường xâm lăng của cộng sản vậy là không còn gì cản trở cho đến mục tiêu chiến thắng sau cùng. (3)
Nếu cái chết của VNCH bắt đầu bằng hiệp định Ba Lê, và sự im lặng của Hoa Kỳ là một dấu hiệu tốt để cộng sản tiếp tục kế hoạch tối hậu của họ, thì vấn đề giảm thiểu quân viện đã làm gia tăng tiến trình của hai sự kiện trên. Từ những bất lợi đó, chuyện VNCH sẽ sụp đổ là chuyện phải xảy ra. Quân lực VNCH đã quen chiến đấu với số lượng quân trang quân dụng nhất định, bây giờ khó hoạt động trong hoàn cảnh thiếu thốn như trong tài khóa năm 1975. Lần đầu tiên trong cuộc chiến, khi cường độ chiến trường gia tăng mãnh liệt theo hoạt động của địch, quân đội Việt Nam rơi vào tình trạng yếu thế. Việt Nam Cộng Hòa mất đi sức mạnh hỏa lực và khả năng cơ động là hai ưu điểm chính yếu để giữ thăng bằng về chiến thuật đối với một đối phương lúc nào cũng nắm thế chủ động. Bây giờ quân đội VNCH chỉ còn một hy vọng duy nhất là cầm cự trong trong khi chờ đợi Hoa Kỳ tái định lại mức quân viện cần thiết như đã cung ứng trong quá khứ. Nhưng có một nghịch lý trong sự khó khăn khi ngành hành pháp đi xin ngân khoản tài trợ quân viện: tổng thống Hoa Kỳ phải van xin quốc hội về một ngân khoản đã được chấp thuận trước. Quốc hội Hoa Kỳ từ chối đề nghị về ngân quỹ của tài khóa 1975, vì ngôn ngữ trong bản cam kết gọi chi phí đó là ngân khoản phụ trội hoặc là ngân khoản cho thêm thay vì tên gọi đúng nghĩa của ngân khoản đó là ngân khoản cần thiết [chữ in nghiêng của tác giả].
Quân viện bị giảm bớt nặng không những gây ra hậu quả bi thảm ở chiến trường, sự cắt giảm còn làm các chiến lược gia miền Nam lo âu. Khả năng giữ được lãnh thổ gắn liền với mức viện trợ. Khi quân viện bị cắt giảm, nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ nguyên vẹn khó hoàn tất. Các chiến lược gia VNCH suy luận: phương cách tốt nhất là phòng thủ lãnh thổ theo khả năng quân viện cho phép. (4) Nói ra nghe đơn giản, nhưng chiến lược phòng thủ cách đó phản ảnh tình hình thực tại. Đầu năm 1975 khi tổng thống Thiệu tái bố trí các đơn vị theo hệ thống phòng thủ mới, quyết định của ông không phải không chín chắn hay không có lý do. Nhưng cũng chính quyết định nầy là một định mệnh, kéo theo những lầm lẫn tại hại khác. Và những lỗi lầm tích tụ, đem đến sự sụp đổ của miền Nam.
Nguyên nhân chính làm VNCH sụp đổ nhanh chóng là kế hoạch tái phối trí các đơn vị được thực hiện quá vội vàng và bất cẩn. Nhưng với một cuộc phối trí quan trọng và rộng lớn như vậy, dù cho kế hoạch được thực hiện cẩn thận như hoạch định, xác suất thành công cao lắm cũng chỉ được năm mươi phần trăm căn cứ trên khả năng truy kích của địch quân. Lịch sử quân sự cho ta nhiều thí dụ về những cuộc lui quân trở thành một cuộc tan hàng rối loạn. Đó là lý do tại sao tư lệnh mặt trận rất ngại khi phải áp dụng kế hoạch lui quân gấp rút. (5)
Trong bối cảnh của chiến tranh Việt Nam, chính trị và quân sự gắn liền nhau. Ở một cuộc chiến mà người dân cần sự bảo vệ của quân đội và quân đội chiến đấu vì dân. Khi soạn thảo kế hoạch rút quân, nếu không tiên liệu phản ứng của dân thì kế hoạch đó kể như thất bại. Quân đội VNCH không phải như quân đội viễn chinh, chiến đấu trên một lãnh thổ xa lạ. Khi rút lui hay di chuyển, nếu quân đội không bảo vệ hay di tản dân, thì đó là hành động vô trách nhiệm và thiếu bổn phận. Sự thất bại của cuộc tái phối trí quân đội ở Vùng I và II là bằng chứng cho thấy một sự thật thảm thương: dân và quân đội không thể nào rời nhau được; và sự di chuyển /di tản của quân đội có thể bị hạn chế bởi số dân đang tìm cách đi theo. Nguyên nhân sự sụp đổ của quân đội VNCH là những khó khăn đó.
Đó là những nguyên do giải thích sự tan rã nhanh chóng của một quân đội đã chiến đấu anh dũng cho đến khi bị tan rã vì những biến cố nằm ngoài khả năng kiềm chế của họ. (Còn tiếp...)

Chú thích:
1. Ở phần sau của quyển sách tác gỉa sẽ bàn về Chiến Lược Cô Lập, một lý thuyết ngăn chặn xâm lăng của cộng sản. (chú thích của tác giả).
2. Đại sứ Bunker và tư lệnh MACV Creighton Abrams lần đầu nói chuyện với tổng thống Thiệu về kế hoạch Việt Nam hóa ngày 17 tháng 1, 1969. Nhưng từ tháng 4, 1968, tổng thống Thiệu đã tuyên bố người Mỹ có thể rút quân dần trong tương lai. 11 tháng 4, 1968, tổng thống Johnson bổ nhiệm tướng Abrams thay tướng Westmoreland làm tư lệnh quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam. Gần cuối năm 1968, Johnson ra lệnh Abrams nghiên cứu kế hoạch Việt Nam hóa. Vào tháng 1, 1969, Hoa Kỳ có 359 ngàn quân Bộ Binh; 80 ngàn Thủy Quân Lục Chiến; 36 ngàn Hải Quân; và 58 ngàn Không Quân ở Việt Nam. Phía VNCH có tương đương 10 sư đoàn bộ binh (kể luôn sư đoàn Dù và sáu tiểu đoàn TQLC) và 16 thiết đoàn. Xem Shelby Stanton, The Rise and Fall of an American Army (Presidio: California, 1985), trang 284-285; Jeffrey J. Clarke, Advice and Support: The Final Years (U.S. Army Center of Military: Washington, D.C., 1988) trang 346-347; đô đốc Elmo R. Zumwalt, Jr., On Watch (Quadrangle: NY, 1976) trang 36, 46-47, 377-378; và Đoàn Thêm, 1968: Việc Từng Ngày, (Xuân Thu: California, 1989), trang 11, 129 (chú thích của dịch giả).
3. Về những áp lực từ phía Hoa Kỳ bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải thỏa thuận Hiệp Định Ba Lê 1973, đọc Larry Berman, No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (The Free Press: NY, 2001); Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, The Palace File (Harper & Row: NY, 1986). Về vai trò của Alexander Haig như một người đưa tin giữa Nixon, Kissinger và tổng thống Thiệu, đọc Roger Morris, Haig: The General Progress (The Playboy Press: Chicago, 1982) (chú thích của dịch giả).
4. Vào khoảng tháng 1 năm 1974, Bộ Tổng Tham Mưu được phía Hoa Kỳ thông báo viện trợ quân sự trong tài khoá 74-75 bị cắt giảm 300 triệu mỹ kim. Tổng Cục Tiếp Vận phụ trách việc cung cấp quân trang, quân dụng, xe cộ, vũ khí và đạn dược cho toàn thể quân lực VNCH đã nghiên cứu một kế hoạch để đối phó với tình hình mới. Một cách tổng quát, kế hoạch nhận định là, chương trình quân viện bị cắt giảm chỉ có thể thỏa mãn một quân đội với số quân ít hơn; và số quân đó chỉ có khả năng phòng thủ một lãnh thổ tương xứng của VNCH mà thôi. Kế hoạch này rấy hợp lý trên thực tế. Nhưng tổng thống Thiệu, với tư cách Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực VNCH, đã đề ra đường lối quốc gia "Bốn Không" (một trong những cái không đó là không cắt đất cho cộng sản). Thấy kế hoạch của Tổng Cục Tiếp Vận trái với quốc sách trên nên tác giả không chỉ thị trình lên tổng thống một cách chính thức. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Liên Quân kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, được phép trình miệng kế hoạch trên cho tổng thống. Theo lời tướng Khuyên trình lại, sau khi nghe thuyết trình, tổng thống Thiệu không có chỉ thị gì thêm, và tổng thống cũng không có chỉ thị nào trực tiếp cho tác giả. Vì những lý do trên, kế hoạch bị bỏ qua một bên (chú thích của tác giả).
5. Chương Tan Hàng Rối Loạn ở Cao Nguyên sẽ nói thêm về phương cách nào có thể chiếm lại được Ban Mê Thuột (Chú thích của tác giả).

Nguyên Tác: The Final Collapse Của Đại Tướng Cao Văn Viên. Dịch giả: Nguyễn Kỳ Phong

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
Bốn người được báo cáo đã bị giết chết hôm Thứ Năm sau một vụ cảnh sát rượt đuổi qua nhiều quận đã kết thúc trong trận đấu súng trên đường Miramar Parkway theo sau một tên cướp có vũ khí tại Coral Gables, tiểu bang Florida.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.