Hôm nay,  

Tín Hiệu Xanh

04/12/200700:00:00(Xem: 9222)

Từ giữa năm 2006 đến cuối năm 2007, Hà Nội đã tạo được nhiều thành công trên lãnh vực thương mại và bang giao quốc tế. Khởi đầu với sự thành công của Thượng Đỉnh APEC, sau đó là trở thành hội viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, rồi gần đây nhất là việc thành công trong nỗ lực để trở thành thành viên Không Thường Trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Với những thành công như thế, Hà Nội một mặt phải tiếp tục tô vẽ cho một chế độ đang trên đà băng hoại với tệ nạn tham nhũng, cường hào ác bá, bóc lột dân nghèo của giới lãnh đạo Cộng Sản, một mặt phải tìm cách bứng rễ một phong trào tranh đấu non trẻ nhưng không kém phần cương quyết vừa mới xuất hiện tại Việt Nam.

Năm 2006 là thời điểm khởi động của những phong trào tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam. Từ là những cá thể hoạt động riêng biệt, những nhà tranh đấu cho dân chủ đã tụ hợp lại. Lần đầu tiên, họ hoạt động trong tổ chức, và trong khoảng thời gian rất ngắn đã tạo được sự hậu thuẫn của thế giới đối với một phong trào dân chủ vừa chớm nở tại Việt Nam. Từ là những người không ai biết đến, nay cả thế giới đều biết đến Khối 8406 như là một tổ chức tranh đấu cho dân chủ tại Việt Nam.

Song song với sự xuất hiện của phong trào tranh đấu cho dân chủ bằng phương pháp bất bạo động, giới công nhân Việt Nam cũng dần dần ý thức được quyền của họ. Những cuộc đình công lan rộng của công nhân Việt Nam trong năm đã làm cho Hà Nội lúng túng không biết giải quyết ra sao. Theo đà phát triển của phong trào công nhân đình công lan rộng từ Nam ra Bắc, lần đầu tiên, tại Việt Nam xuất hiện những nhà hoạt động công đoàn độc lập, và họ tranh đấu đòi hỏi quyền tự do lập hội để bảo vệ quyền người lao động. Vì không biết giải quyết vấn đề như thế nào, Hà Nội đã dùng vũ lực để đàn áp và giam giữ những nhà hoạt động công đoàn độc lập. Tuy luôn bị Hà Nội dùng côn đồ và công an đe dọa, giới công nhân tại Việt Nam vẫn tiếp tục tổ chức đình công để đòi hỏi sự công bằng trong lương bổng và quyền được đối xử với đầy đủ nhân phẩm. Điều đáng xấu hổ cho Hà Nội là khi những giám đốc hoặc quản lý ngoại quốc ra tay đánh đập công nhân Việt Nam tàn nhẫn, thì cả guồng máy cai trị đã im lặng.

Chính giới Hoa Kỳ đã gọi lãnh đạo Hà Nội như là những kẻ lừa dối vì trước khi được trở thành hội viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, Hà Nội đã hứa hẹn rằng sẽ tôn trọng nhân quyền và đối kháng. Thế nhưng Hà Nội đã bung ra một chiến dịch bức hại các nhà hoạt động dân chủ có quy mô mà tổ chức Human Rights Watch đã cho là "một cuộc đàn áp tệ hại nhất". Những quốc gia tự do có tòa đại sứ tại Việt Nam đã cùng một lúc lên án hành động này của Hà Nội.

Hoa Kỳ tuy có nhiều triển vọng hợp tác kinh tế và quân sự với Việt Nam, nhưng chính quyền Hoa Kỳ cũng đã phản ứng mạnh mẽ trước sự dối trá của Hà Nội. Tháng 10 năm 2007, Hạ Viện Hoa Kỳ đã thông qua và chuyển lên Thượng Viện dự luật Nhân Quyền cho Việt Nam 2007.

Ngoài Hoa Kỳ, Liên Minh Âu Châu cũng đã có hành động để lên án những hành động bạo lực của Hà Nội đối với đối kháng và tôn giáo tại Việt Nam. Vào ngày 15 tháng 11 năm 2007, Liên Minh Âu Châu đã công bố Nghị Quyết lên án vị phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam và một số quốc gia khác.

Để tỏ thái độ ủng hộ phong trào tranh đấu cho tự do và dân chủ tại Việt Nam của đồng bào tại quốc nội và hải ngoại, Tổng Thống Hoa Kỳ George Bush, Chủ Tịch Quốc Hội Hoa Kỳ đã gặp gỡ đại diện của những tổ chức tranh đấu của người Việt để bày tỏ sự ủng hộ của họ trước khi chính quyền Hoa Kỳ tiếp đón Nguyễn Minh Triết.

Với những bạo lực trong tay, Hà Nội luôn sẵn sàng trừng phạt những con người Việt Nam can đảm nói lên tiếng nói của sự thật để lật tẩy những cái hào nhoáng dối trá của chế độ. Thế nhưng bạo lực đã không làm chùn tấm lòng của những con người Việt Nam thuộc nhiều thành phần tôn giáo và xã hội đứng lên đòi lại quyền làm người.

Với những chiến dịch đàn áp và giam giữ những nhà đối kháng tại Việt Nam, Hà Nội nhiều phần tự tin là họ sẽ nhổ tận gốc rễ phong trào tranh đấu còn non trẻ, nhưng tin tức về việc Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Vân và Ông Trương Văn Ba bị bắt khi họ trở về để hoạt động tại quốc nội từ Hoa Kỳ và Pháp đã mở thêm một cái nhìn mới về công cuộc tranh đấu giải phóng cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.

Cả thế giới, và ngay cả chính Hà Nội, có lẽ đã quen thuộc và cho là bình thường khi những nhà hoạt động dân chủ tại Việt Nam bị đàn áp vì họ đang sinh sống dưới sự cai trị của chế độ, nhưng khi con dân Việt Nam từ hải ngoại trở về để hoạt động trong lòng kẻ thù của dân tộc đã hóa giải những âm mưu độc ác của Hà Nội nhằm tạo sự hận thù giữa đồng bào tại quốc nội và hải ngoại.

Trong nhiều năm qua, Hà Nội luôn luôn nỗ lực tuyên truyền rằng người Việt Nam tại hải ngoại là phản bội tổ quốc với mục đích tạo sự thù hận giữa các thành phần dân tộc Việt. Sự trở về của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Vân và ông Trương Văn Ba đã bắc một nhịp cầu liên kết giữa người Việt Nam với người Việt Nam mà không cần phải qua tay chế độ. Nói một cách khác, hành động anh dũng của 3 nhân sự kể trên đã tước đi quyền lực của Hà Nội vì Hà Nội xưa nay phải nhất định kiểm soát và chi phối tất cả các sinh hoạt trong mọi lãnh vực và khía cạnh của xã hội Việt Nam.

Ý nghĩa thứ hai của việc trở về của 3 nhân sự kể trên cũng là một sự xác quyết hùng hồn nhất đối với nhân dân Việt Nam và các nhà tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam rằng các đảng viên Việt Tân luôn luôn sẵn sàng sát cánh với họ để cùng chung lực tranh đấu vì một tương lai tươi sáng cho Việt Nam.

Hà Nội đã bỏ nhiều nỗ lực để dán nhãn "khủng bố" cho Việt Tân và những tổ chức tranh đấu cho dân chủ của người Việt tại hải ngoại, nhưng khi truyền thông quốc tế cho thấy đảng viên Việt Tân bị chế độ bắt giữ khi họ chỉ đơn thuần hoạt động với những phương tiện bất bạo động, thì chính Hà Nội sẽ bị cả thế giới xem như là kẻ bức áp phong trào bất bạo động.

Vậy điều gì thôi thúc những con người dũng cảm kia sẵn sàng từ bỏ sự an nguy của bản thân để cùng với đồng bào của họ tại quốc nội cùng chung xây dựng một ước mơ cho ngày mai" Điều gì khiến cả một chế độ có quân đội, công an, báo chí và được quốc tế công nhận như Hà Nội lại phải lo sợ trước sự xuất hiện của những con người ấy"

Câu trả lời được diễn tả bởi Luật sư Lê Quốc Quân khi ông viết: "Người quyết định việc nắm bắt hay không cơ hội đó là tuổi trẻ chúng ta. Thang giá trị sống bị đảo lộn thì chúng ta phải lập lại. Khi phong bì tràn ngập công sở, đổ bộ vào cả giảng đường và bệnh viện, thì lớp trẻ chúng ta cùng siết tay, dồn đuổi tệ nạn đến tận cùng. Khi đâu đó có bạn đang mệt mỏi buông xuôi, thì nơi đây những ngọn lửa của màu xanh yêu thương và hi vọng sẽ thắp lên, động viên nhau giữ vững tinh thần. Khi xu hướng vọng ngoại đang lên cao, thì nơi đây chúng ta truyền cho nhau tinh thần tự tôn dân tộc và ý thức về dòng máu Việt vinh quang... Tuổi trẻ chúng ta sẽ tự làm những sứ giả, với trái tim nóng và cái đầu đầy lý trí, lần tìm nhau, giục giã nhau tiến bước dựng xây đất nước mình".

Cùng chung nhịp cầu của tình tự dân tộc với Lê Quốc Quân, và cùng chung một niềm tin mãnh liệt vào con người Việt Nam với một xác tín vững chãi vào một tương lai tươi sáng của dân tộc, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân, nhà báo Nguyễn Thị Thanh Vân và ông Trương Văn Ba và nhiều đảng viên Việt Tân khác từ hải ngoại đã lần tìm nhau và họ đang tự làm những sứ giả để gửi đi những tín hiệu màu xanh của yêu thương và hy vọng để cùng tiến bước dựng xây đất nước họ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.