Hôm nay,  

Bài Học Đoàn Kết

31/10/200700:00:00(Xem: 7989)

Ngày 17 Tháng 10, 2007 Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 của Tây Tạng được Tổng Thống Bush và quý vị đại diện Quốc Hội HK trao tặng huy chương vàng tại Quốc Hội Hoa Kỳ. Đây là một ngày thật hãnh diện cho Ngài, cho tập thể Tây Tạng lưu vong và là một bài học cho hơn ba triệu người Việt lưu vong suy ngẫm.  Trong buổi lễ này hàng chục ngàn người, phần đông là người Tây Tạng đã tập trung ở West Lawn Quốc Hội HK để theo dõi buổi lễ được truyền hình qua một màn ảnh lớn bên ngoài.

Trước hết chúng ta nên tìm hiểu qua về huy chương vàng cao quý nhất này. Trước đây Quốc Hội HK chỉ trao huy chương này cho Đức  Giáo Hoàng Gioan Phao Lô II, Tổng Thống HK Ronald Reagan, Tổng Thống Gerald Ford, Cựu Tổng Thống Nam Phi Nelson Mandela, Nữ Tu Teresa và Cựu Thủ Tướng Anh Tony Blair.

Hơn 2/3 Quốc Hội, với 387 Dân biểu và Thưo.ng Nghị Sĩ HK đã thông qua dự luật  S.2784 trao tặng Đức Đạt Lai Lạt Ma huy chương vàng  này, để vinh danh những đóng góp vận động lâu dài, nổi bật của Ngài cho hòa bình, nhân quyền khắp thế giới và những cố gắng tìm giải pháp bất bạo động cho vấn đề Tây Tạng qua những cuộc đối thoại với những nhà lãnh đạo  Trung Cộng.

Trong cùng ngày này, buổi sáng Tổng Thống Bush cũng đã hội kiến riêng với Đức Đạt Lai Lạt Ma ở White House. 

Buổi lễ được cử hành vô cùng trang trọng, những nhân vật quan trọng trong Quốc Hội HK như Dân Biểu Tom Lantos,  Thượng Nghị sĩ Dianne Feinstein, Chủ Tịch Thượng Viện, Chủ Tịch Hạ Viện lần lượt được mời lên phát biểu.

Tổng Thống Mỹ đã phát biểu: "Người Mỹ không thể nhìn sự kiện đàn áp tôn giáo và nhắm mắt hay ngoảnh mặt đi. Đó là lý do tôi sẽ tiếp tục kêu gọi nhửng nhà lãnh đạo Trung Hoa tiếp đón Đức Lạt Lai Lạt Ma. Trung Hoa sẽ tìm thấy nơi Ngài một người của hòa bình và hòa giải.

Qua lịch sử, chúng ta đã hãnh diện đứng bên cạnh những người đã đưa ra thông điệp của hy vọng và tự do tới những nơi bị chà đạp và đàn áp trên thế giới. Đó là lý do vì sao chúng ta đến với nhà lãnh đạo tinh thần đáng kính phục này, sống ở thế giới xa xôi. Hôm nay, chúng ta vinh danh Ngài như là một biểu tượng của hòa bình và sự bao dung, là người hướng dẫn niềm tin và giữ ngọn lữa cho nhân dân của Ngài.

Tôi xin chúc mừng Đức Đạt Lai Lạt Ma trong buổi lễ vinh danh này. Tôi cũng hãnh diện có mặt ở đây hôm nay. Laura và tôi cùng nhân dân Hoa Kỳ thiết tha cầu nguyện cho nhân dân Tây Tạng có những ngày thịnh vượng và hoòa bình.”

Đức Đạt Lai lạt Ma cho biết năm 1949 đất nước Tây Tạng bị Trung Quốc xâm chiếm. Ông và một sồ nhân dân Tây Tạng phải lưu vong. Từ nhiều năm qua ông và nhân dân Tây Tạng đã tranh đấu bất bạo động, đòi hỏi nhà cầm quyền Trung Quốc phải trao trả quyền tự trị thật sự cho nhân dân Tây Tạng.

Theo báo giới Hoa Kỳ thì Trung Cộng vô cùng phẫn nộ trước sự kiện Tổng Thống Bush và Quốc Hội HK trao tặng huy chương cao quý nhất của HK cho Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh tụ tôn giáo mà cũng là nhà lãnh đạo chính trị lưu vong của Tây Tạng.

Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Trung Cộng Yang Jiechi ở Bắc Kinh nói,  sự trao tặng huy chương này làm tổn thương nghiêm trọng tới tình thân hữu giữ Trung Hoa và Hoa Kỳ, vì HK đã can thiệp vào nội bộ của Trung Hoa.  Các nhà ngoại giao Trung Cộng đã hết sức vận động để phá vỡ buổi trao huy chương tại Quốc Hội HK cũng như cuộc gặp gỡ  giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma với Tổng Thống Bush kể từ khi Quồc Hội HK biểu quyết chấp thuận trao huy chương vàng cho Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Ông Lodi Gyari, Đặc sứ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, cho rằng sự kiện Tổng Thống Bush đứng bên cạnh Đức Đạt Lai Lạt Ma trong buổi lễ trao huy chương vàng cao quý nhất này sẽ truyền đi một tín hiệu cho Trung Cộng là thế giới quan tâm tới Tây Tạng. Tây Tạng không bị thế giới bỏ quên. Đây là một khích lệ và hy vọng lớn lao cho nhân dân Tây Tạng.

Đọc qua bản tin trên đây chúng ta không khỏi thán phục Đức Đạt Lai Lạt Ma và tập thể nhân  dân Tây Tạng lưu vong đã đạt được  thành quả tốt đẹp trên bước đường vận động  cho nền tự trị của đất nước họ.

Được biết nhân dân Tây Tạng có khoảng sáu triệu người, và số người tỵ nạn lưu vong ở hải ngoại chỉ có hơn một trăm ngàn. Tập thể Tây Tạng lưu vong không giàu, với hơn một trăm ngàn người mà họ đã đoàn kết và hoạt động mạnh trên bình diện quốc tế.  Kết quả  Đức Lạt Lai Lạt Ma, vị lãnh đạo chính trị lưu vong của họ đã được trên năm mươi vị lãnh tụ của các quốc gia trên thế giới  tiếp kiến, gần đây Ngài được vinh danh ở Quốc Hội HK trong một buổi lễ vô cùng trang nghiêm. Vấn đề tự trị của Tây Tạng không còn là vấn đề riêng tư của Người Tây Tạng nữa mà là vấn đề của thế giới, thế giới đã không bỏ quên Tây Tạng… Có phải “ddoàn kết” là chất xúc tác đã  kết hợp hơn một trăm ngàn người Tây Tạng lưu vong thành một tập thể  duy nhất làm cho “International Committee for Tibet” hùng mạnh,  đưa đến sự thành công và buổi lễ vinh danh rất hãnh diện này không"

Thấy người rồi ngẫm lại ta,  chúng ta cùng một hoàn cảnh như Tây Tạng,  bị CSVN miền Bắc xâm chiếm hơn ba mươi hai năm nay, ba triệu đồng bào phải bỏ xứ ra đi, không khác chi Tây Tạng. Dân Việt Nam cũng rất thông minh và rất thành công ở hải ngoại… cho đến bao giờ một vị lãnh đạo chính trị của Người Việt lưu vong được Quốc Hội Hoa Kỳ trao tặng huy chương cao quý nhất"  Cho đến bao giờ vấn đề  độc lập, nhân quyền và đàn áp tôn giáo ở Việt Nam  là vấn đề của thế giới chứ không phải là vấn đề của riêng Việt Nam nữa"

Nếu ba triệu người Việt của chúng ta đã đoàn kết, vận động thành công trên bình diện quốc tế  thì CSVN đã không được vào ghế Hội Viên-không-thường-trực trong Hội Đồng Bảo An của  Liên Hiệp Quồc trong tháng vừa qua.

Có  một câu chuyện ngụ ngôn về người Việt Nam như thế này, trong một buổi chợ trời quốc tế, ở góc chợ bán cóc nhái, các quốc gia khác đều đậy  giỏ cốc nhái của họ kỷ, chỉ có hàng của người Việt Nam không đậy. Khách ngoại quốc hỏi sao ông không đậy nắp giỏ lại, không sợ cóc nhái nhảy ra ngoài hết sao"  Người Việt bán hàng trả lời: “Không sợ con nào nhảy ra đâu, vì con nào leo lên  gần tới miệng giỏ thì bị mấy con phía dưới kéo cẳng xuống rồi!” 

Ngay cả khi Tổng Thống Bush muốn gặp gỡ một đại diện của Tập Thể Người Việt Lưu Vong ở Hải Ngoại để biết nguyện vọng của người Việt ở hải ngoại  và người Việt trong nước, Văn Phòng Tổng Thống Bush  không  biết  nên liên lạc với ai, đảng phái nào. Ai là lãnh tụ của Người Việt lưu vong ở hải ngoại"

Chúng ta có hàng trăm hội đoàn, đoàn thể chính trị.  Hội  nào có tầm vóc lớn, hoạt động mạnh thì bị chụp ngay cho cái mũ VC… người nào có khả năng vừa nổi lên là bị chụp cho… nón cối, nón rơm, nón lá… ai tha thiết với cộng đồng muốn ăn cơm nhà ra vác ngà voi chẳng những phải cân nhắc mình có thì giờ, có tài năng để có thể làm tròn nhiệm vụ hay không mà phải suy nghĩ kỹ xem mình có đủ sức chịu đựng những đòn đánh phá, bôi nhọ…  không phải chỉ từ phe địch mà của cả phe ta,  sẳn sàng đâm sau lưng chiến sĩ… vì lòng đố kỵ, ganh  ghét…

Hơn ba triệu người Việt lưu vong ở hải ngoại, chúng ta có thừa thông minh, có tài ba không kém gì một trăm ngàn người dân Tây Tạng mà hơn ba mươi hai năm rồi chúng ta đã làm được gì, đi tới đâu trên bước đường đấu tranh giành lại độc lập, tự do, dân chủ, nhân quyền cho dân tộc Việt Nam"

Cố nhiên tài đức của Đức Đạt Lai Lạt Ma là yếu tố chính của sự vinh danh, tuy nhiên  một mình Đức Đạt Li Lạt Ma chưa đủ điều kiện để tạo nên niềm hãnh diện được Tổng Thống và Quốc Hội HK trao tặng cho huy chuơng vàng. Tập thể đoàn kết International Committee for Tibet (ICT) đã góp phần không nhỏ trong sự vận động thành công trên thế  giới.  Qua sự thành công của ICT, tập thể ba triệu người Việt lưu vong ở hải ngoại cũng nên suy ngẫm về hai chữ “DDoàn Kết”. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.