Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Hồi Ký: Thép Đen

21/06/200900:00:00(Xem: 2426)

Hồi ký: Thép Đen - Đặng Chí Bình

LGT: Lịch sử nửa thế kỷ ngăn chặn làn sóng cộng sản bành trướng ở Miền Bắc, xâm lăng ở Miền Nam, đã tạo nên nhiều anh hùng, trong đó có không biết bao nhiêu anh hùng âm thầm, cô đơn, một mình một bóng, phải vật lộn giữa vòng vây đầy thù hận của kẻ thù, mà vẫn một lòng một dạ giữ tròn khí tiết cùng tấm lòng thuỷ chung đối với tổ quốc, dân tộc, đồng đội... Đặng Chí Bình, bút hiệu của một điệp viên VNCH được lệnh thâm nhập Miền Bắc, móc nối các tổ chức kháng chiến chống cộng, chẳng may lọt vào tay kẻ thù, và phải trải qua gần 20 năm trong lao tù cộng sản, là một trong những người anh hùng âm thầm, cô đơn trên con đường đấu tranh chống cộng sản đầy máu và nước mắt nhưng vô cùng cao thượng và chan hoà lòng nhân ái, của dân tộc Việt Nam. Giống như tất cả những ai có lòng yêu nước, đã sống trong lao tù của cộng sản, đều âm thầm tự trao cho mình sứ mạng, tiếp tục chiến đấu chống lại cái tàn nhẫn bất nhân của chủ nghĩa cộng sản đến hơi thở cuối cùng, điệp viên Đặng Chí Bình, sau khi ra hải ngoại, đã tiếp tục miệt mài suốt 20 năm để hoàn thành thiên hồi ký Thép Đen dầy ngót 2000 trang, gói ghém tất cả những bi kịch phi nhân đầy rùng rợn trong chế độ lao tù cộng sản mà tác giả đã trải qua; đồng thời thắp sáng chân lý: Ngay cả trong những nơi tận cùng của tăm tối, phi nhân, đói khát, đầy thù hận nhất do chế độ cộng sản tạo dựng, tình yêu thương người, lòng hướng thiện, khát khao cái đẹp, tôn thờ chân lý vẫn luôn luôn hiện hữu và được ấp ủ, trong lòng người dân Việt. Nhận xét về thiên hồi ký Thép Đen, thi sĩ Nguyễn Chí Thiện đã xúc động nhận xét: "Chúng ta đã được đọc khá nhiều hồi ký của những người cựu tù trong chế độ lao tù Cộng Sản. Mỗi cuốn hồi ký là một mặt của vấn đề, nhưng theo tôi, "Thép Đen" là cuốn hồi ký trung thực nhất về những điều mà người tù mấy chục năm Đặng Chí Bình đã phải trải qua. Những sự việc được tả chân, những tâm tư được diễn tả chân thực mà mỗi người cựu tù khi đọc đều thấy có mình trong đó." Nhân dịp tác giả Đặng Chí Bình đến Úc, Sàigòn Times hân hạnh được ông chấp thuận cho phép đăng tải thiên hồi ký Thép Đen vô cùng hào hùng, sống động và đầy lôi cuốn của ông. SGT xin chân thành cảm ơn tấm lòng ưu ái đặc biệt của tác giả, và sau đây, xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả phần tiếp theo của thiên hồi ký Thép Đen.


*

(Tiếp theo...)

Tan tầm, toán mộc của tôi về ngang cổng trại. Bác Túy đang bị treo ngoài hè nhà trực trại, như cái trống. Đầu và chân bác thõng xuống, không động đậy, hai tay bác bị bẻ giặt phía sau lưng, treo lên mái. Những toán đi lao động về ngang đều nhìn thấy, tù nhân chỉ lấm lét, nhìn nhau! Người tôi như đờ đẫn, tôi ghé vào tai Phùng văn Tại:
- Nó sẽ hành bác Túy, chết mất!
Mãi hơn 7 giờ, cơm nước đã xong, tên Hường trực trại vào gọi toán trưởng của toán 4 (đào ao) ra nhà trực. Hai mươi phút sau, Bằng trật tự và toán trưởng 4, khênh bác Túy về chỗ của bác. Một số các anh chủng sinh và quen biết, xúm lại lau bớt bùn đất, đắp chăn bỏ mùng cho bác. Bác không nói năng gì được nữa. Dưới ánh đèn không đủ sáng, tôi thấy tay và mặt bác sưng tấy lên nhiều chỗ. Vài người có một số thuốc riêng, cố cho bác uống. Nghe mấy anh lau rửa cho bác nói, ngực bác tím bầm sưng to ở phía trên mỏ ác. Tôi cũng được anh em toán thuật lại: Ông Tôn giám thị ở chỗ đào đất, bảo mấy người kéo bác Túy lên, nhưng tên Tằng toét đã hẩy tay ông Tôn và nói nhỏ:
- Ông hãy về làm việc của ông đi! Để tôi giải quyết!
Tên Tằng toét, có người nói y chỉ có cái lon thượng sĩ thôi, thấy lạ, tôi mò mẫm tìm hiểu. Chính anh Bằng trật tự đã cho tôi biết: Tằng chỉ là thượng sĩ, cán bộ giáo dục nhưng y là bí thư đảng ủy. Ông Thích, thiếu tá Giám thị trưởng của trại Phong Quang này, mà vẫn còn phải nể. Nhiều sự việc, tai nghe, mắt thấy để sự hiểu biết của tôi, được nới rộng.
Tôi cũng lấy làm lạ, không hiểu vì sao tên Tằng lại hành động dã man, với bác Túy như thế" Nghe dư luận, hơn một tháng trước, khi bác Túy (Lâm đình Tuý), từ trại Vĩnh Quang chuyển đến, cùng hơn một chục người tù khác. Trong lúc khám tư trang ở cuối hội trường, chăn màn quần áo của bác Túy còn để đấy, nhưng không thấy bác đâu. Chính tên Tằng, vào hội trường thấy bác Túy đang ngồi khoanh chân một mình dưới đất trong một góc, mắt nhắm nghiền, miệng lẩm nhẩm đọc kinh. Y quát và kéo bác ra sân.
Đột nhiên bác Túy tát cho tên Tằng một cái. Vì bất ngờ, tên Tằng bị một cái tát như trời giáng. Mọi người tù có mặt đều choáng hồn, xanh mắt, một việc chưa thấy ở nhà tù Việt Cộng. Tên Tằng hùng hục đấm đá, rồi sai trói bác Tuý treo ngay ngoài nhà trực trại.
Sáng mồng một Tết, tôi dậy sớm ngồi trong mùng, đầu óc mông lung, rồi rũ rượi. Chợt một ý thơ xưa (tiền chiến) chẳng nhớ rõ của ai, tôi xin phép cứ đổi đại, để phù hợp với lòng tôi lúc này: Miệng lẩm nhẩm cóc rỉ:
Xuân đã sang rồi... ai có hay"
Tình xuân chan chứa... ý xuân đầy.
Trại giam buồn lắm... xuân không đến.
Chỉ đứng bên ngoài... ngắm vào đây.
Xuân về mà lòng buồn rười rượi; bao nhiêu điều ngược, xuôi trong đầu. Tôi có ý định bàn với anh Bưởi và Lương, khi Tết xong, cứ lên cán bộ hỏi đại: "Bây giờ đã có hiệp nghị Paris thì giải quyết chúng tôi thế nào"'' Xem họ trả lời sao" Bật dậy, gấp chăn màn, rửa mặt rồi lỉnh sang anh Bưởi và Lương.
Đầu tôi chợt lóe một tia sáng! 4 anh chàng: Tiệp, Đằng, Vinh và Thuần có liên hệ, đến trại tù quân đội; vậy thì biết đâu! Họ sẽ được về" Tôi phải thăm... hỏi!
Làm sao tôi quên một sự việc: Khoảng 10 giờ tên Tằng vào trại, hôm nay y gọi trật tự hô hào các buồng ra sân trại chơi vui ngày Xuân (có thể y cũng vui vì Đảng của y đã ký được hiệp nghị Paris có lợi). Y cố khích lệ, đem vào một quả volley, bảo anh em chăng lưới. Rồi sai Bằng lấy một sợi dây thừng to, giở trò thi các toán kéo co.
Có thể tâm trạng của đa số tù nhân, ngày Xuân dân tộc mà! Ủ rũ trong buồng thì buồn qúa! Gia đình, cuộc đời, đất nước, trăm thứ nó xé óc mình ra. Thì cứ vui đại cho quên đời v.v… Cho nên anh em cũng ra đông, hò reo, chạy nhảy, chuyện trò. Tôi nhớ nhất về cái vụ kéo co: 17, 18 toán toàn trại, thi kéo co với nhau. Cho tới chiều, toán thợ xẻ là vô địch.
Toán này có mấy cái ưu thế: Kéo xẻ, việc nặng thường ăn mức 18 kg gạo, hai cánh tay chỉ có cò cưa suốt ngày. Tên Tằng cũng tỏ vẻ bực bội với toán xẻ. Y nghĩ thế nào không biết, y lấy chùm chìa khóa trong túi, lạch cạch mở cổng khu kiên giam hình sự: toàn những tay đầu gấu anh chị, võ biền. Đội xẻ kéo co có 16 người, y vào khu kiên giam hơn nửa giờ. Chả biết y kích bác ra sao ở trong đó, y chọn được 16 anh trẻ, ngổ ngáo, tay chân xâm vẽ rồng, phượng, trông gớm ghiếc.
Y dẫn 16 cậu ra sân; tinh thần thể thao của trại càng được khích lệ. Mấy chỗ bóng chuyền cũng dẹp, để tụ tập vây quanh đám kéo co. Phần thưởng là 3 cái bánh chưng; với những tiếng hò reo cổ vũ cho mỗi bên, cũng làm cho lòng ai, vài giờ quên đi... Cái sầu vạn cổ, chất trong hồn chiều nay... Chất trong hồn... chiều nay. Nhớ nhà châm điếu thuốc... Khói vàng bay lên mây... (Hồ Dzếnh).
Điều này cho tôi hiểu: Cái hệ thống uy lực của đảng CS! Thông thường, khu kiên giam chỉ có lệnh trực tiếp của Ban giám thị trại, mới được mở cửa, thế mà tên Tằng, đã chả coi BGT ra cái gì, do một cái hứng cá nhân ! Một ông đại úy giám thị một trại, mà một tên thượng sĩ coi như cái móng tay, chỉ vì đảng.
Cuối cùng chức vô địch trại, không một toán nào lấy khỏi tay toán cò cưa. Anh chị võ biền, ngổ ngáo mà đói meo thì cũng đành nhìn mấy anh già toán xẻ, mà lồi mắt ra. Tên Tằng cũng ứ ruột, máy tốt mà không có xăng thì cũng chào thua!
Như đã hẹn hôm mồng một Tết với Đằng, Tiệp, Vinh và Thuần, chiều nay tôi ghé sang nhà A khu II. Ngày Xuân còn rơi rớt, cũng có ca trà với mấy chiếc ly nứa con con, anh em hàn huyên cho niềm Xuân trong tù bớt phần nào da diết. Hỏi thêm một vài chi tiết liên quan, tôi gợi ý; nhìn các cậu, mắt ai cũng sáng dần ra. Anh Thuần tương đối lớn tuổi, khoảng 44, 45, tỏ ra chững chạc, điềm đạm. Nhưng, hầu như anh chỉ thể hiện, tình thương nỗi nhớ, vợ con là chính. Sau buổi nói chuyện, cả 4 người đều dạt dào hy vọng. Phần tôi, với những điều tôi hỏi các anh từng chi tiết sự việc, tôi cũng tin tưởng rất nhiều là 4 người sẽ về miền Nam.
Riêng Tiệp, tôi hẹn một ngày sang tôi, anh em mình sẽ nói tiếp, hiểu ý tôi nên Tiệp nhẹ gật đầu mà mấy anh em kia không để ý thấy. Vả lại tôi và Tiệp cũng thường xuyên gặp nhau từ trước, không như ba người kia. Khoảng 10 giờ tôi đang lơ mơ đi vào giấc ngủ, bỗng nghe tiếng sang sảng, giọng Nghệ An rủng rẻng, xoáy vào đêm rừng, rõ như hát: "Nói dối trở thành công khai, hợp pháp! Thầy nói thầy thương yêu trò lắm! Trò nói trò kính yêu thầy lắm! Cả thầy lẫn trò đều hiểu là nói dối, nhưng cả hai bên đều chấp nhận và nó trở thành hợp pháp, công khai!" Rồi có tiếng cười ròn sằng sặc.....như nắc nẻ.
Thấy anh Trần Thế Khải dậy đi đái qua, ngồi trong màn tôi hỏi với ra:
- Sao lạ vậy! Ở đâu, ai mà dám nói thế"
Anh Khải ngập ngừng đứng lại, thì anh Khẩn toán trưởng cũng nằm trong màn nói vọng ra:
- Cái anh chàng Bổn đó mà! Ở ngay đầu lán A khu 1, nghe đâu anh ta bị bắt từ giữa 1954, đêm tối thỉnh thoảng anh ta cứ hay lảm nhảm như vậy!
Nhẩm tính, anh này đã tù 18 - 19 năm rồi còn gì! Chẳng hiểu anh ta tội tình gì" Gợi trí tò mò, định tâm sẽ tìm hiểu nếu có dịp, trong những ngày tới.
Ngay phía sau lán mộc của tôi, chỗ vẫn thường đi tiểu tiện; cạnh đó có một cây trò cụt. Cứ mỗi lần đứng tồ, mắt tôi lơ đãng nhìn cây trò cụt; không hiểu vì sao nó cụt lưng chừng, từ gốc tới chỗ cụt, chỉ chừng 1m50. Sau nhiều những trận mưa rừng rả rích, mãi trong một góc khuất, sáng nay nó nảy ra 3 - 4 cái nấm trắng hồng ngồn ngộn, non hơ hớ. Đúng là nấm mèo, loại nấm ở trại I tôi đã ăn nhiều năm, nhiều lần. Của núi rừng tặng thưởng, mình phải biết nhận chứ!


Nghĩ như thế, tôi cố tìm cách lại ra "tồ" lần nữa. Mắt trước, mắt sau tôi hái hết, giấu trong miếng giẻ, đem vội vào cầu bào cất kỹ. Như "buồn ngủ gặp chiếu manh", cả một buổi làm, thỉnh thoảng như tôi muốn cười với gió núi, cây rừng; hứa hẹn sẽ có một bữa ngất ngây tuyệt cú mèo. Tôi nghĩ đến chiếc ca tráng men đã cũ mèm, vẫn đun pha trà 6, 7 nước, đến khi trà đã nhừ nát mới thôi! Nồi đấy, và đống lửa kia, ôi sao cuộc đời hậu hĩnh!
Gần tới giờ chiều thì chiếc ca nấm nóng hổi, đã sôi nhiều lần. Tôi đã lau chùi sạch sẽ, thương mến, nâng niu như một cô nàng, ngọc ngà mỹ miều, đang nằm khuất trong góc cầu bào rồi. Dù mùi thơm của nàng xì ra đã ngứa cả mũi, nhưng tôi cương quyết không nếm, hay ăn thử. Chế ngự sự ham muốn của lòng mình, để mang về trại (tin tưởng anh Bằng và khả năng ứng xử của mình). Chờ khi nào điểm xong, bỏ mùng, bấy giờ ta mới mở nàng ra mà thưởng thức. Chỉ mới suy nghĩ thế mà cái tay bào thẳm thấy khỏe hẳn lên, đẩy xoèn xoẹt phoi bào chạy ra văng tứ tung, như pháo bông ăn mừng đêm dạ hội.
Tối đến cơm nước cũng như mọi khi, đã vào nằm yên một chỗ trong dạ dầy. Tất cả đều diễn tiến, như đã dự trù. Bỏ mùng sớm, từ nãy tôi vẫn ủ kỹ nàng trong người, bây giờ tôi mới êm ái lôi tuột nàng ra chiếu. Sờ vào nắp ca vẫn còn âm ấm tay, chẳng cần ly bát, thìa đũa làm quái gì, có phải mỡ, mắm đâu" Mắt liếc nhìn bóng người qua lại lờ mờ phía ngoài mùng, tay tôi khe khẽ thò vào, lại thấy hơi nhơn nhớt. Nhón lẹ một miếng, tôi ngửa hẳn mặt lên, há hốc miệng ra từ từ sẽ đưa miếng nấm vào... Nhưng mà ngọt quá, thơm qúa! Ôi! Nấm mèo Yên Bái sao mà thơm ngon thế, hỡi núi rừng! Tôi ngấu nghiến nhai, rồi cầm cả ca uống ừng ực.
Chỉ một phút đã sạch trơn, sạch khô không còn một tí nước. Mặc cuộc đời, mặc thiên hạ tôi nằm đổ vật ra, để thưởng thức cái của hiếm, của núi đồi sơn cước; để cho con tì, con vị nó nhẩy nhót tự do, như chưa bao giờ nó hiểu thế nào là tự do. Nằm tơ mơ lòng vần thầm nhủ: Xin cảm tạ rừng thiêng Yên Bái đã ban đặc ân cho tôi!
Nhưng cũng đất trời hỡi, tự nhiên nhà cửa, đất trời quay như chong chóng, người tôi cứ giật lên từng cơn, cả tay chân cũng giật. Tôi chỉ kịp nhấc được cái mùng rồi tôi nôn thốc, nôn tháo xuống đất. Tôi chả còn biết ngượng ngùng, hay xin lỗi ai. Dưới đất chỉ có một đống lá rau cải bắp già và nước đen đen, vàng vàng. Từng sợi nhớt kéo dài từ đống nôn, nối dài tới miệng tôi, tôi không còn biết ngượng nữa, và tôi cũng không biết gì nữa.
Mãi khi tôi lơ mơ nhìn thấy ánh nắng, và bóng anh y tá đẩy cửa bước vào. Anh y tá này tên là Kiệt người niềm Nam, anh nói nhưng mặt lại lạnh lùng:
- Đù mẹ, tôi tưởng đêm hôm qua anh chết rồi chứ!
Qúa nhiều nỗi niềm trong lòng, nên tôi im luôn, chả nói năng gì! Tôi muốn hỏi anh vì sao tôi lại ở đây, mà bây giờ tôi đã biết đấy là buồng y tế, ở mãi gần nhà kỷ luật. Thấy thái độ của anh ta như vậy, tôi đành nuốt mọi thắc mắc vào trong lòng. Anh ta cũng đóng, rồi khóa cửa đi luôn. Mãi hơn 1 giờ sau, Y trở lại với tên Hường trực trại, bảo tôi hãy đi về lán. Do lòng không vui nên tôi cố gắng kéo người ngồi dậy, để chân xuống đất tìm dép nhưng chợt hiểu, nên tôi gắng đứng dậy, tập tễnh chân không đi về lán. Phải đến hơn 100m, lưng chừng có anh Bằng trật tự ghé đến, dắt tay tôi.
Về đến lán chưa nằm ấm chỗ, khoảng hơn 10 phút thì ông Tôn giám thị, đi theo có tên trực trại Hường bước vào lán. Nghĩ đến tấm lòng của ông Tôn hôm sự việc bác Túy, tôi cố bò dậy thể hiện một thái độ nhỏ với người có lòng. Yên lặng 5-10 giây, y liếc khắp lán một lượt quay lại, vẻ trang trọng:
- Anh phải thành khẩn biết ơn Đảng và nhà nước, đã cứu sống anh đêm qua!
Tôi tỏ ra thành khẩn, nói trong niềm xúc động:
- Tôi xin cảm tạ Đảng và nhà nước đã đặc ân cho tôi!
Trong lòng tôi lại nghĩ thầm: "Như tôi đã thành khẩn cám ơn rừng thiêng Yên Bái, đã ban đặc ân cho tôi." Trước khi ra, y còn nói:
- Anh hãy nằm xuống đi, phải nhớ chú ý, cẩn thận ăn uống sau này!
Như tôi đã có chủ trương từ trước, sẽ lên hỏi thẳng cán bộ, Hiệp định Paris đối với chúng tôi thì sẽ như thế nào" Tôi cũng có nhiều lần bàn với anh Bưởi và Lương rồi; nhưng cứ lần lữa, rụt rè ngày này qua ngày khác. Bây giờ đã giữa tháng 3, từ ngày ký hiệp nghị Paris đã một tháng rưỡi rồi, mà không ai nói gì đến chúng tôi cả.
Trong dạ chúng tôi đều đinh ninh, những anh em biệt kích ở trại trung ương số 1, đã được về miền Nam rồi. Không do dự ngần ngại nữa, một buổi sáng tôi thấy ông Tằng (tôi đã biết là bí thư Đảng, ông Tôn Đại uý giám thị không quan trọng). Tôi xông thẳng vào cửa chính, hỏi ngay tên có quyền, tôi tiến lên tới chỗ ông Tằng. Y quay lại tôi, mặt hơi ngạc nhiên.
- Thưa ông, tôi muốn gặp ông; khi nào thuận tiện ạ"
Mặt y tươi hẳn, nói nhè nhẹ:
- Anh về chỗ, hôm nào tôi sẽ gọi! Anh tên gì"
- Thưa ông tôi là ĐCB, người của VNCH bị bắt!
Ngay chiều hôm ấy, sau khi anh Khẩn toán trưởng đến cán bộ toán báo cáo công việc thường lệ. Anh quay xuống hàng toán đang ngồi, đến chỗ tôi:
- Anh Bình ở lại, gặp cán bộ!
Về lán, cũng hơi hồi hộp, nhưng lại nghĩ tới nguyên tắc: "Không liều không có cái gì cả!" Bây giờ hãy cứ xông đã!
Xuất trại xong chừng nửa giờ, anh trật tự Bằng vào buồng gọi tôi ra cổng trại. Tôi ra đến nơi, cán bộ trực trại Hường, đứng từ nhà trực trại, chừng 15-20 mét vẫy tay. Chắc có sự hợp ý trước, tên công an võ trang gác cổng chỉ nhìn tôi gật đầu. Tôi tưởng gặp trực trại Hường, nhưng khi tới nơi, y ra hiệu tay, tôi đến cửa một gian buồng, ngăn đôi với phòng trực trại. Bên trong, có tiếng nói lão Tằng:
- Cứ mở cửa vào!
Phòng rất đơn giản, chỉ có hai cái bàn to và nhỏ, tên Tằng cầm bút ngồi ở cái bàn to, trước mặt cũng có một ghế đẩu cho bị can ngồi, như phòng hỏi cung. Trong góc có chiếc bàn con và chiếc ghế, chắc cho tù ngồi viết báo cáo hay kiểm điểm. Mắt tên Tằng có cái lẹo, thành ra mắt lão nhìn như chỉ mở một nửa, hơi nhếch mép cười hỏi tôi:
- Anh muốn gặp tôi làm gì"
Trong túi tôi đã mang sẵn tờ báo ND có đăng bản Hiệp nghị Paris; nhưng tôi chưa lấy ra tôi hỏi thẳng:
- Thưa cán bộ, bây giờ có hiệp nghị Paris, nhà nước sẽ giải quyết tôi thế nào ạ"
Tên Tằng toét đứng xổ dậy, thái độ vẻ hùng hổ, mắt y càng nhắm lại. Y tiến đến chỗ cái bàn con trong góc, lật mấy tờ báo rồi lôi tờ ND, ném xuống bàn trước mặt tôi, giọng như riễu cợt:
- Đâu chỗ nào, nói trao trả các anh"
Mở tờ báo, liếc nhìn điều 8a, tôi chỉ vào giọng tin tưởng:
- Thưa ông đây ạ! Điều 8a đã nói rõ ràng: Trao trả lại người của 4 bên!
Mặt vênh lên, mắt y càng nhắm lại:
- Đọc kỹ lại đi! Anh là người Việt Nam hay là người nước ngoài"
Tôi hơi chột dạ, tuy vậy vẫn cúi xuống đọc: Nhân viên quân sự, dân sự nước ngoài bị bắt.... Tôi hơi đờ ra vài giây, vì bất chợt, nhưng tôi đã nói ngay:
- Thưa ông, theo công pháp quốc tế thì VNDCCH và VNCH là 2 chế độ chính trị khác nhau là 2 nước khác nhau!
Tôi mới nói tới đây y dõng dạc gạt ngay:
- Hội nghị Paris để giải quyết cho người nước ngoài, không phải giải quyết cho người VN. Thôi anh hãy về suy nghĩ cho nó kỹ! Anh không hiểu biết gì cả! Đừng có suy nghĩ viển vông!
Nói rồi, thái độ của y như muốn đuổi tôi về. Tôi không thể quên được một việc này. Khi tôi đã bước ra cửa, để về trại, y gọi giật lại rồi chỉ vào tờ báo:
- Có mục giải quyết cho người Việt Nam, đây này!
Tôi cắm cúi đọc điều 8c: Về vấn đề trao trả các nhân viên dân sự Việt Nam, bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam, sẽ do hai bên miền Nam, giải quyết.
Không biết rằng các ông ký hiệp nghị kể cả Mỹ, có hiểu rằng làm sao tù, dám cãi lý tay đôi với cán bộ giam giữ"
Các ngài, các qúy vị có biết rằng với VC: Cũng cùng một sự việc! Qúy vị thảo luận, bàn cãi thêm bớt điều này, khoản kia, qúy vị nói chuyện với chúng ở đâu" Ở ngoại quốc, ở nước các qúy vị, ở VN hay ở trong tù, là hoàn toàn khác nhau. Tôi xin tường thuật lại một sự việc cụ thể, mà tôi là nhân chứng cho sáng tỏ: Vụ việc của anh Trần thế Khải. Anh là một chủng sinh tu sĩ, bố là ông Trần tứ Hải cùng ở Hànội. Cả hai bố con đều bị bắt, từ đầu năm 1964. Khoảng năm 1974 - 1975, tôi gặp hai cha con đều tù ở phân trại B Phong Quang. Sau khi VC cướp được miền Nam, thì chúng thả ông Hải về cuối năm 1975, anh Khải thì vẫn còn ở tù.
Đầu năm 1976, anh gửi một lá thư lén lút (qua những người đi tiếp tế), về cho ông bố là Tứ Hải. Thư hợp pháp, là thư tù viết mỗi tháng một lần, gửi cho thân nhân. Với điều kiện, thư viết xong để vào bì thư, không được dán. Đưa cho cán bộ duyệt xét, rồi cán bộ gửi đi. Tù nhận thư gia đình, cán bộ cắt ra, duyệt xét. Lá thư chui, anh Khải đã nói ý với bố, hãy hỏi cho ra nhẽ. Hiến pháp của VC có ghi rõ ràng, quyền tự do tôn giáo. Muốn tu hay tôn thờ đạo nào, là quyền của mọi người; vậy tại sao, anh chỉ đi tu dòng thôi, anh đã tự hiến dâng mình cho Chúa, mà Đảng và nhà nước đã bắt giam giữ anh, hơn 10 năm rồi"
Không biết vì sao lá thư chui của anh Khải, bị ban giáo dục phát hiện. Trước 4, 5 toán trong toàn khu II, phân trại B. Ban giáo dục do Tằng Toét triệu tập, để tố anh Trần Thế Khải đã vi phạm nội quy, trầm trọng.
Trong buổi truy ép này, anh Khải phải đứng riêng một chỗ, cho mọi người " nhằm" để truy ép, phát biểu. Có thể kỳ này VC đã chiếm được miền Nam, những kìm kẹp, o ép trong xã hội đã có phần lới lỏng, (trước đây, nó cứ đưa đi cùm, chẳng cần sinh hoạt) anh Khải phát biểu, rất hùng hồn:
- Thưa cán bộ: Hiến pháp của nước nhà, Đảng và nhà nước đã công nhận, quyền tự do tín ngưỡng; vậy tôi đi tu thì có tội gì"
Lời phát biểu rất lạ ở trong tù tôi chưa được nghe, trong khu này có hơn 1 chục tu sĩ chủng sinh, đang ngồi như: anh Phạm sĩ An, Nguyễn thanh Đương, Phùng văn Tại, Nguyễn quốc Anh, Nguyễn xuân An, Phạm Xuân Thi.v.v… Mặt ai cũng hồng lên như thêm khí thế mới! Tên Tằng Toét, dõng dạc, bước đến gần anh Khải, rồi quay lại anh em, y khoắng tay gằn giọng:
- Đúng! Đúng chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nguyên tắc sống, một triệu lần ưu việt hơn bất cứ một chế độ nào: Mọi người không ai ăn bám ai!
Ngừng lại một tý, rồi y quay lại, cao giọng hỏi cả buồng:
- Các anh có đồng ý như vậy không"
Cả buồng ồn ào lên tiếng: "đồng ý ạ"
Y quay lại anh Khải, nhấn mạnh lần nữa: "Anh có đồng ý cái nguyên tắc, đó không""
Anh Khải cũng dõng dạc trả lời: "Tôi rất đồng ý!"  (Còn tiếp...)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
Lời dịch giả: Đây là bức tâm thư của cựu tổng thống George W. Bush gởi người dân Mỹ trong lúc cả nước đang sôi sục sau cái chết của George Floyd.
NYC với mình như căn nhà thứ hai, thế mà đã hơn một năm rồi mới lên lại. Thường thì hay lên mùa Giáng Sinh, hay Tháng Hai mùa đông để coi tuyết ở Central Park, và tháng Mười Một để coi lá vàng. Lần nầy chỉ mới tháng ba, nhưng có lý do
Xúc động với kỷ niệm. Thơ và nhạc đã nâng cảm xúc về những cái đẹp mong manh trong đời... Đêm Nhạc Người Về Như Bụi, và buổi ra mắt Tuyển Tập 39 Văn Nghệ Sĩ Tưởng Nhớ Du Tử Lê đã hoàn mãn hôm Thứ Ba 14/1/2019.
chiều rớt/xanh/ lưỡi dao, tôi khứng! chờ ... mưa tới. Hai câu cuối trong bài “chiều rớt/xanh/lưỡi dao” anh viết cuối tháng 9/2019 như một lời giã biệt. Và, cơn mưa chiều 7.10.2019 đã tới, anh thay áo mới chân bước thảnh thơi trở về quê cũ. Xin từ biệt anh: Du Tử Lê!
trong nhiều năm qua, lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng ở mức hai con số, nhưng tỷ lệ quay trở lại thấp (chỉ từ 10% đến 40%) . Chi tiêu của khách du lịch quốc tế tại Việt Nam không cao
Theo bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế năm 2018, Việt Nam đứng hạng 117/ 180 với mức điểm 33/100. Bao giờ mà chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại thì “nạn nhũng nhiễu lạm thu” sẽ vẫn còn được bao che và dung dưỡng khắp nơi, chứ chả riêng chi ở Bộ Ngoại Giao
Chính phủ Hoa Kỳ đã hứa tài trợ 300 triệu đô la để làm sạch môi trường bị nhiễm chất độc da cam của phi trường Biên Hòa và hôm 5 tháng 12 là bắt đầu thực hiện việc tẩy rừa tại khu vực này, theo bản tin hôm 6 tháng 12 của báo Tuổi Trẻ Online cho biết như sau.
Hơn 1.000 người có thể đã bị giết bởi lực lượng an ninh ở Iran trong các cuộc biểu tình gần đây, theo một quan chức cấp cao của bộ ngoại giao cho biết hôm Thứ Năm
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.