Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Lũ Lụt Trong Những Hồn Thơ Xứ Quảng

19/12/200700:00:00(Xem: 6167)

Trong văn thơ Quảng Nam, nếu mì Quảng được nhắc bao nhiêu lần trong văn thì lũ lụt có lẽ cũng được nhắc nhiều lần như thế trong thơ.  Cả hai được xem như là đặc sản Quảng Nam. Nước lũ, nước lụt, nước lớn, nước ròng hình như có trong thơ của hầu hết các nhà thơ xứ Quảng, không chỉ để mô tả nỗi đau, sự chịu đựng mà nhiều khi còn dùng để tả sự chờ đợi, đổi thay, ngăn cách đôi dòng. “Tình ơi, Giao Thủy hai nguồn nước gặp gỡ nhau sao chẳng đợi chờ "” là thế. 

Trong phạm vi đất nước, lũ lụt là một thực tế rất hiển nhiên. Không chỉ những người sinh ra trên những cánh đồng khô cháy ở Duy Xuyên, Quế Sơn, Đại Lộc, lớn lên bên bờ sông Thu, khóc khi mùa nước lên, than khi cơn bão tới mới hiểu thế nào là đau thương đói khổ mà gần như người Việt Nam nào cũng biết rằng ở giữa thân hình đất mẹ hình chữ S, có một vùng đất gắn liền với hai chữ thiên tai bão lụt, nơi đó, con người sống trong nỗi bất an chờ đợi một tai họa sẽ trở lại mỗi năm:

Năm năm mỗi độ đông vừa chớm

Xóm dưới làng trên ngại lụt nhiều

Dòng nước Thu Bồn thành nỗi sợ

Khi rừng xa vọng thác vang reo.

(Tin bão miền Trung, Tường Linh)

Lũ lụt, thật vậy, là nỗi lo sợ và nỗi ám ảnh thường xuyên trong tâm trí của người dân Quảng. Khi nhắc câu hát “Trời hành cơn lụt mỗi năm” người nghe sẽ nghĩ ngay đến miền Trung nghèo khó và nghèo khó nhất vẫn là Quảng Nam. Câu hát cất lên như một tiếng than dài vọng suốt mấy trăm năm:

Em về ở lại đây thôi!

Nghe mùa nước lũ nguồn trôi phăng đồng

Một trăm cây lá bên rừng

Gửi trong tiếng vọng xa chừng ngàn mây.

(Tiếng vọng, Bùi Giáng)

Nhưng em không ở lại. Em chết và những đứa con thân yêu của nhà thơ cũng chết. Những bàn chân nhỏ nhoi của vợ và con đã “chết trên bờ lúa” in sâu vào tâm hồn nhà thơ. Nhà thơ mang nỗi buồn thiên cổ ra đi, bỏ lại bầy dê, bỏ lại cánh đồng. Nỗi cô đơn sâu thẳm một ngày đã nở thành những chùm hoa trác tuyệt và nhiều huyền thoại nhất của thi ca Việt Nam hiện đại. Nhưng dù có đi bao xa và dù có sống với trạng thái tâm lý ngao du trong thế giới tư duy xa cách với phần lớn con người, trong tâm hồn nhà thơ vẫn còn có một nơi vô cùng trang nghiêm, vô cùng yên tỉnh, một nơi có cánh đồng xanh, có vườn lá biếc, một nơi mà nhà thơ vẫn mong có ngày trở lại, một nơi được nhà thơ nhắc rất nhiều lần. Nơi đó chính là “cố quận”:

Ta sẽ đến đứng bên bờ nước cũ

Ngó bên kia vườn biếc lá hoa lừng

Ồ vạn vật vẫn chờ nguồn nước lũ

Tự ngàn năm tuôn dạo tự khe rừng

(Bến đò ngàn xuân cũ, Bùi Giáng)

Nước, nước lũ, nước dâng cao, nước cuốn…ddến không từ đâu khác hơn là sông Thu Bồn, chảy dài hàng trăm dặm từ Trà Linh xuống Hội An. Sông Thu có thể không quá dài so với nhiều con sông lớn khác ở ba miền nhưng đẹp hơn cả một bức tranh thủy mạc. Bao nhiêu văn, thơ, nhạc đã chảy ra từ dòng sông đó. Phía sau những rặng tre già nghiêng mình soi bóng, những bãi dâu xanh ngát dọc bờ sông, nhiều nhà thơ xứ Quảng đã sinh ra, lớn lên và ra đi theo nhiều chọn lựa khác nhau. Họ khác nhau về thế hệ, hoàn cảnh trưởng thành và nhiều trường hợp khác nhau cả về chính kiến nhưng tất cả cùng có một tình yêu tha thiết dành cho dòng sông nuôi lớn tâm hồn yêu người như cả yêu quê hương của họ. Tha  thiết đến nỗi nhiều nhà thơ khi chết đi chỉ mong làm hạt phù sa trên sông Thu để bồi đắp lên mảnh đất cày lên sỏi đá.

Giờ này, mấy chục năm sau, trên căn gát nhỏ ở San Jose, Atlanta, Memphis, Seattle, Houston, Tampa hay một nơi nào trên xứ lạ, khi ngồi nhớ đến sông Thu, các nhà thơ xứ Quảng hẳn nghe lòng quay quắt rưng rưng. Tuổi thơ như nước Thu Bồn trôi đi, đi xa không trở lại. Những bài thơ đầu đời viết bằng viết lá tre trong cuốn vở học trò lưu niệm có thể đã bị cháy rụi trong chiến tranh. Tiếng guốc đã không còn khua trên những con đường lát sỏi Phan Chu Trinh, Cường Để Hội An. Hàng cây sao đã bao mùa thay lá bên kia sân trường Phan Chu Trinh, Phan Thanh Giản, Nữ Trung Học Đà Nẵng. Những trụ đèn đêm trước cỗng trường Sao Mai, Đông Giang, Bồ Đề, Pascal không còn ai đứng đợi. Những ô cửa của lớp học và cũng của đời mình đã phủ kín bụi thời gian. Nhưng ký ức thì không. Ký ức vẫn còn đó. Vẫn nguyên vẹn hình ảnh những buổi chiều “nghe nước vỗ dưới chân cầu Vĩnh Điện” hay ngồi ngâm nga “tôi đưa em sang sông” trên bến phà An Hải.

Nhà văn Hà Kỳ Lam viết về dòng sông Thu Bồn, nơi nuôi lớn tuổi đầu đời của anh vô cùng tha thiết: “Tuổi thơ của tôi gắn liền với sông Thu Bồn. Tôi biết dòng sông vẫn thấp thoáng qua bờ tre trước nhà ông bà nội tôi từ thuở lên ba, khi gia đình tôi từ Cần Thơ hồi hương về làng Kỳ Lam sau khi bố tôi qua đời. Tôi đã uống nước sông ấy, tắm nước sông ấy, và lớn lên bên dòng sông ấy. Dù sau này bước chân tôi đã đi “cùng trời cuối biển”, cái không gian tuổi thơ của tôi bên dòng nước ấy vẫn được tồn trữ trang trọng một cõi riêng trong lòng, ở đó cái diệu vợi của không gian, cái vô tình của thời gian cũng phải nhường bước. Cái không gian ấy trải dài hai bên dòng sông, từ vùng đồng bằng Kỳ Lam ngược dòng lên Tĩnh Yên, Khe Cát của Duy Xuyên, đến Phú Gia, Hòn Kẽm Đá Dừng của Quế Sơn, chứa đựng những tên làng mạc mà hầu như mỗi lần nghe nhắc đến thì cả một khung trời kỷ niệm hiện về trong tôi. Hôm nay viết về dòng Thu Bồn, tôi muốn cùng quý độc giả chu du trên dòng nước trong khung trời ấy qua trí tưởng để tôi có dịp nhắc đến những địa danh thân thương kia như một chút tình hoài hương...”

Khi ngồi lại bên bờ sông viễn xứ, nhà thơ Quảng Nam nào mà không chạnh nhớ đến sông Thu và không cảm thấy thương những nhánh sông quê hương như thương chính cuộc đời mình:

Quê ta có sông Thu không cầu danh

cũng biết nuôi người và thương mình

cả đời ta ước như sông ấy

chảy giữa tình yêu chảy quẩn quanh.

(Nói với dòng Mississippi, Hoàng Lộc)

Riêng em tôi còn nhớ mãi

ngây thơ ánh mắt ngập ngừng

Sông Thu bao giờ trở lại

mưa nguồn gío biển rưng rưng.

(Sông Thu, Trần Thái Vân)

Nhưng rồi, dòng sông Thu Bồn êm đềm như dải lụa ngà vào mỗi độ đầu đông đã trở thành hiểm họa:

Và lũ lụt.

Ôi giòng sông nước lũ

Xuôi nguồn trôi miên man

Những lá vàng tơi tả

Những cành nhánh khô cằn

Những hoa bèo lá cỏ

Xuôi dòng trôi miên man.

(Giòng sông nước lũ, Đynh Hoàng Sa)

Trời giận ai ! Trời mưa xối xả

Gió giận ai! Gió hú liên hồi

Nước giận ai! Nước cuồn cuộn chảy

Sông giận ai! Sông để vở bờ.

(Sau cơn lũ, Nguyễn Kim Sắc)

Làm sao quên những tháng Mười mưa lũ

Đêm bão giông nghe gió rít, chim kêu

Những cơn lụt nước trắng đồng,trắng ruộng

Tuổi thơ tôi xao xác với quê nghèo.

(Đất Quảng, Quang Huỳnh)

Bạn đi mùa hạ mà mưa trút

Bạn đi như con sông mùa lụt

Tràn qua bờ tre chảy thỏa lòng

Ta ở, ta về như nước rút.

(Như sông ngày lụt, Hà Nguyên Dũng)

Không chỉ trong tình yêu dành cho dòng sông quê hương, các nhà thơ xứ Quảng còn dùng những hình ảnh quen thuộc như nước cuốn, đời nước sông, bến đò xưa, chân cầu cũ như những mốc thời gian để đánh dấu những cuộc chia tay của bạn bè, những mối tình mong manh sương khói và những cảnh đời dâu biển sau cuộc chiến tang thương:

Em giờ con sáo giữa trời

Sang sông nên để cuộc đời tôi đau.

(Sáo sang sông, Linh Quân)

Khi anh đi tháng hai về qua phố

Đêm bay trên sông không thấy con đò

Qua An Hải những ngày thơ mắt ngó

Đời nước sông Hàn thuở ấy chưa lo.

(Ta vẫn còn nhau hay đã xa", Nguyễn Nam An)

Thấy lại giòng sông sáng chiều hai buổi

Gắn liền đời qua bao nỗi bể dâu

Như con nước sáng lên chiều cạn xuống

Mang nỗi buồn theo với giọt mưa ngâu.

(Ta thấy lại ta, Nguyễn Thanh Huy)

Có ai đợi ta trên con đò cuối năm

Ôi, chỉ bóng ta chao bóng xuôi dòng

Mặt mũi tiêu điêu theo phần đời gió nổi

Cái đời buồn như nước chảy trăm năm.

(Ngày về, qua đò cuối năm, Nguyễn Đông Giang)

Ta về nghe tháng năm dừng lại

Trên dòng Thu Bồn cát lở, bồi

Ở đó hè xưa ta đã tắm

Hình ta, đáy nước vẫn chưa trôi.

(Ta về giữa đất trời hiu quạnh, Hồ Tuấn Nhã)

Nước là thế, nước “chảy trăm năm”, nước “mang nỗi buồn theo”, “nước giận ai”, nước “mưa xối xả”, còn đất thì sao" Vâng, tình yêu đất của những người Việt đầu tiên trên vùng tân lập Quảng Nam thể hiện trong truyền thống vươn lên từ những thách thức của thiên nhiên khắc nghiệt, khao khát được sống tự do, xa lánh chế độ trung ương tập quyền hà khắc và cương quyết dấn thân khai phá vùng đất mới.

Tổ tiên Quảng Nam yêu đất Quảng như yêu mối tình đầu và cũng là tình cuối. Giả từ miền Bắc thân yêu, giả từ Thanh Hóa, Nghệ An, tổ tiên Quảng Nam bồng bế con thơ vượt đèo Hải Vân, ra ngoài cửa biển Đà Nẵng, Sơn Chà, Mân Quang, Tân Thái, xuống tận vùng Cửa Đại, Hội An và  lên cả các xứ đèo heo hút gió Tiên Phước, Trà Mi. Họ bắt những con cá lớn, trồng những cây quế thơm, dệt những tấm lụa vàng. Và từ những bước chân đầu tiên đặt lên con đường lịch sử đầy gai góc, bao nhiêu thế hệ nối tiếp nhau giữ gìn và xây dựng Quảng Nam. Truyền thống yêu đất yêu người đó đã được vun xới chăm nom bằng máu xương, mồ hôi và nước mắt.

Và thơ ca, đứa con tinh thần của mối tình giữa đất và người xứ Quảng cũng từ đó được sinh ra. Qua bao thời đại, thơ ca lớn lên, có khác nhau ít nhiều về vóc dáng nhưng các cấu tử trong mỗi tế bào căn bản vẫn giống nhau. Dù làm thơ cho những mối tình trai gái hay làm thơ ca ngợi tình cha mẹ, ngôn ngữ trong thơ của họ vẫn đậm đà hương đất Quảng Nam. Cũng vì thế mà một nhà thơ đã viết “tiếng quê hương là tiếng nói của cuộc đời”:

Trống sớm làng Trung, chuông chiều xóm Thượng

Tiếng quê hương vang vọng tháng năm dài

Giọng hát: à ơi...chảy tràn tám hướng

Tiếng nói cuộc đời khoan nhặt êm tai.

(Hương đồng phấn nội, Thành Tôn)

Theo suốt chiều dài lịch sử Quảng Nam, từ những ngày xưa xa lắm, thời những người Việt đầu tiên đáp lời kêu gọi của vua Lê Thánh Tôn “mang gươm đi mở cõi” ở các vùng đất vừa chiếm được. Ngoài trừ một số rất ít đi xa hơn vào miền Nam, hầu hết đều dừng lại ở Quảng Nam, chọn nơi này làm quê hương, để được sống và được chết trên vùng đất hiển linh nhưng cũng mang một nỗi buồn cho định mệnh đầy cay nghiệt của mình:

Còn ở đó màu da vàng thượng cổ

Tổ tiên tôi từ sơ thủy vốn buồn

Hai bàn tay đã đào sâu lòng đất

Trồng muôn ngàn cây sai trái tình thương.

(Còn ở đó, Nguyễn Nho Sa Mạc)

Làm bà mẹ Việt Nam đã là khổ rồi mà mẹ Quảng Nam thì sẽ khổ hơn chút nữa. Nhiều người cha Quảng Nam phải bỏ làng xóm vào nam tìm kế sinh nhai, mỗi năm về thăm vợ con chỉ một hai lần. Mẹ Quảng Nam ngoài chịu đựng cô đơn, trống vắng, dải nắng dầm mưa, còn phải trồng trọt trên mảnh đất cằn khô xứ Quảng, còn phải mỗi đêm “ngồi nghe máu nhỏ xuống bàn tay khô”. Nhưng dù bàn tay có đau nhức bao nhiêu mẹ vẫn bám lấy đất Quảng Nam, để sống và cũng để đợi chờ:

Hôm nay tiếng súng không còn nữa

Sông núi ngùi thương chuyện núi sông

Con biết quê nhà sau khói lửa

Mẹ già tựa cửa đứng chờ mong.

Lụa có vàng như thuở thái bình

Vườn ta còn mấy ngọn cau xanh

Đất khô tay có đau không mẹ

Cha vẫn ngâm nga khúc viễn hành.

(Thư gởi mẹ, Tạ Ký)

Hai nhà thơ xứ Quảng không hẹn hò nhau, qua đời cách nhau gần 20 năm mà có hai câu thơ rất đúng ý nhau như hai đứa con cùng an ủi một người mẹ khổ đau, “hai bàn tay đã đào sâu trong đất” và “ddất khô tay có đau không mẹ”. Các điểm đặc thù của xứ Quảng, nổi bật nhất vẫn là viết về những địa danh, thể hiện rất rõ nét trong thơ của những nhà thơ sinh ra trên mảnh đất khô cằn sỏi đá này. Họ đưa vào thơ không phải chỉ là những hình ảnh bến bờ thơ mộng, núi non hùng vĩ nhưng đôi khi chỉ là những củ sắn, củ khoai, trái bòn bon, khung cửi, con thoi, con kén. Họ đưa vào thơ không chỉ những nơi chốn rất thơ, rất tình, đọc lên rất êm tai như Trà Mi, Nghi Hạ, Giao Thủy, Thi Lai, Hà Mật mà còn cả những Hòn Kẽm Đá Dừng, Chèo Bẻo, Dùi Chiêng, Châu Nhí, Cà Tang, Đông Bàn, Cẩm Lậu “nghe rất lạ nhưng vô cùng thân thiết”.  Ngôn ngữ họ dùng đơn giản và dể hiểu như tấm lòng của họ, nói như nhà thơ Hoàng Phong Linh “Người Quảng không đeo mặt nạ”. Nếu thiếu những cái bình thường và đơn giản đó họ không còn nhà thơ xứ Quảng nữa:

Trung Phước ơi, sông sâu dài uốn khúc

Tình cheo leo cao vút một con đèo

Núi Chèo Bẻo vươn mình trong khói đục

Hòn Cà Tang thương nhớ vọng tình theo.

(Trung Phước ơi, Tạ Ký)

Tôi đứng trên cầu ráng đỏ chân mây

Bên kia sông vùng tuổi thơ mất dấu

Tìm hòai đâu ra Đông Bàn Cẩm Lậu

Thi Nhơn, Phú Lộc cũng đã thay tên

Tôi đứng nơi đây hồn xuống chiều lên

Khóc cuộc đời mình như thuyền đã đắm

Chưa về làng xưa vinh quy áo gấm

Nay khoe làm gì chiếc áo tù nhân.

(Câu Lâu ngày về, Hoàng Định Nam)

Chè bắp Cẩm Nam - ngọt môi con gái

hương cao lầu ấm dạ khách viễn phương

Hội An ơi từng tên quán bên đường

từng con hẽm trong lòng ta sống lại.

(Hội An, nỗi nhớ trong ta, Dư Mỹ)

Phố Hội ơi chiều nay xa vời vợi

Cho tôi xin một chút nắng quê nhà

Để đời tôi được một phút thăng hoa

Được sống thở như ngày tôi mới lớn.

(Nhớ Phố Hội, Lê Văn Bá)

Thơ ca gắn liền vào đời sống tinh thần của người dân Quảng từ bao giờ, ngay cả theo giáo sư Nguyễn Văn Xuân cũng không biết chính xác. Chắc hẳn là lâu lắm. Hình ảnh quê hương thân yêu ảnh hưởng sâu đậm trong hồn thơ của hầu hết nhà thơ xứ Quảng. Dòng sông Thu Bồn, có lẽ không khác sông Vàm Cỏ trong Nam, sông Hồng ở Bắc bao nhiêu, nước vẫn là nước, bờ vẫn là bờ, ghe thuyền vẫn ghe thuyền xuôi ngược, thế nhưng, qua thơ của các nhà thơ xứ Quảng, những rặng tre, dòng nước, chiếc ghe đã trở thành thánh tích. Bàng bạc trong thơ họ là hình ảnh của đình làng, thôn xóm, bóng đa già đã một thời che nắng che mưa. Nhà thơ xứ Quảng nào cũng ít nhất đôi ba lần viết về những địa danh mà họ đã từng ghi dấu chân trong đời bằng ngôn ngữ vô cùng thân mật như tâm sự với chính mình trong đêm không ngủ được. Hãy nghe các nhà thơ về thăm Hội An. Trước cuộc chiến:

Đêm. trở lại, mưa sa mù Phố cũ

đường hoang vu thao thức ánh đèn vàng

dáng âm thầm muôn thuở của Hội An

bước khe khẽ sợ phố phường thức giấc

gió tha thướt vỗ trăm lời thân mật

mừng ta về thăm lại ấu thơ xưa

lặng nhìn nhau, Phố đã nhận ra chưa"

ta vĩnh viễn một thằng con bất hiếu

thân phiêu bạt, giờ đây lòng trải chiếu

bước bâng khuâng xin thâm tạ ơn đời

ba mươi năm hồn thả sợi tình lơi

bao giờ buộc đời ta vào với Phố"

(Luân Hoán, Đêm Mưa Về Hội An)

Và như người học trò tóc bạc trở về trường sau cuộc chiến:

Đứa trẻ bạc đầu hí hoáy làm thơ

đọc cho ghế bàn thưởng thức

trong thinh lặng dường như cuối lớp

mắt ai thăm thẳm đang nhìn

Con sông Hoài sóng vỗ đến lặng im

ông nghe tỏ bằng đôi tai nghễnh ngãng

nghe cả tiếng thầy cô trên bục giảng

tiếng rêu phong mái ngói chùa Cầu.

(Họp mặt lớp, Nguyễn Hàn Chung)

Bối cảnh chính trị đầy bất trắc đã đẫy nhiều người dân Quảng ra khỏi quê hương thân thuộc như một bầy chim tản mát bốn phương trời. Như những con nước dù trôi đi xa nhưng vẫn hằng đêm mơ về chân cầu cũ, thơ của họ, vì thế, không phải chỉ là tiếng lòng riêng của tác giả mà còn là tiếng kêu trầm thống của quê hương khổ đau, nơi mà nhà văn xứ Quảng Lôi Tam gọi là “chiếc nôi”:” Rồi vời vợi trong ký ức còn có hình ảnh con đường cũ, mái trường xưa .... Tất cả quyện quấn, đan kết thành chiếc nôi êm ái. Chiếc nôi (mà chúng ta vẫn gọi là quê hương) đó không là bảo vật dành cho một vài cuộc đời. Nó có đó từ nhiều nghìn năm trước và sẽ phải còn đó cho muôn nghìn năm sau” .

Cuộc sống nơi quê người dù trong cảnh nệm ấm chăn êm hay còn nhiều khó khăn, trắc trở, những người cầm bút xứ Quảng vẫn không bao giờ quên nghĩ về, nhớ về và viết về tổ ấm quê hương. Trong hành trang thơ ca của các nhà thơ xứ Quảng còn có cả con nước dâng cao, có mùa lũ lớn, có cả nỗi đau không khác gì nỗi đau của những người còn ở lại:

Gởi

Sau, trận lũ quê nhà

Chút mai nắng ấm

Chút hòa thuận mưa

Chút gió nồm, giữa ban trưa

Chút hương khói buổi giao thừa đầu năm.

(Gửi, Sau, Trận lũ quê nhà, Xuyên Trà)

Tin bão tới làm họ xốn xang lo lắng tưởng như nước đang dâng đâu đó bên kia đường. Giọt nước mắt nhỏ xuống trong cơn mưa ở Cửa Đại, ở Trà Mi, Tam Kỳ cũng nhỏ xuống ở Boston, San Jose, Dallas. Giọt nước mắt trong dòng thơ Quảng Nam xa xứ vẫn là nước mắt Việt Nam đang hòa chung vào nỗi khổ đau của hàng triệu đồng bào bất hạnh ở quê hương:

Những tiếng kêu như xé nát lòng ta

Thốn tận tim gan như lời trách móc

Ta nghe như tiếng ai đang khóc

Đầu ta đau như ai bửa làm đôi

Đôi mắt mờ đau xót nghẹn lời

Bà con ta bên kia màn trời chiếu đất.

(Quê nhà lũ lụt, Phan Xuân Sinh)

Những con nước nhỏ dưới chân cầu Vĩnh Điện, Câu Lâu, Bà Rén, đã theo ngã Hàn giang, Cửa Đại mà trôi ra biển lớn. Nhưng không phải vì thế mà tan loãng trong đại dương bát ngát như hàng triệu con nước khác. Trái lại, những giọt nước Thu Bồn ngày xưa, vẫn hẹn một ngày bốc thành hơi, bay về tưới mát ruộng đồng xứ Quảng thân yêu đã nhiều năm đại hạn. Tiếng kêu từ thượng nguồn sông Thu giữa tháng Mười mưa lũ như vẫn còn vang vọng trên mỗi chặng đường của những nhà thơ xứ Quảng ở phương xa như người con trai Quảng Nam Trầm Tử Thiêng một lần đã viết trong nhạc phẩm Từ tiếng hát tiếp nối của anh “lời dân ca lai láng tình quê, đời phiêu du đôi lúc ta lắng nghe, bàn chân đi lòng vẫn mong về”:

Đời lá rách lá lành thường lặp lại

đất Quảng Nam chờ lũ lụt hàng năm

bao tấm lòng quay về từ cửa Đại

trong trái tim mưa nắng cũng thăng trầm.

(Mưa lũ quê nhà, Mạc Phương Đình)

Sông nước theo mùa đông lũ lụt

quê nghèo xơ xác tiếng đau thương

trăm năm cánh én bay đi mất

bỏ lại tình em như khói sương

(Cơn mưa nhớ nhà, Thái Tú Hạp)

Về đến quê nhà nhớ cố hương

Bờ dâu, ruộng lúa, nắng sau vườn

Làng đâu" Dòng nước soi bờ lở

Biền biệt quê nhà xa cố hương.

(Trước khi đi xa, Thành Tôn)

Buổi ta đi khói sóng mờ sông lạnh

Nghe âm vang tiếng đất gọi ta về

Có bóng ai đứng dưới vòm mưa tạnh

Mắt ươm buồn phảng phất cả trời quê.

(Buổi ta đi, Vũ Đình Trường)

Bên kia bờ Thái Bình Dương

Tre xanh lúa ngát quê hương một trời

Mưa buồn chi lắm mưa ơi!

Trời mưa không giọt mưa rơi trong lòng.

(Cung Diễm)

Những ngày cuối năm mưa phùn gió bấc

dòng sông Hàn nước đục, lục bình trôi

bên kia phố có mắt hiền mộng mị

nụ cười em tôi lặng lẽ đi tìm.

(Mưa ở Đà Nẵng, Đặng Hiền)

Như nhà thơ Phùng Quán viết:” Có những phút ngã lòng, tôi vịn câu thơ mà đứng dậy”, tổ tiên xứ Quảng hẳn đã nhiều lần vịn thơ đứng dậy. Thơ là những cành hoa mọc lên từ nỗi khổ đau và thơ cũng là dòng nước mát nhỏ xuống cánh đồng Quảng Nam nức nẻ. Từ những câu ca dao, những điệu hò khoan tình tứ xa xưa cho đến những cách làm thơ rất mới hôm nay, lũ lụt vẫn sẽ còn đó trong thơ của những nhà thơ Quảng Nam như số phận của những con người sinh ra và lớn lên trên mảnh đất hiển linh những cũng đầy khắc nghiệt này.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Mike Pompeo đã quyết liệt bác bỏ yêu sách của Trung Quốc dành làm chủ các nguồn tài nguyên ở hầu hết Biển Đông, cũng như việc nước này mở chiến dịch đe dọa để kiểm soát. Ông nói hành động của Bắc Kinh là hoàn toàn phi pháp. Tuy nhiên ông Pompeo đã không đưa ra bất kỳ biện pháp nào để trừng phạt Trung Quốc, nếu Bắc Kinh không thay đổi. Dù vậy, tuyên bố phổ biến chiều ngày 13/07 (2020) của Bộ Ngoại giao Mỹ được coi là cứng rắn nhất từ trước đến nay nhằm chống chính sách lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc.
-AFP ngày 1/7/2020: Trung Quốc ra lệnh cho chi nhánh của các hãng thông tấn như AP, UPI, CBS và NPR phải khai báo số lượng nhân viên, hoạt động tài chính cũng như tài sản mà họ có ở Trung Hoa. Đây là hảnh động trả đũa vì Hoa Thịnh Đốn đã ngăn cấm bốn cơ sở thông tin của họ tại Hoa Kỳ. -AP ngày 1/7/2020: Pháp loan báo họ sẽ không tham dự vào một chiến dịch hải quân của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Địa Trung Hải sau khi có sự căng thẳng về quân sự với Thổ Nhĩ Kỳ vì cuộc xung đột tại Libya. Tổng Thống Pháp tuyên bố sẽ không tha thứ hành động can thiệp quân sự của Thổ vào đây và gọi sự can thiệp của Thổ là “tội phạm” còn Nga là mâu thuẫn. Hiện nay Thổ trợ giúp phe Tripoli không quân, vũ khí và đồng minh tham chiến đến từ Syria. Theo AFP ngày 8/7/2020, Tổng Thư Ký LHQ Antonio Guterres nói rằng sự tham gia của quân ngoại bang với lính đánh thuê và vũ khí phức tạp là điều chưa từng thấy ở Libya.
Phần lớn nhân loại đều chưa đến Rome, và chắc cũng chả mấy ai rành rẽ về phong tục tập quán của xứ sở này. Tuy thế, nếu có dịp bước chân tới đây thì chắc tất cả chúng ta đều sẽ nhớ đến lời dậy của cổ nhân (“nhập gia tùy tục/đáo giang tùy khúc”) để ứng xử thích nghi, và hoà nhã với dân bản xứ.
Quốc gia nào cũng có nhà nước nên vai trò của chính quyền không thể tránh. Nhưng quả lắc khi nghiêng về nhà nước quá xa thì bóp nghẹt thị trường tự do còn khi chuyển sang tư nhân quá mức lại tạo ra bất ổn (khủng hoảng kinh tế) và hố sâu giàu nghèo. Một nghịch lý khác là khi xã hội xáo trộn, kinh tế suy trầm thì một bên là Mác Xít trỗi dậy, bên kia là Phát Xít nổi lên như xảy ra vào các thập niên 1930 hay 2010.
Trong cú sốc ban đầu do COVID-19 gây ra, các chính phủ và ngân hàng trung ương ứng phó bằng những đợt bơm tiền mặt khổng lồ là chuyện có thể dễ hiểu. Nhưng hiện nay, các nhà hoạch định chính sách cần lùi một bước và xem lại các hình thức kích hoạt nào thật sự cần thiết và nguy cơ nào gây nhiều hại hơn lợi. Các chính phủ trên khắp thế giới đang phản ứng mạnh mẽ với cuộc khủng hoảng COVID-19 bằng cách ứng phó kết hợp về tài chính và tiền tệ, nó đã đạt tới 10% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, theo Cơ quan Kinh tế và Xã hội thuộc Liên Hiệp Quốc đánh giá tổng quát mới nhất, các biện pháp vực dậy này có thể không thúc đẩy cho tiêu dùng và đầu tư nhiều như các nhà hoạch định chính sách hy vọng.
Bạch Thái Bưởi, theo Wikipedia: “Là một doanh nhân người Việt đầu thế kỷ 20. Lúc sinh thời, ông được xếp vào danh sách bốn người giàu có nhất Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ 20 (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Bưởi)… Xuất thân từ tầng lớp nghèo, ông luôn quan tâm đến đời sống của giới thợ thuyền. Ông dành chế độ an sinh cho các nhân viên của mình. Ông trợ cấp cho học sinh nghèo có chí du học… Năm 1921, Bạch Thái Bưởi cho ra đời tờ báo hàng ngày mang tên Khai hóa nhật báo với tôn chỉ: ‘Một là giúp đồng bào ta tự khai hoá, dạy bảo lẫn nhau... mở mang con đường thực nghiệp. Hai là giãi bày cùng Chính phủ bảo hộ những yêu cầu thiết thực, chính đáng của quốc dân. Ba là diễn giải những ý kiến, những lợi ích, tác hại của các công việc Chính phủ đang làm...’
Sự căng thẳng thẳng giữa nước Mỹ và Trung cộng mỗi ngày mỗi gia tăng. Thật vậy, kể từ ngày 25-9-2018, tổng thống Donald Trump đọc trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, kêu gọi các nước trên Thế giới: “Chống lại xã hội chủ nghĩa và những đau khổ do nó đã gây ra cho nhân loại.” Mời xem link: https://youtu.be/q6XXNWC5Koc?t=95. Từ đấy, khiến cho Trung cộng lo âu phập phồng vì cả Thế giới phê phán chủ nghĩa cộng sản gay gắt.
Kết quả bầu cử Thị xã vòng nhì hôm 28/6 vừa qua khoát cho nước Pháp bộ áo mới màu xanh. Bộ áo Pháp lần đầu tiên được mặc. Các Thị xã xưa nay do Thị trưởng xã hội, phe Hữu hay thuộc xu hướng khác nay phần lớn lọt vào tay đảng Xanh. Cả những Thị xã cho tới nay vẫn nằm trong tay cộng sản cũng bị đảng Xanh cướp mất. Giới chánh trị đều ngẩn ngơ trước thực tế hoàn toàn bất ngờ này. Nhiều nhà chánh trị học, nhà báo chánh trị bắt tay ngay vào việc tìm hiểu tại sao bổng nhiên xuất hiện làn sóng xanh chiếm gần hết các thành phố lớn nhỏ của Pháp? Tại sao chỉ có 4/10 người đi bầu? Vậy người được bầu thắng cử hay làn sóng cử tri vắng mặt mới thật sự thắng cử?
Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, dự luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông được đưa ra tại quốc hội của Đảng Cộng Sản Trung Hoa để thông qua, và đêm 30 tháng 6 rạng sáng ngày 1 tháng 7, 2020, sau một phiên họp kín của Ủy Ban Thường Vụ Đại Biểu Nhân Dân (mà thế giới gọi là quốc hội bù nhìn tại Bắc Kinh) dự luật này đã trở thành luật. Ngày mà Luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông này ra đời cũng trùng ngày mà Hồng Kông được trao trả lại cho China 23 năm trước 01-07-1997 theo thể chế “một nước hai chế độ” (one country two systems). Theo đó Hồng Kông vẫn còn quyền tự trị trong 50 năm từ 1997 đến 2047, và trên lý thuyết Hồng Kông chỉ lệ thuộc vào Bắc Kinh về quân sự và ngoại giao mà thôi.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.
Người Việt Phone
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác
Hôm thứ Hai (06/07/2020), chính quyền Mỹ thông báo sinh viên quốc tế sẽ không được phép ở lại nếu trường chỉ tổ chức học online vào học kỳ mùa thu.
Đeo khẩu trang đã trở thành một vấn đề đặc biệt nóng bỏng ở Mỹ, nơi mà cuộc khủng hoảng Covid-19 dường như đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Trong khi thế giới đang đổ dồn tập trung vào những căng thẳng giữa Mỹ với Trung Quốc, thì căng thẳng tại khu vực biên giới Himalaya giữa Trung Quốc và Ấn Độ vào tháng 05/2020 đã gây ra nhiều thương vong nhất trong hơn 50 năm.
Ủy ban Tư pháp Hạ viện Mỹ cho biết các CEO của 4 tập đoàn công nghệ lớn Amazon, Apple, Facebook và Google đã đồng ý trả lời chất vấn từ các nghị sĩ Quốc hội về vấn đề cạnh tranh trong ngành công nghệ.