Hôm nay,  

Tây Ninh Trong Trái Tim Ta

06/12/202400:00:00(Xem: 2004)

ĐẠO CAO ĐÀI

Đạo Cao Đài

  
Tây Ninh trong trí nhớ, Tây Ninh trong trái tim của những cô gái Tây Ninh và chàng trai lính chiến đến rồi đi để lại đau đớn trong lòng cô con gái nhỏ. Tây Ninh với thánh thất Cao Đài hùng tráng uy nghi. Tây Ninh trong lòng người mộ đạo đi đâu cũng thành lập thánh thất Cao Đài, mô hình giống như tòa thánh Tây Ninh. Người xa Tây Ninh tìm về thăm lại quê cha đất tổ, thăm thánh thất Cao Đài, núi Bà Đen, thăm lại làng Từ Bi.
           
Năm 1832, vua Minh mạng đã chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh, Tây Ninh lúc này thuộc trấn Phiên An. Đến 1836, tỉnh Phiên An được đổi thành Gia Định, phủ mới được thành lập và lấy tên Tây Ninh như hiện nay. Tây Ninh thuộc vùng Đông Nam Bộ của miền Nam, tiếp giáp với nhiều địa phương khác như: giáp với Bình Dương về phía Đông, giáp với Campuchia về phía Bắc, giáp với Sài Gòn và Long An về phía Nam. Về ý nghĩa tên gọi, Tây Ninh có nghĩa là vùng đất yên ổn về chính trị phía Tây. Ngày trước, nơi này còn có tên là Romdum Ray mang ý nghĩa chuồng voi vì khu vực này chỉ có các loài thú dữ như beo, rắn, voi, cọp, v.v.

TÒA THÁNH TÂY NINH

Tòa Thánh Tây Ninh

           
Đến với Tây Ninh thì không thể không ghé qua tòa thánh Tây Ninh, đây là một công trình của đạo Cao Đài, là nơi thờ Thiên Nhãn- biểu tượng thiêng liêng của đạo Cao Đài. Tòa thánh được xây dựng từ năm 1933, tới năm 1955 mới hoàn thành, trên diện tích gần 12 km2, có hàng rào bao bọc xung quanh và bao gồm tòa thánh, đền thờ Phật mẫu, bửu tháp. Tòa thánh dài khoảng 100 mét, với 12 cửa, cửa Chánh Môn là cửa lớn nhất. Mặt ngoài có 2 tháp cao 36 mét, được xây dựng bằng xi măng cốt tre.
 
Phía bên trong tòa thánh có kiến trúc vô cùng độc đáo. Hai hàng cột phía trong tòa được trạm trổ hình rồng với nhiều màu sắc rực rỡ. Nền tòa thánh có 9 cấp được gọi là “Cửu phẩm thần tiên”, mỗi cấp tương đương với một phẩm cấp. Ở giữa có quả cầu lớn tượng trưng cho vũ trụ với Thiên Nhãn nằm phía trước.
 
Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh
Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh
 
Từ bao đời nay, người dân xã Thạnh Tân, Tây Ninh vẫn truyền tai nhau về sự tích kỳ bí của núi Bà Đen, về người con gái chết oan, 3 lần quay về báo mộng, hiển linh. Núi nằm tại xã Thạnh Tân, cách trung tâm thành phố Tây Ninh khoảng 11km. Núi Bà Đen có một sức hấp dẫn con người kỳ lạ đến như thế, không chỉ bởi đây là ngọn núi cao nhất miền Nam Việt Nam, với nhiều cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp mà còn bởi nhiều huyền thoại kỳ bí, được người dân lưu truyền bao đời nay, từ chuyện rắn thần hiển linh, thần núi cho đến câu chuyện về người con gái chết oan, quay về báo mộng, cứu nhân độ thế và đem lại nhiều may mắn, tài lộc cho chúng sinh.

Núi Bà Đen cao 986 mét.
           
Núi Bà Đen trải rộng trên diện tích 24km², gồm 3 ngọn núi tạo thành: núi Heo, núi Phụng và núi Bà Đen. Với độ cao 986m, nhìn từ xa, núi Bà Đen như một chiếc nón úp trên đồng bằng. Nằm rải rác từ chân núi lên đến đỉnh núi Bà Đen là một quần thể kiến trúc gồm chùa Phật với tượng Phật nhập Niết bàn, chùa Hang (Linh Sơn An Phước tự), chùa Hạ, chùa Trung (Linh Sơn Phước Trung tự), chùa Vân Sơn. Đan xen với hệ thống chùa là rất nhiều hang động được các tăng ni, Phật tử sửa chữa làm nơi thờ tự như: động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai, động Ông Tà, hang Gió, ... Người hành hương về núi Bà thường xin những gói lộc (bên trong đựng một nhúm gạo hoặc hoa quả nhỏ xinh) để cầu may.
 
Câu chuyện huyền thoại luôn lôi cuốn du khách khi đến với địa danh tâm linh này, đó chính là sự tích về Bà Đen, nàng Lý Thị Thiên Hương con gái của ông Lý Thiện, quan trấn nhậm Trảng Bàng triều Nguyễn và bà Đặng Ngọc Phụng, một người phụ nữ gốc Bình Định. Truyền thuyết kể rằng, nàng vốn là người con gái xinh đẹp, hiền lương, là con của một nhà gia giáo, nên được rất nhiều người để ý. Trong làng có chàng tên Lê Sĩ Triệt, mồ côi cả cha lẫn mẹ, được nhà sư Trí Tân nuôi dưỡng nên văn hay võ giỏi và cũng tỏ lòng cảm mến nàng.

Đền thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, trên núi Bà Đen
Đền thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, trên núi Bà Đen
           
Trong một lần nọ Thiên Hương lên núi cúng chùa liền bị một đám côn đồ vây bắt. Giữa lúc nguy khốn, chàng Lê Sĩ Triệt đã xông gia đánh đuổi và cứu được nàng. Để đáp ơn chàng, cha mẹ nàng Thiên Hương hứa gả nàng cho Lê Sĩ Triệt. Nhưng giữa buổi loạn ly, hai người chưa kịp lấy nhau, chành trai Lê Sĩ Triệt đã phải tòng quân ra trận, đánh đuổi Tây Sơn. Nàng hứa sẽ ở nhà, giữ trọn danh tiết chờ chồng.
 
Khi Lê Sĩ Triệt tòng quân, ở nhà trong một lần lên núi lạy Phật và thăm dưỡng nhà sư Trí Tân, thì bị nhóm kẻ xấu trước đó vây bắt, toan làm nhục. Để giữ lòng trung trinh, nàng đã nhảy xuống khe núi tử tiết. Sự tích 3 lần báo mộng hiển linh của nàng Lý Thị Thiên Hương được lan truyền khắp mọi nơi, cùng với tín ngưỡng tâm linh của người Việt: thường những người chết oan, họ rất linh thiêng nên tiếng lành đồn xa, dân chúng ở khắp các nơi đã về với Tây Ninh để vừa vãn cảnh, vừa cúng bái, cầu tài lộc và bày tỏ lòng tôn kính với vị Thánh Bà này.
 
Hồi nhỏ, tôi dẫn em trai út của tôi về thăm Tây Ninh, ở nhà người cậu của tôi ở làng Từ Bi, gần tòa thánh Tây Ninh. Cậu tôi lấy vợ ở Tây Ninh, về ở bên gia đình vợ. Nhà không đóng cổng, cửa cũng không khóa, mảnh vườn cây cỏ xanh tươi quanh năm suốt tháng, đời sống ở đây rất thanh bình, không trộm cắp, không ai vào vườn hái trái cây. Mọi người đi ngang tòa thánh dù đi xe đạp, đi xe gắn máy đều giở nón chào.           
 
Trong tòa thánh rất sạch, đẹp, gạch bóng loáng, một bên dành cho phụ nữ, một bên dành cho nam. Người nào vào tòa thánh đều hiền lành, yên lặng, quỳ lạy, giày dép bỏ bên ngoài cửa, trật tự, nhường nhịn từ cửa vào, người già thường được mời đi trước, trước tòa thánh là rừng cây với những cây cổ thụ, với chim hót líu lo suốt ngày.
            
Du khách khắp nơi trên thế giới về thăm tòa thánh, chụp hình lia lịa, ngày nào tôi cũng dẫn cậu em dưới 10 tuổi vào thăm tòa thánh, rồi lên núi, chúng tôi nghe kể lại vua Gia Long lúc bôn đào chạy lên Tây Ninh, lên núi được Phật Bà báo mộng chỉ đường chạy sang Miên, sau này ông trở về Việt Nam và lên ngôi vua, ông nhớ ơn Phật Bà trên núi.
  
Sau này, tôi trở lại thăm thánh thất Tây Ninh cũng nhiều lần, mỗi lần đến Tây Ninh, hay sang chiến trường Cao Miên, sau năm 1975, định cư ở Hoa Kỳ, tôi trở về thăm Tây Ninh, thăm thánh thất Cao Đài năm 2005. Tây Ninh khác xa ngày xưa, rừng cây trước thánh thất hình như bớt xanh, xung quanh thánh thất có nhiều tiệm ăn, chủ nhân đa số người Bắc sau năm 1975, nghe giọng nói thì biết ngay, đa số là tiệm chay, bên lề đường cũng có tiệm ăn, tiệm ăn nhỏ có vài cái bàn, cái ghế. Ngoài đường, xe chạy cát bụi mịt mù, vậy mà du khách hay người dân địa phương ngồi ăn tỉnh bơ. Tôi gặp nhiều du khách đến từ các quốc gia trên thế giới nói tiếng Pháp, Anh, Tàu, Bồ Đào Nha, v.v.          
 
Khách sạn nhiều tầng mọc ra gần tòa thánh, để cho du khách đến thăm và ở lại. Làng Từ Bi gần tòa thánh gần như biến mất, những ngôi nhà nhỏ với mảnh vườn rộng biến mất, bán cho người ở xa tới để làm quán ăn, nhà trọ.
  
Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được lập thành sau đại lễ Khai Đạo ngày19/11/ 1926. Hộ Pháp Phạm Công Tắc (1890-1959), tự là Ái Dân, biệt hiệu Tây Sơn Đạo, là một trong những lãnh đạo trong việc hình thành, xây dựng, phát triển và kiện toàn hệ thống tôn giáo của đạo Cao Đài. Ngài được chư đạo hữu tại thánh địa Tây Ninh kính trọng vào hàng bậc nhất do đạo đức của ngài và công lao xây dựng nên tòa thánh Tây Ninh.
 
Năm 1941, chánh quyền Pháp đưa Đức Phạm Hộ Pháp và 5 vị chức sắc lưu đày ở hải đảo Madagascar bên Phi Châu. Trong những ngày đi đày lao khổ nơi viễn xứ. Ngài đã được Đức Chí Tôn che chở nên bao tai nạn đều qua khỏi.
           
Truyện kể lại, một lần, xe ô tô chở Ngài cùng mấy chục người tù đày, qua chiếc cầu bắc ngang sông. Xe đang đi trên cầu cao, thì cầu gãy, đâm xuống sông, đem theo cả bao nhiêu người, thế mà không ai bị chết hoặc bị thương.
           
Một lần nữa, chiếc xe chở tù trong đó có Ngài, đang leo lên dốc núi, thì bị thụt lùi, lăn từ trên cao xuống. Chỉ một chút nữa là lao xuống vực thẳm tan tành cả người lẫn xe. May sao, một gốc cây bên bờ vực thẳm đã đón lấy và ngăn lại kịp.
           
Cả hai lần mọi người trong xe đều thoát nạn, chỉ Ngài mà xưng tụng: “Chúng ta thoát chết đều là nhờ ông lão này”. Rồi họ cười ầm ĩ, hồn nhiên vui vẻ và từ đấy ai cũng có cảm tình với Ngài.
           
Về đến nước vào cuối năm 1946, Đức Hộ Pháp lại phải đối phó với bọn vô thần có chủ trương diệt các tôn giáo. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc qui Thiên ngày 17/5/1959 tại Chùa Tual Svay Prey (Cao Miên).
           
Trong nội ô tòa thánh, cũng như trong khắp Châu Thành thánh địa Tây Ninh, từ những đền thờ đến các dinh thự, từ những con đường lớn nhỏ đến các cây cầu, từ những ngôi chợ đến các khu nhà ở trật tự khang trang, từ những ngôi trường dạy trẻ em nhà đạo cho đến các y viện, dưỡng lão, cô nhi viện, v.v., đâu đâu cũng đều thấy có những dấu tích nhắc nhở công nghiệp vĩ đại của Đức Ngài.
           
Thể xác của Đức Ngài tuy đã mất, hình bóng của Đức Ngài tuy đã khuất, nhưng trong lòng của mỗi tín đồ Cao Đài trong nhiều thế hệ vẫn ghi khắc hình ảnh sống động của Đức Ngài.
 
Tín đồ của đạo Cao Đài vẫn mặc áo dài tiếp khách trong tòa thánh, có những quyển sách để trên bàn tặng, ai muốn cúng dường thì để tiền vào trong cái thùng nhỏ, không khí vẫn yên lặng như ngày xưa. Du khách thập phương đến thăm không phân biệt tôn giáo, đặc biệt có sự yên lặng một cách tuyệt đối, người già, người trẻ yên lặng.              
 
Hằng năm, đạo Cao Đài ở Tây Ninh tổ chức nhiều ngày lễ trong đó 2 lễ lớn nhất là Lễ Vía Đức Chí Tôn (diễn ra vào ngày mùng 8 tháng giêng) và Hội Yến Diêu Trì Cung (diễn ra vào rằm tháng 8). Bên cạnh những nghi thức dâng hương, cúng lễ, đọc kinh theo nghi thức của đạo Cao Đài, trong những ngày lễ lớn tại đây còn diễn ra các chương trình biểu diễn nghệ thuật, múa hát, đưa rước như: cộ tiên, múa rồng nhang, lân mã, nghệ thuật múa tứ linh (long, lân, quy, phụng). Những ngày lễ trọng đại này không chỉ quy tụ tín đồ đạo Cao Đài và người dân Tây Ninh, mà còn thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước về dự lễ.           
 
Đến một nơi linh thiêng, không có trộm cướp. Trước tòa thánh, những hàng cây cổ thụ hình như mất đi nhiều. Có nhiều người quỳ trong tòa thánh cầu nguyện, có người quỳ trước các tượng lộ thiên trước tòa thánh. Người nào cũng cầu nguyện. Như hàng triệu du khách hàng năm từ khắp nơi trên thế giới đến thánh thất Cao Đài cầu nguyện, việc gì không ai biết, nhưng chắc chắn là việc lành, cho gia đình, cho người thân, cho bằng hữu. Ơn Trên sẽ phù hộ cho họ.
            
Không có sức mạnh nào bằng niềm tin tôn giáo, niềm tin tôn giáo giúp con người sống mạnh mẽ hơn, lạc quan hơn, dù khi hạnh phúc hay lúc lâm nguy, sự cầu nguyện đem đến niềm vui, an lạc. Cầu nguyện điều lành, tránh điều dữ, cầu nguyện chân thành hết lòng với trái tim của mình, sẽ linh nghiệm, sẽ được kết quả tốt đẹp.
            
Orange County, 12/2024
KIỀU MỸ DUYÊN
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Một anh bạn học cũ, gốc dân Quảng Ngãi (*), mới lãnh lương dạy kèm mấy giờ Anh ngữ, có nhã ý mời tôi đi ăn một món đặc sản quê anh. Ngại cho túi tiền eo hẹp của bạn, tôi từ chối thì anh nói ngay “Rẻ thôi mà!”. Cái quán xập xệ nằm ở đầu đường Bình Giả, Tân Bình. Chị chủ quán có vẻ trầm lặng, khép kín, không đon đả chuyện trò với khách, nhưng quán của chị khá gây ấn tượng là mấy chữ “Don Quảng Ngãi” được ghi dõng dạc, to nét trên tấm bảng lớn treo trước quán. Rồi hầu như để cho đồng bộ, bên trong quán lại có thêm hai cái bảng khác quảng cáo “Bia Dung Quất – Bia Quảng”. Và, rõ ràng là khiêm tốn hơn, một tấm bảng khác nữa ghi mấy chữ “Cháo gà, vịt – Tiết canh – Hủ tíu”, nét nhỏ hơn nhiều so với chữ “Don Quảng Ngãi”
Trước đây tôi đã viết bài phiếm Cao Nhơn, Nhơn Trị từ thành ngữ “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” ghi vài nhân vật ngày xưa kiến thức rộng, giỏi văn chương nên tự phụ “mục hạ vô nhân” nhưng người xưa cho rằng “Nhất sơn hoàn hữu nhất sơn cao” (Núi cao còn có núi cao hơn) để nói về con người suy ngẫm. Vì vậy chuyện “sửa lưng” nói nôm na nhẹ nhàng hơn “phản pháo, đá giò lái” giữa hai nhân vật qua lời nói hay hành động. Người xưa sửa lưng không những chỉ người có quyền thế sửa lưng người thất thế mà ngược lại…
Trong cuộc sống của chúng ta cũng thường gặp phải bao chuyện xảy ra họa (rủi ro) và phúc (may mắn). Khi có người bị họa thì lấy thành ngữ “Tái ông thất mã” nghĩa Hán Việt: Tái là “cửa ải”, Ông là “ông lão, ông già”, Tái ông là “ông già sống gần biên ải” ám chỉ khi người gặp họa trước thì may mắn được phúc sau. Thông thường thì thành ngữ nầy chí với tự bản thân để an ủi. Trong Tự Điển Hán Nôm thì phúc và phước viết giống nhau. Theo cách gọi miền Bắc là phúc, Trung và Nam là phước. Với phước, họa thì khôn lường được. Câu nói Lưu Hướng trong Thuyết Uyển “Phúc bất trùng chí, họa tất trùng lai”, phúc chỉ may mắn một lần, họa thì liên miên. Hay “Phúc vô song chí, họa bất đơn hành”.
“Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”: Khi không có người chỉ huy, kẻ xấu làm bậy. “Gà tức nhau vì tiếng gáy”: Tính ganh đua, đố kỵ, không chịu kém người khác. “Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng”: Cậy thế ỷ lại, bắt nạt người khác. “Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”: Khuyên bản thân có bản lãnh thì ra ngoài xã hội, anh chị em trong nhà nên đoàn kết, gắn bó với nhau cùng nghĩa tương tự như “Gà nhà lại bới bếp nhà”: Chê cùng phe cánh lại phá hoại lẫn nhau. “Gà què ăn quẩn cối xay”: Chê những người không có ý chí. “Học như gà đá vách”: Chê những người học kém. “Lép bép như gà mổ tép”: Chê người ngồi lê mách lẻo. “Lờ đờ như gà ban hôm”: Quáng gà, chê người chậm chạp, không hoạt bát
Câu nói để đời của TT Nguyễn Văn Thiệu: “Làm kẻ thù của Mỹ thì dễ, làm bạn với Mỹ thì rất khó”. Làm kẻ thù với Mỹ chỉ trực tiếp đối đầu còn làm bạn với Mỹ phải chấp nhận yêu sách, quyền lợi của Mỹ… nếu không sẽ bị “đá giò lái, đâm sau lưng” và có lúc bị bán đứng đất nước!
Tuổi 18 có thực sự là ngưỡng cửa của trưởng thành? Không ai lớn lên giống ai, và hành trình trưởng thành cũng chẳng thể đo đếm bằng một con số. Hầu hết chúng ta đều quen thuộc với cột mốc 18 tuổi – độ tuổi mà luật pháp nhiều nơi, bao gồm Hoa Kỳ, công nhận một cá nhân chính thức bước vào tuổi trưởng thành và phải chịu trách nhiệm hình sự như người lớn. Thế nhưng, câu chuyện không chỉ dừng lại ở đó.
Tình hình thế giới hình như đang rối lung tung, náo loạn như từ khi tổng thống Mỹ nhậm chức nhiệm kỳ II. Ông ở ngôi mới được hơn 100 ngày chút xíu, mà nhiều rắc rối quá, đối ngoại thì như mỗi ngày ông đưa ra những quyết định trừng phạt thế giới về kinh tế và thương mại bằng cách tăng thuế vào các hàng hóa của bất kỳ quốc gia nào nhập khẩu và Hoa Kỳ từ 10 đế 50% và hơn thế nữa.
Thông thường, sau một ngày dài bận rộn, ai cũng nghĩ rằng đến khi đặt lưng xuống giường thì cơ thể sẽ mệt mỏi rã rời. Thế nhưng đôi khi, điều ngược lại lại xảy ra: thay vì cảm thấy mệt và buồn ngủ, chúng ta lại bất ngờ cảm thấy tỉnh như sáo, tràn đầy năng lượng, trằn trọc mãi chẳng thể nào chợp mắt.
Bộ đồ lòng dĩ nhiên gồm có…lòng. Nhưng lòng lại chia ra nhiều loại: lòng non, phèo, lòng già, khố linh. Khố linh là phần cuối của lòng già, ăn rất giòn, béo vì có lớp mỡ bên trong. Đó là điểm cộng của khố linh. Điểm trừ là khố linh rất hôi, có lẽ đây là lý do có chữ “khố” nằm vùng ở đây. Bàn ngang một chút: lòng còn chỉ “lòng dạ”, một từ không dính dáng chi tới chuyện ngon hay dở. Nghĩa bóng của “lòng dạ” chỉ liên quan tới con người, còn bò heo gà thì chỉ có một nghĩa. Ngoài lòng, bộ đồ lòng còn bao gồm tim, gan, bao tử, dồi trường. Dồi trường chỉ có ở heo nái. Tùy theo tuổi heo, dồi trường to hay nhỏ. Loại ngon nhất là dồi trường của heo nái đẻ hai hoặc ba lứa. Nhưng ít thực khách biết chuyện này nên cứ đòi dồi trường to, vừa đắt vừa không ngon.
Hãy tưởng tượng quý vị đang đứng ngay cạnh xác tàu Titanic huyền thoại, chậm rãi dạo quanh một vòng và chiêm ngưỡng kích thước đồ sộ của con tàu. Quý vị có thể ghé vào phòng chứa lò hơi (boiler rooms), ngắm nghía các bảng điều khiển, thậm chí nhìn thấy số ID 401 của tàu được khắc trên cánh chân vịt. Những dải nhũ xốp gỉ sét (rusticles) lặng lẽ bám quanh thân tàu. Rải rác trên mặt đất là những mảnh kim loại đã biến dạng và đồ đạc cá nhân của những nạn nhân xấu số trong thảm kịch năm xưa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.