Hôm nay,  

Tại Sao Con Người Ca Hát?

24/05/202400:00:00(Xem: 3746)

Ban-hợp-ca-cùng-Khánh-Ly,-Bích-Liên,-Jimmy-Nhựt-hát-Hội-Trùng-Dương-tại-Giải-Thưởng-Viết-Về-Nước-Mỹ-2023

Có một số đặc điểm chung trong cách mà con người ca hát trên toàn thế giới: âm nhạc giúp chúng ta đồng điệu và gắn kết với nhau. Hình: Ban Hợp Ca và Khánh Ly, Bích Liên, Jimmy Nhựt hát Hội Trùng Dương tại GIải Thưởng Việt Báo VVNM 2023.


Giọng nói của con người có lẽ là nhạc cụ lâu đời nhất và đa dạng nhất: có khả năng phát ra cả tiếng nói và tiếng hát. Nhưng lý do tại sao con người lại tạo ra âm nhạc vẫn là một câu hỏi gây tò mò và làm bối rối các khoa học gia suốt hàng thế kỷ.
 
Có phải loại hình nghệ thuật này (âm nhạc) chỉ đơn giản là một phát minh, tương tự như chữ viết, được tạo ra để chúng ta có thể biểu đạt bản thân tốt hơn? Hoặc vai trò của lời ca tiếng hát thuở ban đầu là để con người thu hút bạn tình? Hay để lên tiếng cảnh báo nhau tránh khỏi những nguy hiểm đe dọa? Liệu con người có thừa hưởng yếu tố bẩm sinh hoặc tiến hóa nào đó liên quan đến âm nhạc?
 
Trong một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Science Advances, 75 nhà nghiên cứu từ 46 quốc gia đã quyết định sử dụng phương pháp tự ghi âm những bài hát truyền thống từ các nền văn hóa của mình với 55 ngôn ngữ khác nhau. Trong số đó bao gồm cả tiếng Hokkaido Ainu, Basque, Cherokee, Māori, Rikbaktsa, Ukraina, Xhosa và Yoruba.
 
Sau đó, các nhà nghiên cứu ghi âm đã sử dụng 3 phương pháp ghi âm: đầu tiên là chỉ đọc lời bài hát mà không có nhạc; tiếp theo là ghi âm phiên bản nhạc không lời từ các nhạc cụ; và cuối cùng là ghi âm lại những mô tả các bài hát bằng lời nói.
 
Một trong những tác giả chính của nghiên cứu là Patrick Savage, nhà nghiên cứu âm nhạc so sánh (comparative musicologist) tại Đại học Auckland ở New Zealand, cho hay: “Tôi đã tải tất cả các bản ghi âm đó về điện thoại của mình. Và đôi khi tôi cho các bản ghi bật ở chế độ ngẫu nhiên khi đi dạo. Tôi thực sự thích nghe những bài hát đó.
 
Nhóm nghiên cứu của Savage đã phân tích các bản ghi âm khác nhau với hai câu hỏi trọng tâm: Có những đặc điểm âm học nào khác biệt rõ ràng giữa hát và nói ở các nền văn hóa khác nhau không? Có những đặc điểm âm học nào giống nhau giữa hát và nói không? Để đi tìm câu trả lời, nhóm quyết định đo lường 6 đặc điểm âm học khác nhau trong mỗi bài hát, bao gồm cả nhịp độ cũng như cao độ và độ ổn định.
 
Kết quả là, nhóm nghiên cứu khá ngạc nhiên khi nhận thấy ba điểm nhất quán: thứ nhất là hát có khuynh hướng chậm hơn so với nói; thứ hai là khi hát, con người thường tạo ra những tần số âm thanh ổn định hơn so với khi nói; và thứ ba là giọng hát thường có cao độ cao hơn so với giọng nói.
 
Peter Pfordresher, một trong những thành viên của nhóm nghiên cứu và là nhà tâm lý học tại Đại học Buffalo, cho biết: “Có nhiều cách để xem xét các đặc điểm âm học của hát và nói, nhưng chúng tôi đã tìm ra ba đặc điểm quan trọng giống nhau trong tất cả các nền văn hóa – những điểm khác biệt rõ ràng giữa hát và nói.
 
Nghiên cứu này không đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh cuối cùng về lý do tại sao con người hát. Tuy nhiên, giả thuyết hàng đầu của các nhà nghiên cứu là âm nhạc có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự gắn kết xã hội.
 
Savage nói: “Những giai điệu chậm rãi, đều đặn và dễ dự đoán có thể giúp chúng ta kết nối và đồng điệu với nhau, qua đó, tạo ra tạo ra một sự gắn kết giữa chúng ta theo cách mà ngôn ngữ thông thường không thể làm được.
 
Tác giả chính của nghiên cứu, Yuto Ozaki, một nhà nghiên cứu âm nhạc từ Đại học Keio ở Nhật Bản, giải thích với tờ New York Times rằng việc hát cùng nhau trong các nhóm đông người có thể là một cách để khuyến khích sự gắn kết trong cộng đồng – để thúc đẩy sự đoàn kết hoặc chuẩn bị tinh thần cho các tình huống xung đột hoặc chiến tranh. Và có thể việc ca hát của con người đã phát triển một cách riêng biệt từ việc nói vì lý do này.
 
Aniruddh Patel, nhà tâm lý học tại Đại học Tufts, nhận xét: “Có điều gì đó đặc biệt về các bài hát trên khắp thế giới, những đặc điểm riêng biệt khi so với các loại tín hiệu âm thanh khác. Và qua quá trình tiến hóa, bộ não chúng ta đã trở nên quen thuộc và hòa hợp với âm nhạc và việc ca hát.
 
Các nhà nghiên cứu thừa nhận rằng mỗi ngôn ngữ được thể hiện bởi một kích thước mẫu rất nhỏ (hầu hết chỉ có một bài hát duy nhất), và các khoa học gia có thể đã chọn những giai điệu đơn giản, không phản ánh được toàn bộ sự đa dạng của các thể loại âm nhạc.
 
Một số nhà nghiên cứu tham gia đã được đào tạo chuyên sâu về thanh nhạc hoặc nhạc cụ hoặc đạt được các giải thưởng về âm nhạc – bao gồm Shantala Hegde, ca sĩ nhạc cổ điển Hindustani và là nhà thần kinh học; Latyr Sy, một tay trống người Senegal; và Gakuto Chiba, nhà vô địch quốc gia về nhạc cụ Tsugaru-shamisen của Nhật Bản. Vì lẽ đó, âm nhạc của họ có thể khác biệt một chút so với một mẫu ngẫu nhiên của những người tham gia.
 
Tuy nhiên, một nghiên cứu khác về âm nhạc, được tiến hành độc lập với nghiên cứu mới, và đã được đăng trên bioRxiv, đã tìm thấy các mô hình tương tự trong các bài hát đại diện cho 21 quốc gia trên khắp 6 lục địa.
 
Daniela Sammler, nhà thần kinh học tại Viện Max Planck Institute for Empirical Aesthetics, nhận xét: “Nghiên cứu cho chúng ta thấy rằng có những đặc điểm chung nào đó mà mọi người chúng ta đều có, không phụ thuộc vào văn hóa và không thể được giải thích chỉ bằng văn hóa.

Cung Đô sưu tầm / biên dịch
Nguồn: “Why Do Humans Sing? Traditional Music in 55 Languages Reveals Patterns and Telling Similarities” được đăng trên trang Smithsonianmag.com.
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nếu có thể kéo dài tuổi thọ hoặc thậm chí là bất tử, liệu chúng ta có thực sự muốn điều đó không? Trong cuốn sách mới có tựa đề “Why We Die: The New Science of Aging and the Quest for Immortality” (Tạm dịch “Tại Sao Chúng Ta Chết: Phát Hiện Mới Về Lão Hóa và Đi Tìm Sự Bất Tử”), Venki Ramakrishnan, khoa học gia về sinh học phân tử đoạt giải Nobel, đã sàng lọc các nghiên cứu từ trong quá khứ đến tiên tiến nhất để tìm hiểu những lý thuyết kéo dài tuổi thọ cùng với những hạn chế thực tế. Trong quá trình tìm hiểu, ông cũng đặt ra các câu hỏi quan trọng về những vấn đề liên quan đến xã hội, chính trị và đạo đức của những nỗ lực đi tìm sự sống vĩnh cửu.
Diễm biến mất. Giáo sư nói với tôi con người không thể tự biến mất. Bà hỏi chủ tiệm tóc kỹ hơn, cô chủ tiệm nói lý do cô khẳng định Diễm “biến mất”, là vì tất cả bạn bè của Diễm ở Bình Tân, ở thị trấn, ở quê của mẹ, đều cùng một thời điểm đột ngột mất liên lạc với Diễm. Không phải là chặn Zalo hay block Facebook, mà đơn giản là biến mất. Chủ tiệm tóc có vài học trò học xong nghề cũng lên mở tiệm hoặc làm thuê gần Bình Tân, Quận 12, là những chị Diễm thường ghé ở nhờ mỗi khi lên Sài Gòn. Họ đều nói họ mất liên lạc với Diễm cùng một thời điểm.
Một cậu bé 16 tuổi nâng nguyên một chiếc Volkswagen lên để cứu hàng xóm bị kẹt dưới xe. Người mẹ dũng cảm chiến đấu với gấu Bắc Cực để bảo vệ con mình. Cô con gái lôi chiếc máy kéo bị lật đè trên người cha ra. Những kỳ tích này được thực hiện nhờ có một lượng adrenaline tăng vọt và giải phóng các hệ thống của cơ thể cũng như năng lực của cơ bắp, vốn chỉ có thể ‘xuất toàn lực’ trong những tình huống căng thẳng cực độ.
Không thể nhìn thấy bằng mắt thường, không có mùi và cũng chẳng có vị, những lượng nhỏ chì (lead) hiện diện trong các vật dụng mà chúng ta sử dụng hàng ngày, trong nhà chúng ta ở, và cả trong nước chúng ta uống. Thậm chí, chì còn xuất hiện trong các bình nước tái sử dụng, như việc phát hiện ra chì trong đáy ly Stanley. Vụ việc đã làm dấy lên nhiều tranh cãi và khơi dậy sự chú ý của người tiêu dùng đối với một vấn đề đã tồn tại từ rất lâu.
Là một khoa học gia nghiên cứu về cảm giác đói và việc kiểm soát cân nặng, Zachary Knight, Giáo sư Sinh lý học, Viện Khoa học thần kinh cơ bản Kavli, Đại học California, San Francisco, quan tâm đến cách bộ não thông báo cho chúng ta biết khi chúng ta đã ăn đủ no. Khi bắt đầu cảm thấy no, chúng ta sẽ ăn chậm lại. Trong nhiều thập niên, các khoa học gia cho rằng sự thay đổi tốc độ này được điều khiển duy nhất bởi các tín hiệu từ dạ dày và ruột đến não. Nhưng một nghiên cứu mới từ phòng thí nghiệm tại UC San Francisco chỉ ra rằng, trên thực tế, có một quá trình khác đang diễn ra, và nó bắt đầu ngay từ khi chúng ta nếm thử thức ăn.
Trong một bài viết về chích ngừa tăng cường cho Covid mùa đông năm nay, tôi đã nhận xét về sự tương đối trong những khuyến cáo của Trung tâm Kiểm soát Bệnh Hoa Kỳ (CDC) về vấn đề chích ngừa Covid mũi booster. Riêng trẻ em thì sao? Khuyến nghị cho họ là gì? CDC khuyến nghị tiêm phòng cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên. Mặc dù phân tích của CDC cho thấy trẻ em từ 5 đến 17 tuổi ít có khả năng mắc bệnh nặng do COVID hơn nhiều so với các nhóm tuổi khác, nhưng trẻ em đôi khi vẫn bị bệnh nặng, ngay cả những trẻ không có bệnh lý tiềm ẩn. (Phần lớn trẻ em từ 6 tháng đến 11 tuổi nhập viện từ tháng 1 đến tháng 6 năm nay (2023) đều chưa được chích ngừa Covid).
Trong cuộc sống, tình yêu không chỉ đến từ các mối quan hệ lãng mạn mà còn có thể xuất hiện trong gia đình, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác. Tình yêu và các mối quan hệ lành mạnh đều mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta, bất kể là tình yêu trong sáng hay lãng mạnh. Theo Stephanie Cacioppo, một nhà khoa học thần kinh tại Đại học Oregon, tình yêu được coi là một nhu cầu sinh học thiết yếu đối với sức khỏe con người, giống như nhu cầu về nước uống, thức ăn và tập thể dục. Mặc dù trái tim thường được coi là "tội phạm", nhưng hầu hết các lợi ích liên quan đến tình yêu đều bắt nguồn từ bộ não, được lập trình tiến hóa để sản xuất và giải phóng hooc-môn khi chúng ta trải qua cảm xúc rung động, phát triển tình cảm và ước mong gắn bó.
Bất kể chúng ta đang đứng ở đâu trên Trái đất, dưới chân chúng ta đều có nước chảy len lỏi bên dưới lòng đất. Nước ngầm cung cấp nước uống cho khoảng một nửa dân số thế giới và gần một nửa lượng nước dùng để tưới, tiêu dùng, giúp giữ cho các dòng sông, ao hồ và đầm lầy tồn tại qua thời kỳ hạn hán. Nước ngầm là nguồn tài nguyên có thể tái tạo, nhưng có thể mất hàng thập niên, thậm chí hàng thế kỷ để một số tầng nước ngầm phục hồi sau khi bị cạn kiệt. Những hiểu biết hiện nay về vấn đề này chủ yếu dựa vào việc ghi lại các đo lường mực nước trong các giếng ở những địa điểm khác nhau.
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Để tạo ra một chai Mouton Rothschild 1945, hãy pha hai phần Château Cos d'Estornel với một phần Château Palmer và Cabernet California. Đó là mánh lới của Rudy Kurniawan, một gian thương kinh doanh rượu vang, ông ta đã pha trộn các loại rượu này rồi đổ vào những chai cũ có dán nhãn giả và bán cho những người sưu tập cả tin. Năm 2014, ông ta bị kết án 10 năm tù tại một nhà tù ở Hoa Kỳ, bị tịch thu 20 triệu MK và phải trả thêm 28 triệu MK cho các nạn nhân.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.