Có Một Bài Thơ Vô Danh

01/03/202009:21:00(Xem: 4874)

                                                     


LỜI PHI LỘ-Tôi được đọc bài thơ này lần đầu tiên khi nó được phổ biến trên báo VĂN, nếu tôi không nhầm,  vào những năm 80 của thế kỷ trước. Có điều đáng chú ý cuối bài thơ báo VĂN có ghi rõ Vô Danh, nghĩa là không rõ tác giả. Nhưng tôi tin rằng báo VĂN biết rõ tác giả nhưng không tiện nói ra vì tác giả vào thời khoảng ấy còn ở trong nước. Chỉ cần đọc bài thơ qua một lần, xuyên qua văn phong, ai cũng cảm nhận tác giả của bài thơ này là Thanh Tâm Tuyền. Người bạn họa sỹ già ở Orleans bên Pháp vào thời điểm này không ai ngoài họa sỹ Thái Tuấn. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đến Mỹ vào năm 1990 theo diện HO. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đã từ trần tại tiểu bang Minnesota vào ngày 22-3-2006, (1936-2006) sau mười sáu năm định cư ở Mỹ, hưởng thọ 70 tuổi.                                                     

        Nhân dip ngày giỗ thứ mười bốn-14 sắp tới của nhà thơ, và cũng để tưởng nhớ công ơn anh đã mở ra một hướng đi mới nền thi ca của đất nước ta, tôi xin mạo muội trinh bày lại nơi đây bài thơ của anh và cố gắng giữ nguyên hình thức như nó đã được trinh bày trên báo VĂN. Nếu có gì không hoàn hảo như ý muốn, xin quí vị lượng thứ. Xin tri ân-Đào Như


                                                                 Thư gửi người

                                                                    bạn họa sĩ

                                                                  già ở orléans


                          Người bạn vẽ già đi xa gửi cho tôi bức tranh Mùa Đông Quê Cũ

                          Đầm đìa mê nón áo tơi

                          Nghe tái tê cơn mưa phùn sơn dầu Paris đổ trên đồng chiêm mái rạ

                          Nghe trên tóc mình tuyết thời gian từng nạm trắng rơi rơi

                          Một thâp kỷ trôi vèo

                          Anh còn nhớ câu thơ tôi âm vang chiếc thùng phuy kinh động

                          Lăn xuống cầu thang, lăn mãi xuống cầu thang

                          Rút ruột đêm khuya cho mười năm vụt trở thành trống rỗng

                          Từng khối kỷ niệm buồn lăn suốt những mùa đông

                          Bao nhiêu đêm như Lý Bạch thời nào, anh ngước nhìn vần trăng châu Âu thâm thẩm sáng

                          Nhịp trống quân xưa, đứa trẻ xưa, rặng tre xưa, run bấn sợi dây cuồng

                          Cúi mái đâu già nua trên nền voan thâm thẩm trắng

                          Cố hương, chừ, cố hương

                          Thức ngủ trong anh, kẻ lữ khách vất vả cô đơn, loài du ca một đời thức ngủ 

                          Chốn đến nơi đi, cây kia nào biết lặng, gió chẳng biết dừng

                          Thổi suốt trời Orléans con bấc giọt đầm âm âm đồng đất cũ

                          Sóng vã lời tôi mười năm trời còn ngậm bến tranh anh

                          Đêm gõ búa khai niên, tôi độc ẩm trong giọt nước mắt lớn anh gửi về tôi từ niềm tri kỷ

                          Cơn ướt cơn khô cuộc trả vây thấm đẫm tận cùng

                          Đầm đìa tôi, đầm đìa anh, đầm đìa tất cả

                          Hoa đào có xót thương chăng khi vắng bầy thiên điểu di cư một nền mây cánh vỗ

                          Cố nhân, chừ, cố nhân !

                                  

                                                                                            VÔ DANH






                          




Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.
tôi phải trở lại những ý tưởng lần thứ hai / khi mưa mặc áo choàng xám đi quanh lâu đài
Rừng ngưng thở / thức / chíu chít tiếng chim
Lửa ! Lửa ! Lửa ! / khắp nơi, biết chạy về đâu
Núi chiều nay đã quay về chờ đợi. Còn gì đâu những hò hẹn trong đời.
Làm sao quên / mỗi chiều / Venice lóng lánh tà dương
Chiều ấy rất nhiều gió Đàn chim nhớ phố bay về(1)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.