Hôm nay,  

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

06/06/202500:00:00(Xem: 1433)
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”
Thơ Kiều của cụ Nguyễn Du
 
Có một lần đó thầy kể lại chuyện rằng, thầy có một phật tử chăm chỉ tu học, đã hơn 10 năm, theo thầy đi khắp nơi, qua nhiều đạo tràng, chuyên tu chuyên nghe rất thành kính. Nhưng có một lần đó phật tử đứng gần thầy, nghe thầy giảng về phát bồ đề tâm, sau thầy có đặt một vài câu hỏi kiểm tra coi thính chúng hiểu bài tới đâu? Cô vội xua xua tay, “bạch thầy, những điều thầy giảng, con hiểu hết, con hiểu hết mà. Con nhớ nhập tâm. Nhưng đừng, thầy đừng có hỏi, bị là con không biết trả lời làm sao đâu.” Có lẽ là cô hiểu ý mà cô chưa sẵn sàng hệ thống sắp xếp thứ tự lại các ý tưởng.
 
Và may thay có một người bạn đạo, ngồi khít bên đỡ lời, “đúng vậy, nhất thiết chúng sanh giai hữu phật tánh,” điều hoan hỉ là mọi người đã chăm chú nghe, đã hiểu, đã hiểu lời thầy giảng, nhưng đa phần chúng mình không thể nói lại ngay những lờ giảng dậy, vì nói được thì phải nói rất đúng, rất hay như chánh pháp, còn không, hãy im lặng như chánh pháp. A Di Đà Phật!
 
Có người nói hay (hay viết hay cũng thế) như ông nhà văn Thanh Tịnh thì nhắc tới, ai cũng biết câu văn thân thuộc của ông: “… hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mênh mang của tuổi tựu trường… buổi mai hôm ấy…”
 
Y vậy, Anatole France, của Pháp, vẫn kể rằng: «hàng năm, khi bầu trời chập chùng le ciel agité của mùa thu và những bữa cơm chiều đầu tiên dưới ngọn đèn và những lá cây vàng úa trên cành cây rung động, lại gợi lại cho tôi những gì?”
 
Đó là hình ảnh một cậu bé lưng đeo cặp sách, vừa đi vừa nhảy những bước chân sáo băng ngang vườn Lục Xâm Bảo… vào những lúc đẹp nhứt là lúc những chiếc lá vàng rơi lả tả trên vai những pho tượng trắng trong vườn… vâng đó là hình ảnh của tôi, của chính tôi 25 năm trước…
 
Còn ngược lại, cũng có những người nói nhiều, nói lớn, mà đố có ai bên cạnh hiểu được họ muốn nói gì, họ rất gần và rất xa nhau. Người ta kể rằng mấy ông giáo sư đại học Harvard nói lại trong một lớp học, học trò ông đang tranh luận, bàn cãi về một vấn đề. Thì các sinh viên của ông ăn nói rất lưu loát và tốt giọng, nghĩa là anh này nói thiệt lớn, đối diện một cô bạn cũng nói thao thao không ngừng nghỉ, à là họ tranh luận rất logique. Nhưng họ càng nói nhiều, càng không hiểu nhau lắm vì họ ít để ý đến lời của nhau. Họ đứng rất gần, nói rất lớn giọng, mà tâm ý họ càng xa nhau… rồi kết luận không khả quan. Y như vậy, cô A kể, ai cũng thấy, trên một chuyến xe métro, mọi người ngồi kế bên nhau, mà họ rất xa nhau, vì là mỗi người đang coi một cái tablette hay Ipad, theo dõi những câu chuyện riêng tư của mỗi người... đến nỗi tai nạn xẩy ra với người này, người kia ít có hay, để trợ giúp nhau kịp thời. Tựu trung, nói nhiều quá, hay không nói, đều không tốt.
 
Một nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ ví thế giới hôm nay hơi giống một bệnh viện tâm thần, khi một người hảo tâm muốn vào vấn an những bệnh nhân, họ đối thoại và nhận thấy những câu trả lời đối đáp qua lại của đa số bệnh nhân đều có lý, đều có một hàm ý và không phải là vu vơ, không phải là điên loạn mà trả lời lung tung, nhưng, nếu ráp nối những câu trả lời đó lại, người ta không thể hiểu họ muốn nói gì?
 
Cũng tương tự như thế giới từ đông sang tây, có rất nhiều doanh nhân, danh nhân hào nhoáng, tài giỏi, họ đưa trình, thể hiện các nền văn minh hiện đại, với tất cả nghệ thuật khôn khéo để hóa trang, để mua bán chính trị và quyền lợi làm đảo lộn đa phần nền văn minh và đạo đức nhân bản gây thảm họa không ngừng cho nhân loại.
 
Điển hình như đại dịch covid vừa qua. Bao tang thương, bao khốn khổ khắp nơi nơi, rồi tất cả cứ đổ tội đời là vô thường.
 
Mà đời là vô thường thiệt, vì nhân loại đang chịu trận, chứ có làm gì chống đối lại được những kẻ nắm quyền, nhiều thế lực... nhiều ảnh hưởng và dã man. Ở một khía cạnh khác, về tâm linh, đời là vô thường.
 
Như chuyện kể sư cô Diệu Trí ở chùa Tâm Ấn, một miền hẻo lánh ở Đại Từ, vùng phụ cận xa lắc xa lơ Hà Nội.
 
Sư cô kể rằng, khi đại dịch covid vừa tạm yên yên, chùa tổ chức lễ cúng vong, bái sám và xin hồi hướng công phu cho các vong linh quanh vùng vừa quá vãng. Thì có một buổi xế trưa vào chiều, chùa có hai người khách xin ghi tên những người thân quen qua đời trong nạn covid, đặng xin độ niệm cho họ siêu thoát.
Một người thì ghi một cái danh sách tên tuổi pháp danh người thân dài thiệt dài, cả một trang giấy, sư cô đặt câu hỏi:
 
Thí chủ cầu cho nhiều người thế, chẳng hay là thí chủ phát tâm xin cúng cho cả gia đình toàn thể nội ngoại, cả bà con bạn bè, hay cả khu phố sao? Ừ thì đa tạ tâm bồ đề của thí chủ.
 
Bạch sư cô là, nói nào ngay, trước đây ngoài gia đình thân quyến, con lỡ cãi lộn, gây lộn với tụi họ nhiều lắm, nay con buồn, con nghĩ con phải xin cúng, cầu hồng ân tam bảo gia hộ cho chúng họ siêu thoát.
 
A Di Đà Phật.
 
Xong sư cô coi danh sách xin vong của người khách thứ hai, trong tờ giấy, chỉ vỏn vẹn có hai tên người, là cha cô và mẹ cô.
 
Sư cô không thắc mắc… nhưng rồi người này cũng buồn buồn kể lể:
 
Con cũng có nhiều người thân, người quen biết lắm mà giờ này, chúng họ hình như bệnh mà chết hết ráo trọi, hay chán đời dọn bỏ đi đâu xa hết rồi.
 
Con không còn nhớ được họ nữa. Nhớ chi cho mệt! Cô Diệu Tâm hơi tức cười mà cố nín lặng.
 
A Di Đà Phật. Sự thế đó gọi là vô thuờng. Rồi họ cùng im lặng. Sư cô sau đó mời họ dùng trà và cùng lễ phật... cô mời họ cùng nghe nhạc thiền, hòa tự tâm bình, bản nhạc êm dịu nhẹ nhàng phảng phất ít nhiều tư tưởng của kinh Trung A Hàm, bản kinh truyền tải thông điệp về lòng nhân ái và tình thương của đạo pháp.
 
Sư cô Diệu Tâm nhắc nhở được ít nhiều những lời giảng của thầy Thích Tâm Đức gần đây, nhứt là trong mùa phật đản, thầy nhấn mạnh về một trong bốn nguyện của tứ hoằng thệ nguyện, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
 
Thầy am hiểu phật tử đến chùa, chùa là nơi thanh tịnh thầy giảng trò nghe, bạn đạo yêu kính và hiếu thuận nhau, thì việc tu tập khá dễ dàng. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày ngoài đời, đầy rẫy tham sân si, ngược xuôi xuôi ngược, khó thuận chiều xuôi gió với nhau, do đó, chúng sanh được khuyên bảo, cứ theo y pháp, lấy kham nhẫn, khiêm cung mà hành xử đối nhân xử thế.
 
Trong cuộc sống xô bồ, người trái ý nhau cũng nhiều, người thuận ý nhau cũng khó. Thói lề nhân sinh cứ kể ra thì có nhiều loại người khác nhau, thầy và y pháp luôn nhắc nhở phật tử tùy theo căn cơ tương báo nghiệp duyên mà hành xử đối đãi. Nhưng dù hành xử theo cách nào, thì cũng nên căn cứ trên chủng tử tốt lành nhứt của một con người, một con người đang được làm người trong hiện tại là họ có, đã có một chủng tử nguyên nhân tốt lành, dù nhỏ bé, vẫn tồn tại, thị hiện, dù trong một quá khứ rất xa xôi nào đó.
 
Thêm nữa, điều cốt yếu, ta luôn phải bảo trọng gìn giữ thân thể khỏe mạnh. Thân thể khỏe mạnh. Thân thể khỏe mạnh, tâm trí sáng suốt, có trí tuệ. Thân và tâm song hành khỏe mạnh, hành giả mới hội đủ sức lực để học tập đạo pháp và tu tập giải thoát được cho mình và cho người.
 
Khi tâm trí và cơ thể sáng suốt, hành giả dễ điều phục cân đối hóa giải tham sân si. Điều phục an bình tiểu vũ trụ là điều phải làm trước, sau đó mới có thể nhìn ra cảnh quang đại vũ trụ bao bọc xung quanh. Thầy Tâm Đức luôn rao giảng:
 
Cảnh bình thì tâm sẽ bình
Tâm bình thì cảnh sẽ bình
 
Trong hoàn cảnh, cảnh không bình, mà tâm bình, là bạn tu tập đã tiến bộ.
 
Ngay khi còn trẻ, còn khỏe, thầy khuyên rằng phải siêng năng và tụ tập, vì trên con đường luân hồi vòng vo dài vô tận, không biết lúc nào đó sẽ có những chướng ngại va vấp phải, việc tu thân học pháp vốn là trọng yếu và phải năng động chuyên cần. Không giãi đãi. Trên con đường lữ hành vòng vo của luân hồi nghiệp chướng, hành giả có cơ man là bạn đồng hành.
 
Họ cùng ta đi chung và đứng chung trên cầu sinh tử. Thầy dạy hành giả nên đối đãi và sống với họ bằng tâm yêu thương của bồ tát, vì dù sao không bằng bồ tát, cũng nên cố gắng tối đa, khi cho người cũng là cho mình cũng là cho người khác vậy.
 
Trong va chạm của cuộc sống, tiểu vũ trụ biến đổi luôn và biến đổi không lường, vì mỗi chúng sanh tánh ý khác nhau, y vậy, các tiểu vũ trụ trong ta bà thế giới là cơ man khác biệt. Cuộc sống đời đầy lo toan và tranh cãi. Hành giả vất vả đối phó với nhiều hành giả khác nhau đại loại như:
 
Có người có tâm ý và lời nói đều thanh tịnh.
 
Có người tâm ý thanh tịnh mà khẩu hành không đẹp.
 
Có người khẩu hành đẹp mà tâm ý xấu
 
Có người lời nói, ý nghĩ và việc làm đều không đẹp, nhưng thỉnh thoảng tâm họ hé mở rộng, có ít nhiều tịnh tín, dễ thương.
 
Có người ý nghĩ luôn xấu, lời nói luôn xấu, không có môt lúc nào, một chút gì dễ thương, mà xã hội gọi là kiểu người hết thuốc chữa… nhưng vẫn có thể chữa được, vì họ vẫn đang là một con người.
 
Vậy là cá nhân ta, đối diện, sống chung, tranh luận với những kẻ đồng hành khác biệt làm sao cho ổn? Thưa là chúng ta luôn luôn song hành với những bạn đồng hành khác ý, bạn bè, anh em, vợ chồng. Mỗi cá nhân là một biệt lập, họ không thể giống ta, ta cũng không thể theo ý họ… mọi người sống bên nhau, không thể luôn phải giống nhau, trừ kiểu bạn mua một robot và lập trình nó, lại là chuyện khác xa. Không nói tới.
 
Trong trường hợp thông thường, khi khác ý, y pháp gợi ý phải bình tĩnh, định tĩnh để trở vô chánh niệm, để chế tác các năng lượng bình an, bình an cho mình và luôn cả cho người.
 
Khi xưa, phật tổ đi giảng pháp độ sinh, ngài vượt qua rong ruổi từ 8 đến 16 quốc gia dọc theo bờ sông Hằng, ngài đi thuyết pháp và gặp cơ man là chướng duyên, chứng tỏ ai ai cũng có oan gia từ vô lượng kiếp, không phải một mình hành giả đây. Nhưng qua những khó khăn, phật tổ đã dậy chúng sanh biết bao nhiêu là bài học về lòng nhân ái và tình thương đại từ đại bi.
 
Trở lại vấn đề khác biệt, người ta có thể tranh luận. Nhưng là tranh luận trong sáng, không phải là cãi nhau, mà trong tinh thần, cả hai bên, phải biết hướng về bản thể nhị nguyên, không sân hận, không sỉ vả, chấp nhận lý lẽ vận hành có xấu có tốt xen kẻ nhau ở cạnh nhau.
 
Hiện trạng khó đối mặt chỉ được giải quyết trong tinh thần lắng nghequán chiếu, mỗi bên ráng đặt ta vào hoàn cảnh của người, vì ít có ai muốn sống ác.
 
Để tránh lòng sân hận có thể phát khởi, người ta cố gắng nhìn ra điểm tốt để tránh bế tắc. Như đi lượm một mảnh vải vụn, còn tốt, rơi bên đường, mang về giặc sạch, rồi ghép nối, may y phấn tảo! Được quá đi chớ! Rác thải còn làm tưới bón cho hoa hoa tươi nở rộ ven đường kia mà.
(thầy Nhất Hạnh)
 
… Khi xưa bên lối cỏ mòn,
Sư cô gánh nước lên non tưới vườn.
Ê a câu kệ vô thường,
Rớt theo giọt nước bên đường cỏ khô.
Hôm nay lối cũ tình cờ,
Thấy Như Lai trụ bên bờ cỏ xanh!
 
Người ta có thể tranh luận, bàn thảo khéo léo, không gây sân hận và tránh thù hằn vì oán thù nên cởi không nên cột.
 
Khi tranh luận, hành giả “không đa ngôn đa quá” và hạn chế không nói, không nghĩ về lỗi của người.
 
Một cuộc tranh luận khéo léo, chân thành, không sân hận, mà với tinh thần đắc tha tâm tha nhân sẽ cho ra những kinh nghiệm tốt hơn, những chất liệu sống vui đẹp hơn, bởi lẽ cuộc sống này là vận hành của một vũ trụ nhị nguyên, đêm có mặt trăng, ngày có mặt trời, có buổi sáng có buổi tối… có vui có buồn, có nhịp nhàng đưa đẩy, có thành công có thất bại. Sau một cuộc chiến, có vô số người chết và vẫn có vô số người tồn tại. Người bắn giết cứ bắn giết, người cứu cứ tận tâm cứu độ…
 
Vậy hành giả tranh luận với hành giả bạn, để tìm ra ý kiến hay, tốt, hợp lý và tuyệt đối không lấy sân hận làm nền. Chư phật dậy phật tử học, tu, tập quán chiếu theo quán tự tại bồ tát, lắng nghe để điều phục tiểu vũ trụ.
 
Chỉ khi nào tiểu vũ trụ được an hòa trong chánh niệm, may ra hành giả mới đủ lực để hồi hướng phước đức cho tha nhân.
 
Trải qua nhiều kiếp luân hồi, mọi chúng sanh đang làm người đều nhiều ít có căn lành. Nên chư bồ tát, phật Quán Thế Âm luôn lắng nghe tiếng gọi cứu độ của thế gian với tâm nguyện hải hà: chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
 
Ngày nay, toàn thế giới, rất nhiều nơi, các nước tân tiến họ hết chỗ nhốt tù nhân, họ đang rao để thuê đất ở một quê hương khác để có chỗ nuôi và giáo hóa tù nhân vì sau cùng, may thay, họ không ghét và trừ bỏ, họ dậy dỗ lại và cứu vớt, hóa độ, để mong có ngày phật, chúa hóa hữu duyên nhân.
 
Trong hiện tại, thế giới vô vàn rối loạn, để cầu an bình, mọi hành giả chúng ta hướng tâm về hạnh nguyện của đức Đại Hành Phổ Hiền Bồ Tát:
 
Tùy hỉ công đức tùy nguyện chúng sanh.
 
Nói chung cuộc,
 
Nếu mỗi hành giả tu, học, hiểu để siêng năng quán chiếu, tùy thuận chúng sanh, hai chiều hổ tương tốt đẹp, an hòa, để cố đi đến chỗ ta và người cùng giải thoát.
 
Chưa hẳn nói là được giải thoát khỏi luân hồi lục đạo vội vã mà chi, chỉ trước mắt là được giải thoát khỏi buồn giận, sân hận và thù nghịch, đầu mối của chiến tranh.
 
Thưa là: Cảnh bình thì tâm sẽ bình
Tâm bình thì cảnh sẽ bình
Và sau cùng tâm bình thì thế giới bình.
 
A Di Đà Phật
Mùa Vu Lan 2025
Chúc Thanh
 
Chúc Thanh thành kính tri ơn thầy Thích Tâm Đức
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.