Hôm nay,  

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

06/06/202500:00:00(Xem: 1440)
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”
Thơ Kiều của cụ Nguyễn Du
 
Có một lần đó thầy kể lại chuyện rằng, thầy có một phật tử chăm chỉ tu học, đã hơn 10 năm, theo thầy đi khắp nơi, qua nhiều đạo tràng, chuyên tu chuyên nghe rất thành kính. Nhưng có một lần đó phật tử đứng gần thầy, nghe thầy giảng về phát bồ đề tâm, sau thầy có đặt một vài câu hỏi kiểm tra coi thính chúng hiểu bài tới đâu? Cô vội xua xua tay, “bạch thầy, những điều thầy giảng, con hiểu hết, con hiểu hết mà. Con nhớ nhập tâm. Nhưng đừng, thầy đừng có hỏi, bị là con không biết trả lời làm sao đâu.” Có lẽ là cô hiểu ý mà cô chưa sẵn sàng hệ thống sắp xếp thứ tự lại các ý tưởng.
 
Và may thay có một người bạn đạo, ngồi khít bên đỡ lời, “đúng vậy, nhất thiết chúng sanh giai hữu phật tánh,” điều hoan hỉ là mọi người đã chăm chú nghe, đã hiểu, đã hiểu lời thầy giảng, nhưng đa phần chúng mình không thể nói lại ngay những lờ giảng dậy, vì nói được thì phải nói rất đúng, rất hay như chánh pháp, còn không, hãy im lặng như chánh pháp. A Di Đà Phật!
 
Có người nói hay (hay viết hay cũng thế) như ông nhà văn Thanh Tịnh thì nhắc tới, ai cũng biết câu văn thân thuộc của ông: “… hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mênh mang của tuổi tựu trường… buổi mai hôm ấy…”
 
Y vậy, Anatole France, của Pháp, vẫn kể rằng: «hàng năm, khi bầu trời chập chùng le ciel agité của mùa thu và những bữa cơm chiều đầu tiên dưới ngọn đèn và những lá cây vàng úa trên cành cây rung động, lại gợi lại cho tôi những gì?”
 
Đó là hình ảnh một cậu bé lưng đeo cặp sách, vừa đi vừa nhảy những bước chân sáo băng ngang vườn Lục Xâm Bảo… vào những lúc đẹp nhứt là lúc những chiếc lá vàng rơi lả tả trên vai những pho tượng trắng trong vườn… vâng đó là hình ảnh của tôi, của chính tôi 25 năm trước…
 
Còn ngược lại, cũng có những người nói nhiều, nói lớn, mà đố có ai bên cạnh hiểu được họ muốn nói gì, họ rất gần và rất xa nhau. Người ta kể rằng mấy ông giáo sư đại học Harvard nói lại trong một lớp học, học trò ông đang tranh luận, bàn cãi về một vấn đề. Thì các sinh viên của ông ăn nói rất lưu loát và tốt giọng, nghĩa là anh này nói thiệt lớn, đối diện một cô bạn cũng nói thao thao không ngừng nghỉ, à là họ tranh luận rất logique. Nhưng họ càng nói nhiều, càng không hiểu nhau lắm vì họ ít để ý đến lời của nhau. Họ đứng rất gần, nói rất lớn giọng, mà tâm ý họ càng xa nhau… rồi kết luận không khả quan. Y như vậy, cô A kể, ai cũng thấy, trên một chuyến xe métro, mọi người ngồi kế bên nhau, mà họ rất xa nhau, vì là mỗi người đang coi một cái tablette hay Ipad, theo dõi những câu chuyện riêng tư của mỗi người... đến nỗi tai nạn xẩy ra với người này, người kia ít có hay, để trợ giúp nhau kịp thời. Tựu trung, nói nhiều quá, hay không nói, đều không tốt.
 
Một nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ ví thế giới hôm nay hơi giống một bệnh viện tâm thần, khi một người hảo tâm muốn vào vấn an những bệnh nhân, họ đối thoại và nhận thấy những câu trả lời đối đáp qua lại của đa số bệnh nhân đều có lý, đều có một hàm ý và không phải là vu vơ, không phải là điên loạn mà trả lời lung tung, nhưng, nếu ráp nối những câu trả lời đó lại, người ta không thể hiểu họ muốn nói gì?
 
Cũng tương tự như thế giới từ đông sang tây, có rất nhiều doanh nhân, danh nhân hào nhoáng, tài giỏi, họ đưa trình, thể hiện các nền văn minh hiện đại, với tất cả nghệ thuật khôn khéo để hóa trang, để mua bán chính trị và quyền lợi làm đảo lộn đa phần nền văn minh và đạo đức nhân bản gây thảm họa không ngừng cho nhân loại.
 
Điển hình như đại dịch covid vừa qua. Bao tang thương, bao khốn khổ khắp nơi nơi, rồi tất cả cứ đổ tội đời là vô thường.
 
Mà đời là vô thường thiệt, vì nhân loại đang chịu trận, chứ có làm gì chống đối lại được những kẻ nắm quyền, nhiều thế lực... nhiều ảnh hưởng và dã man. Ở một khía cạnh khác, về tâm linh, đời là vô thường.
 
Như chuyện kể sư cô Diệu Trí ở chùa Tâm Ấn, một miền hẻo lánh ở Đại Từ, vùng phụ cận xa lắc xa lơ Hà Nội.
 
Sư cô kể rằng, khi đại dịch covid vừa tạm yên yên, chùa tổ chức lễ cúng vong, bái sám và xin hồi hướng công phu cho các vong linh quanh vùng vừa quá vãng. Thì có một buổi xế trưa vào chiều, chùa có hai người khách xin ghi tên những người thân quen qua đời trong nạn covid, đặng xin độ niệm cho họ siêu thoát.
Một người thì ghi một cái danh sách tên tuổi pháp danh người thân dài thiệt dài, cả một trang giấy, sư cô đặt câu hỏi:
 
Thí chủ cầu cho nhiều người thế, chẳng hay là thí chủ phát tâm xin cúng cho cả gia đình toàn thể nội ngoại, cả bà con bạn bè, hay cả khu phố sao? Ừ thì đa tạ tâm bồ đề của thí chủ.
 
Bạch sư cô là, nói nào ngay, trước đây ngoài gia đình thân quyến, con lỡ cãi lộn, gây lộn với tụi họ nhiều lắm, nay con buồn, con nghĩ con phải xin cúng, cầu hồng ân tam bảo gia hộ cho chúng họ siêu thoát.
 
A Di Đà Phật.
 
Xong sư cô coi danh sách xin vong của người khách thứ hai, trong tờ giấy, chỉ vỏn vẹn có hai tên người, là cha cô và mẹ cô.
 
Sư cô không thắc mắc… nhưng rồi người này cũng buồn buồn kể lể:
 
Con cũng có nhiều người thân, người quen biết lắm mà giờ này, chúng họ hình như bệnh mà chết hết ráo trọi, hay chán đời dọn bỏ đi đâu xa hết rồi.
 
Con không còn nhớ được họ nữa. Nhớ chi cho mệt! Cô Diệu Tâm hơi tức cười mà cố nín lặng.
 
A Di Đà Phật. Sự thế đó gọi là vô thuờng. Rồi họ cùng im lặng. Sư cô sau đó mời họ dùng trà và cùng lễ phật... cô mời họ cùng nghe nhạc thiền, hòa tự tâm bình, bản nhạc êm dịu nhẹ nhàng phảng phất ít nhiều tư tưởng của kinh Trung A Hàm, bản kinh truyền tải thông điệp về lòng nhân ái và tình thương của đạo pháp.
 
Sư cô Diệu Tâm nhắc nhở được ít nhiều những lời giảng của thầy Thích Tâm Đức gần đây, nhứt là trong mùa phật đản, thầy nhấn mạnh về một trong bốn nguyện của tứ hoằng thệ nguyện, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
 
Thầy am hiểu phật tử đến chùa, chùa là nơi thanh tịnh thầy giảng trò nghe, bạn đạo yêu kính và hiếu thuận nhau, thì việc tu tập khá dễ dàng. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày ngoài đời, đầy rẫy tham sân si, ngược xuôi xuôi ngược, khó thuận chiều xuôi gió với nhau, do đó, chúng sanh được khuyên bảo, cứ theo y pháp, lấy kham nhẫn, khiêm cung mà hành xử đối nhân xử thế.
 
Trong cuộc sống xô bồ, người trái ý nhau cũng nhiều, người thuận ý nhau cũng khó. Thói lề nhân sinh cứ kể ra thì có nhiều loại người khác nhau, thầy và y pháp luôn nhắc nhở phật tử tùy theo căn cơ tương báo nghiệp duyên mà hành xử đối đãi. Nhưng dù hành xử theo cách nào, thì cũng nên căn cứ trên chủng tử tốt lành nhứt của một con người, một con người đang được làm người trong hiện tại là họ có, đã có một chủng tử nguyên nhân tốt lành, dù nhỏ bé, vẫn tồn tại, thị hiện, dù trong một quá khứ rất xa xôi nào đó.
 
Thêm nữa, điều cốt yếu, ta luôn phải bảo trọng gìn giữ thân thể khỏe mạnh. Thân thể khỏe mạnh. Thân thể khỏe mạnh, tâm trí sáng suốt, có trí tuệ. Thân và tâm song hành khỏe mạnh, hành giả mới hội đủ sức lực để học tập đạo pháp và tu tập giải thoát được cho mình và cho người.
 
Khi tâm trí và cơ thể sáng suốt, hành giả dễ điều phục cân đối hóa giải tham sân si. Điều phục an bình tiểu vũ trụ là điều phải làm trước, sau đó mới có thể nhìn ra cảnh quang đại vũ trụ bao bọc xung quanh. Thầy Tâm Đức luôn rao giảng:
 
Cảnh bình thì tâm sẽ bình
Tâm bình thì cảnh sẽ bình
 
Trong hoàn cảnh, cảnh không bình, mà tâm bình, là bạn tu tập đã tiến bộ.
 
Ngay khi còn trẻ, còn khỏe, thầy khuyên rằng phải siêng năng và tụ tập, vì trên con đường luân hồi vòng vo dài vô tận, không biết lúc nào đó sẽ có những chướng ngại va vấp phải, việc tu thân học pháp vốn là trọng yếu và phải năng động chuyên cần. Không giãi đãi. Trên con đường lữ hành vòng vo của luân hồi nghiệp chướng, hành giả có cơ man là bạn đồng hành.
 
Họ cùng ta đi chung và đứng chung trên cầu sinh tử. Thầy dạy hành giả nên đối đãi và sống với họ bằng tâm yêu thương của bồ tát, vì dù sao không bằng bồ tát, cũng nên cố gắng tối đa, khi cho người cũng là cho mình cũng là cho người khác vậy.
 
Trong va chạm của cuộc sống, tiểu vũ trụ biến đổi luôn và biến đổi không lường, vì mỗi chúng sanh tánh ý khác nhau, y vậy, các tiểu vũ trụ trong ta bà thế giới là cơ man khác biệt. Cuộc sống đời đầy lo toan và tranh cãi. Hành giả vất vả đối phó với nhiều hành giả khác nhau đại loại như:
 
Có người có tâm ý và lời nói đều thanh tịnh.
 
Có người tâm ý thanh tịnh mà khẩu hành không đẹp.
 
Có người khẩu hành đẹp mà tâm ý xấu
 
Có người lời nói, ý nghĩ và việc làm đều không đẹp, nhưng thỉnh thoảng tâm họ hé mở rộng, có ít nhiều tịnh tín, dễ thương.
 
Có người ý nghĩ luôn xấu, lời nói luôn xấu, không có môt lúc nào, một chút gì dễ thương, mà xã hội gọi là kiểu người hết thuốc chữa… nhưng vẫn có thể chữa được, vì họ vẫn đang là một con người.
 
Vậy là cá nhân ta, đối diện, sống chung, tranh luận với những kẻ đồng hành khác biệt làm sao cho ổn? Thưa là chúng ta luôn luôn song hành với những bạn đồng hành khác ý, bạn bè, anh em, vợ chồng. Mỗi cá nhân là một biệt lập, họ không thể giống ta, ta cũng không thể theo ý họ… mọi người sống bên nhau, không thể luôn phải giống nhau, trừ kiểu bạn mua một robot và lập trình nó, lại là chuyện khác xa. Không nói tới.
 
Trong trường hợp thông thường, khi khác ý, y pháp gợi ý phải bình tĩnh, định tĩnh để trở vô chánh niệm, để chế tác các năng lượng bình an, bình an cho mình và luôn cả cho người.
 
Khi xưa, phật tổ đi giảng pháp độ sinh, ngài vượt qua rong ruổi từ 8 đến 16 quốc gia dọc theo bờ sông Hằng, ngài đi thuyết pháp và gặp cơ man là chướng duyên, chứng tỏ ai ai cũng có oan gia từ vô lượng kiếp, không phải một mình hành giả đây. Nhưng qua những khó khăn, phật tổ đã dậy chúng sanh biết bao nhiêu là bài học về lòng nhân ái và tình thương đại từ đại bi.
 
Trở lại vấn đề khác biệt, người ta có thể tranh luận. Nhưng là tranh luận trong sáng, không phải là cãi nhau, mà trong tinh thần, cả hai bên, phải biết hướng về bản thể nhị nguyên, không sân hận, không sỉ vả, chấp nhận lý lẽ vận hành có xấu có tốt xen kẻ nhau ở cạnh nhau.
 
Hiện trạng khó đối mặt chỉ được giải quyết trong tinh thần lắng nghequán chiếu, mỗi bên ráng đặt ta vào hoàn cảnh của người, vì ít có ai muốn sống ác.
 
Để tránh lòng sân hận có thể phát khởi, người ta cố gắng nhìn ra điểm tốt để tránh bế tắc. Như đi lượm một mảnh vải vụn, còn tốt, rơi bên đường, mang về giặc sạch, rồi ghép nối, may y phấn tảo! Được quá đi chớ! Rác thải còn làm tưới bón cho hoa hoa tươi nở rộ ven đường kia mà.
(thầy Nhất Hạnh)
 
… Khi xưa bên lối cỏ mòn,
Sư cô gánh nước lên non tưới vườn.
Ê a câu kệ vô thường,
Rớt theo giọt nước bên đường cỏ khô.
Hôm nay lối cũ tình cờ,
Thấy Như Lai trụ bên bờ cỏ xanh!
 
Người ta có thể tranh luận, bàn thảo khéo léo, không gây sân hận và tránh thù hằn vì oán thù nên cởi không nên cột.
 
Khi tranh luận, hành giả “không đa ngôn đa quá” và hạn chế không nói, không nghĩ về lỗi của người.
 
Một cuộc tranh luận khéo léo, chân thành, không sân hận, mà với tinh thần đắc tha tâm tha nhân sẽ cho ra những kinh nghiệm tốt hơn, những chất liệu sống vui đẹp hơn, bởi lẽ cuộc sống này là vận hành của một vũ trụ nhị nguyên, đêm có mặt trăng, ngày có mặt trời, có buổi sáng có buổi tối… có vui có buồn, có nhịp nhàng đưa đẩy, có thành công có thất bại. Sau một cuộc chiến, có vô số người chết và vẫn có vô số người tồn tại. Người bắn giết cứ bắn giết, người cứu cứ tận tâm cứu độ…
 
Vậy hành giả tranh luận với hành giả bạn, để tìm ra ý kiến hay, tốt, hợp lý và tuyệt đối không lấy sân hận làm nền. Chư phật dậy phật tử học, tu, tập quán chiếu theo quán tự tại bồ tát, lắng nghe để điều phục tiểu vũ trụ.
 
Chỉ khi nào tiểu vũ trụ được an hòa trong chánh niệm, may ra hành giả mới đủ lực để hồi hướng phước đức cho tha nhân.
 
Trải qua nhiều kiếp luân hồi, mọi chúng sanh đang làm người đều nhiều ít có căn lành. Nên chư bồ tát, phật Quán Thế Âm luôn lắng nghe tiếng gọi cứu độ của thế gian với tâm nguyện hải hà: chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
 
Ngày nay, toàn thế giới, rất nhiều nơi, các nước tân tiến họ hết chỗ nhốt tù nhân, họ đang rao để thuê đất ở một quê hương khác để có chỗ nuôi và giáo hóa tù nhân vì sau cùng, may thay, họ không ghét và trừ bỏ, họ dậy dỗ lại và cứu vớt, hóa độ, để mong có ngày phật, chúa hóa hữu duyên nhân.
 
Trong hiện tại, thế giới vô vàn rối loạn, để cầu an bình, mọi hành giả chúng ta hướng tâm về hạnh nguyện của đức Đại Hành Phổ Hiền Bồ Tát:
 
Tùy hỉ công đức tùy nguyện chúng sanh.
 
Nói chung cuộc,
 
Nếu mỗi hành giả tu, học, hiểu để siêng năng quán chiếu, tùy thuận chúng sanh, hai chiều hổ tương tốt đẹp, an hòa, để cố đi đến chỗ ta và người cùng giải thoát.
 
Chưa hẳn nói là được giải thoát khỏi luân hồi lục đạo vội vã mà chi, chỉ trước mắt là được giải thoát khỏi buồn giận, sân hận và thù nghịch, đầu mối của chiến tranh.
 
Thưa là: Cảnh bình thì tâm sẽ bình
Tâm bình thì cảnh sẽ bình
Và sau cùng tâm bình thì thế giới bình.
 
A Di Đà Phật
Mùa Vu Lan 2025
Chúc Thanh
 
Chúc Thanh thành kính tri ơn thầy Thích Tâm Đức
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Vào cuối tháng 5 vừa qua, tôi lại có dịp quay trở về lại mái trường xưa, để tham dự buổi lễ ra trường của một cháu gái Cynthia Ngô, được lãnh nhận bằng Tiến Sĩ Luật Khoa, tại Đại Học Oklahoma City University (OCU), mà tôi là người đỡ đầu (God Father) khuyến khích cho cháu này theo học ngành luật khoa, cũng tại ngôi trường trước kia tôi học.
Dù bạn chưa từng đến Huế, nhưng đã từng nghe tiếng địa danh này qua hai câu hò quen thuộc: Gió đưa cành trúc la đà, Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương... ..
Đây là chuyện tình yêu xưa, xa xưa lắm rồi, nhưng dư âm vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến thế hệ chúng ta hôm nay… hình như con người sống nương tựa rất nhiều vào tình yêu… tình yêu cho con người nhiều ý nghĩa thiêng liêng, nhiều gia vị đậm đà đáng sống. Nếu hỏi tại sao là vậy, thì thưa rằng bên cạnh tình yêu và cuộc mưu sinh, ta còn có những gì? Bầu cử ư, bầu cử đã qua rồi, ngã ngũ rồi, không còn gì để bàn nữa. Nhưng nếu bạn muốn theo dõi hậu bầu cử, đó cũng là ưu điểm, coi thế sự cuộc đời sẽ diễn tiến ra sao những ngày sắp tới. Trước mắt, bên cạnh, xung quanh còn vây phủ đe dọa đầy chiến tranh tàn khốc hủy diệt đe dọa sự sống còn của nhân loại bằng những vũ khí của khoa học hiện đại tân tiến, cộng với lòng ác độc của tham vọng, của chính trị không phương giải quyết.
Một người bạn nói với tôi rằng có những bài thơ hoặc những đoạn văn nằm hoài trong đầu của mình từ hồi còn nhỏ, nên khi được nhắc tới thì tự động tuôn ra. Tôi thấy có lý. Mỗi khi có dịp nói chuyện với ai về lòng biết ơn, tôi cứ như theo quán tính, chia sẻ một bài thơ ngày xưa tôi học ở bậc Tiểu Học. Không hiểu vì sao! Vì mình có tính hoài cổ? Hay vì đầu óc tuổi nhỏ dễ khắc ghi? Hay vì đây là bài học bắt buộc trong sách giáo khoa? Hay chỉ đơn giản là vì bài thơ có lời lẽ giản dị mà sâu sắc?
Nắng đã tắt từ lâu. Trời đen thẫm bên ngoài. Mùa đã về qua những chiếc lá vàng rơi rải rác theo những câu thơ trong những tạp chí văn chương của thành phố. Mùa thu nằm co trên trang giấy. Heo may lẩn quẩn đầu môi những kẻ gạ tình. Không có mùa thu ngoài đời sống ở nơi này. Hơi nóng vẫn râm ran không khí. Bên ngoài vắng gió. Trong này, chiếc quạt trần lờ lững quay. Và cuộc đối thoại nhì nhằng mãi chẳng đi đến đâu.
Đi dạo trong công viên Vigelandsanlegget, trời rét căm căm. Bỗng dưng, tôi nghe tiếng nhạc réo rắt. Một nhạc công phong cầm ngồi giữa băng tuyết, đang chơi bài Sóng Nước Biếc. Thật là tình cờ kỳ diệu. Mới hôm qua, hôm kia, ở Đức, khi chậm chân nghe nhạc công chơi phong cầm ở nhà ga, trí tôi lao xao nhạc điệu bài Sóng Nước Biếc. Bươn bả chạy nhanh cho kịp giờ xe, tôi tiếc, định bụng hôm nào thuận tiện sẽ đến yêu cầu. Hôm nay, ở Oslo, tôi được nghe Waves of the Danube của nhà soạn nhạc người Lỗ-Ma-Ni, Iosif Ivanovici. Lời Việt Sóng Nước Biếc của nhạc sĩ Phạm Đình Chương thật tuyệt vời. Trong cái lạnh cắt da, giữa công viên rộn ràng du khách, tôi mơ màng.
Bạn bè hay nói tôi khó chịu từ khi còn nhỏ, như ngẫu hứng ghé nhà người bạn học nào đó trên đường đi học về. Dĩ nhiên tuổi nhỏ đâu có tính trước chuyện gì, nhưng khi tôi cảm thấy không tiện ở lại thì tôi tự ý ra về và chưa bao giờ hiểu được cảm giác đó từ đâu đến để tôi có quyết định trái ý bạn bè, mang tiếng khó chịu.
Tôi ở đâu mà tôi đến đây | Ngày xưa ai đứng ở chỗ này | Hạt sương Trời khóc ngàn năm trước | Sao còn ướt trên lưng bàn tay (tmt)
Thành phố ven quốc lộ cách đó năm cây số, trong khách sạn nhỏ, Hồng chờ người yêu đến hẹn. Đã muộn gần một ngày. Từ hồi hộp sung sướng chuyển sang lo lắng nghi ngờ, giờ đây, thất vọng hoàn toàn xâm chiếm với cảm giác rủ liệt.Trước khi rời Sài Gòn, Dũng nhắn tin cho nàng, sau đó biệt tích. Không ai trả lời điện thoại. Hồng đã viết thư để lại cho Ali, giải thích sự ra đi. Vì mẹ, nàng lấy Ali, vì tình, nàng theo Dũng. Không thể quay trở về.
Mục đích duy nhất của chúng tôi muốn viết bài này, là chỉ để thuật lại và chia sẻ cho các độc giả đọc những lời tâm sự từ đáy lòng của ông bạn chí thân cao niên này của chúng tôi, về nỗi buồn đơn độc, đêm ngày ông ra vô căn nhà ở của ông, cũng chỉ thấy có một thân một mình ông thôi.
Buổi chiều ra cổng nghĩa trang, nắng thu vàng còn đậu lại ngang tường đất thánh, những cây hạt dẻ lá đỏ lá vàng vẫn như đứng đó để chào tạm biệt, mười cây vẫn đó không thiếu một cây.
Có thể nói không ngoa, rằng bầu cử Tổng Thống Mỹ được cả thế giới quan tâm, huống chi Canada là hàng xóm kế bên, hỏi sao không “hot”?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.