Hôm nay,  

Nhà Có Hoa Ngâu Trắng

10/4/202400:00:00(View: 3278)
   
Hoa Ngau Trang       
 
1. 
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi. Nhớ lại cũng may, trời thương kẻ “khù khờ”, thời gian ở Sài Gòn mấy “nàng” kêu đâu thì tôi làm theo đó. Có lần, cô bạn Lê Thị Từ Dung rũ rê: “Em một mình đi học hội Việt-Mỹ buồn muốn chết. Anh đi theo học với em cho vui!”. Nghe đi học với người đẹp “cho vui”, là tôi gật đầu không cần suy nghĩ. Sau hơn nửa năm theo “con gái” học Anh văn, hội Việt-Mỹ bắt đầu chương trình chiếu phim không phụ đề cho học sinh xem nhằm thực hành khả năng nghe Anh ngữ. “Love Story” là phim gây sóng gió Sài Gòn lúc bấy giờ. Dựa vào cuốn tiểu thuyết cùng tên “Love Story” của Erich Segal, với hai diễn viên xuất sắc Ali MacGraw và Ryan O’Neal. Tôi đã đọc nguyên bản cuốn tiểu thuyết này, chẳng thấy gì hay ho về mặt văn chương lẫn nội dung tác phẩm. Thì chung chung cũng không khác gì tiểu thuyết bà Tùng Long của Việt Nam mình trên các nhật báo Sài Gòn. Nhưng với bàn tay “phù thủy” của đạo diễn Arthur Hiller và nhất là bài hòa tấu “Theme from Love Story” của Francis Lai, đã đưa “Love Story” lên đỉnh cao phim trữ tình của mọi thời đại. Lần đầu, sau khi coi phim xong Từ Dung hỏi: “Anh hiểu được bao nhiêu phần trăm truyện phim?”. “Chừng 40%”. “Không được. Sau hơn nửa năm nay, mà anh chỉ hiểu được 40% thôi sao? Phải ít nhất là 60% trở lên mới được”. Thế là nàng bắt tôi phải đi xem lại, lần này với nàng bên cạnh, không hiểu là phải hỏi ngay. Từ Dung rất giỏi Anh ngữ, nhất là nghe và nói. Tôi thì thuộc loại “từ chương”, đọc và viết rất khá, nhưng nghe và nói tiếng Anh còn dưới trung bình. Xem phim phần lớn là học viên hội Việt-Mỹ, nên không khí thật im lặng, mọi người tập trung nghe phần đối thoại của nhân vật. Mỗi lần không hiểu, tôi phải khều tay và nói thì thầm vào tai Từ Dung. Rồi khều tay thành nắm chặc, thì thầm bổng chốc chẳng nói được câu nào. Nụ hôn bất chợt, vụng trộm bao giờ cũng ngon nhất, suốt đời khó quên. Lần đó tôi hiểu câu truyện phim chắc không quá 20%. Lỗi tại ai cũng hổng biết?
 
Nghĩ ngợi lan man, tôi đã qua bên kia chân cầu Rạch Sỏi. Con ngõ đường đá khá rộng,  nằm đối diện phía bên kia lối rẽ vào chợ Giữa. Càng vô sâu những căn nhà càng thưa hơn và có được khoảng sân vườn phía trước. Theo đúng lời chỉ dẫn, tôi dừng lại trước căn nhà ngói nhỏ khang trang, cửa sổ sơn xanh và hàng cây cau kiểng dọc bờ đường. Đón tôi là người đàn ông trung niên, tóc hớt cao khuôn mặt khắc khổ. “Thầy Hoàng phải hông?”. “Dạ, chào chú Phước”. “Thầy Hoàng... còn trẻ quá! Thầy vô nhà...”. Trong nhà vắng lặng chừng như không có ai. Chẳng lẽ người học trò mới của tôi hôm nay là chú Phước? “Thiệt tình xin lỗi thầy Hoàng, tui phải làm như dzầy nghe. Hai đứa cháu tui học, chớ hổng phải tui đâu!”, chú Phước giọng ngại ngùng, “Thầy Hoàng theo tui, nhà tụi nó sát sau hè nhà tui”. Đúng cái nghĩa dạy “chui” mà. Tôi đã dè dặt, người học “chui” đôi khi còn dè dặt hơn. Theo chú Phước đi vòng phía sau, băng qua bờ rào nhà bên cạnh. Căn nhà vách ván, hai gian nối nhau bằng lối đi lót những miếng gạch vuông màu nâu sẫm. Mùi thơm nhè nhẹ thật quen, dễ chịu thoáng ra từ mấy chùm hoa màu trắng nhỏ phía trước nhà. Càng đến gần mùi thơm càng ngào ngạt. “Cây hoa gì mà đẹp và thơm vậy chú?”. “Hoa ngâu trắng đó thầy”. Hoa ngâu trắng, thảo nào mùi hương quen quen và ngọt dịu đến như vậy. Những cây ngâu được tỉa gọn gàng, không cao và đầy những chùm hoa trắng nhỏ bọc quanh. Tôi đã nghe qua và uống loại trà có hoa ngâu trộn lẫn, nhưng đây là lần đầu nhìn thấy loài cây hoa này. Cây hoa ngâu thật đẹp, mùi thơm dịu ngọt và thanh lịch, chủ nhà phải là người am tường về việc trồng hoa, thưởng trà.

Người đàn bà búi tóc cao, ngoài năm mươi đón tôi và chú Phước: “Chào thầy, chú Bảy Hớn giới thiệu nhờ thầy dạy tiếng Anh cho hai đứa con gái tui. Chú Bảy có nói thầy chỉ nhận dạy thêm một học trò, nhưng xin thầy Hoàng thông cảm, dạy cho hai đứa con tui một thể”. Kèm hai học sinh tiếng Anh cấp tốc, lúc này không phải chương trình của tôi. Vừa không hiệu quả nhiều, vì nếu cả hai không cùng trình độ, vừa mất rất nhiều thời gian soạn bài dạy cho hai chương trình cùng một lúc. Có lẽ thấy tôi vân phân, “Tụi nó là hai chị em. Tui sẽ trả tiền dạy cho thầy cả hai đứa một lúc”, rồi bà quay vào trong: “Tuyết à, Duyên à... ra chào thầy nè con”. Dáng dong dỏng cao, tóc buộc dài, hai người con gái tuổi trên dưới hai mươi, có chút nét giống nhau. Nét dịu dàng, khuôn mặt đều đặn dễ nhìn, Lê Thị Duyên mang cảm giác gần gũi hơn. Trái ngược Lê Thị Tuyết là chị, có nét đẹp sắc sảo, đôi mắt nhìn như “lấn áp” người đối diện. Được biết cha là một sĩ quan cao cấp VNCH, đi học tập cải tạo và mất vì trọng bệnh tận tỉnh Vĩnh Phú, miền bắc... Như bao nhiêu buổi học đầu tiên, bài kiểm soát gồm đọc, viết và văn phạm. Tuyết thiếu căn bản, Duyên khá hơn nhưng cả hai gần như đã lâu không có điều kiện thực hành. Thái độ “kênh kiệu” vì biết mình đẹp, biết mình thu hút người khác phái của Tuyết không làm tôi ngạc nhiên. Nhan sắc này, thái độ này tôi đã từng gặp, đã từng quá quen thuộc. Đây là thời gian tôi mệt mỏi, chán nãn những hệ lụy của tình trường. Chương trình tôi sắp xếp ban đầu, chậm cho cô chị và nhiều bài tập cho cô em.  Quả thật vài tuần lễ sau cả hai chị em đã có thể học cùng một bài được soạn chung. Dần dà tôi biết thêm là cả hai chị em đang cùng gia đình có một tiệm cà phê nổi tiếng giữa đường từ thị trấn đến sân bay cũ. Tôi đã nghe nhiều về quán này qua học trò và các thầy trong trường. Thì ra hai cô gái nổi tiếng xinh đẹp của quán cà phê thị trấn đang hằng tuần 3 buổi ngồi cặm cụi “học chui” Anh văn với mình. Ngoài cà phê thì quán còn có món trà ướp hoa ngâu cũng rất được nhắc nhở đến. Khách quen thường gọi một cà phê mà đôi lúc đến vài bình trà hoa ngâu. Nhưng phân lớn là những cây si hai chị em cô hàng cà phê hơn là cà phê ngon dở. Thái độ “kênh kiệu” của cô chị cũng mất dần trong quá trình học tập. Ngoài những buổi học, tôi đề nghị hai chị em nên tập nghe “lén” đài VOA, BBC phần phát thanh Anh ngữ. Có thể không hiểu gì nhiều, nhưng chỉ cần nghe cách phát âm cho quen tai là đủ.

Loáng thoáng đã hơn hai tháng, Tuyết không tiến bộ nhiều, có phần lo ra và không còn cố gắng nhiều nữa. Duyên thì khác, tập trung và cố gắng trong từng buổi học, nghe và phát âm tiến bộ rõ rệt. Tôi gần gũi và có dịp nghe Duyên tâm sự nhiều sau những buổi học. Vài lần nàng rũ tôi ra chợ tỉnh để lấy mối sữa đặc. Phần lớn là từ nhân viên các cửa hàng thương nghiệp bán ra. Chắc chắn là loại hàng “chui”, “lươn lẹo”, cắt đầu giảm đuôi từ khâu phân phối từ trên xuống các cơ quan. Giá cả lấy một bán năm cũng không có gì lạ. Như đám giáo viên chúng tôi, kiếm thêm tiền nhờ bán nhu yếu phẩm. Mọi thứ chưa đến tay thầy cô, nhất là thầy cô xa nhà sống nội trú, đã chạy ra chợ! Tuyết nhiều lần mời đến quán, ngươc lại Duyên không muốn tôi đến thăm quán cà phê viện cớ đông người, phức tạp. Phần lớn khách là dân “phe phẩy”, đám cán bộ công nhân viên ngân hàng, thương nghiệp, công an thị trấn và huyện. Công việc làm ăn thuận lợi đủ để mấy mẹ con có cuộc sống nhẹ nhàng, khá giả. Ở Duyên tôi thấy có chút gì đó của “người xưa”, đôi mắt ngập ngừng muốn nói, bờ môi như luôn chờ đón nụ đời. Một lần đi chợ tỉnh mua hàng, Duyên hỏi: “Anh Hoàng không có dự định gì sao?”. “Dự định gì?”, câu hỏi tôi đã nghe từ nhiều “đối tượng” khác nhau, nhưng cùng chung một ngụ ý. Từ vài phụ huynh của học trò tôi dạy Anh văn, từ chính những học trò trong trường, từ mai mối cho con mình trong chuyến tổ chức vượt biên vội vã. Với bao hệ lụy vây quanh, tôi thật không thể nào có “dự định” hay ít nhất không thể lúc này. “Chưa có dự định gì đâu Duyên”, tôi nhìn nàng trong ánh mắt biết ơn. “Chắc anh Hoàng đang “mắc kẹt” bởi những học trò, bởi những lớp học của anh, phải hông?”, nàng nói nhanh. Thị trấn nơi tôi dạy quả thật nhỏ như bàn tay. Ngôi trường cấp 3 duy nhất lại càng nhỏ hơn. Nhưng không hiểu sao hình ảnh ngôi trường và cái thị trấn bé nhỏ này giữ chân tôi đến như vậy. Có lẽ, Duyên nói đúng, lúc đó hay ít nhất lòng tôi chưa muốn cuộc “phân ly” và chân tôi vẫn nhiều vướng bận.   
 
Chiều hôm đó chỉ có Duyên ở nhà, “Má và chị Tuyết ra quán có chuyện cần giải quyết”, khuôn mặt thoáng chút đăm chiêu. Tách trà tỏa mùi hoa ngâu trắng cuối mùa mưa hương ngào ngạt. Buổi học chừng như cũng gượng ngập, vô hồn. Thỉnh thoảng Duyên đọc vất những từ ngữ dễ, quen thuộc. “Hay để tôi dạy bù vào hôm khác có đủ hai chị em. Hôm nay Duyên không tập trung”. Duyên không nói gì, xếp tập, gật đầu. Tôi cũng thu dọn bài tập chuẩn bị ra về. “Anh Hoàng đợi Duyên một chút”, vừa nói vừa đi nhanh vào nhà sau. Buổi chiều gió hanh hanh mùi nắng thấp. Có chút tĩnh lặng, có chút đợi chờ. Duyên ngồi xuống cạnh tôi: “Gặp anh, được anh Hoàng dạy Anh văn chắc cũng là cái duyên. Ngày mai ra sao, không ai biết trước phải hông anh?”. Tiếng Duyên ngập ngừng, khó khăn hơn: “Chắc anh biết Duyên muốn nói gì... Cảm ơn anh rất nhiều... Hôm nay Duyên muốn tặng anh món quà nhỏ. Mong anh Hoàng đừng từ chối, chê bai...”. “Duyên khách sáo quá. Món quà nhỏ thế nào, tôi cũng trân trọng”. “Vậy anh Hoàng nhắm mắt lại đi. Anh phải nhắm mắt thật chặc nghen!” Tôi nhắm mắt lại thật chặc như lời Thảo. Khoảng tối lờ mờ rơi nhè nhẹ. Bờ môi con gái thoáng trên mắt, dọc theo sóng mũi và ngừng trên môi tôi. Bờ môi thật mềm ấm, cuống quít thật chặc thật lâu. Thật lâu đủ để tôi thấy những giàn hoa ngâu trắng chơi vơi, hương ngon lịm ngọt trên đầu lưỡi muôn trùng. Văng vẳng đâu đó, có tiếng hát ai mơ hồ cho một ngày mai không định trước:

“… Que sera, sera
Whatever will be, will be
The future's not ours to see
Que sera, sera
What will be, will be… (Que Sera Sera – Doris Day)
 
2.
 
Hoa Ngau Trang 2
Tác giả giới thiệu hai tập thơ “ĐCTTTMC” và “Thao Thức” của Trần Trung Đạo (Atlanta, GA)
                                                
Nhận lời mời, tôi tham dự buổi ra mắt hai tập thơ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” và “Thao Thức” của Trần Trung Đạo tại Atlanta, Georgia. Trạc tuổi nhau nên Đạo và tôi thân nhau ngay sau lần đầu tiên gặp gỡ tại Boston vài tháng trước. Tôi đã biết Đạo từ lâu qua bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười và những sinh hoạt của Đạo trên nhiều đoàn thể, nhóm trẻ đấu tranh cuối những năm 90. “... Ví mà tôi đổi thời gian được / Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười”, tôi thường ngâm nga hai câu thơ tâm đắt. Bài thơ được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc và biết đến nhiều cả ở hải ngoại và trong nước. Rồi Đạo thành lập nhóm Cây Me, một diễn đàn “mạng” bao gồm nhóm văn nghệ sĩ, giới sinh viên trẻ cùng nhau thảo luận, chia sẻ những sáng tác, những suy nghĩ canh cánh bên lòng. Diễn đàn nhanh chóng thu hút rất nhiều người cầm bút, anh chị em thế hệ trẻ và mở ra một đường hướng mới cho nhiều diễn đàn nối tiếp. Lần lên Boston vừa qua, tôi ở nhà của Trần Trung Đạo. Đêm đó, tôi và Đạo có dịp trao đổi với nhau rất nhiều về văn học nghệ thuật, những “thao thức” về quê hương, về tuổi trẻ và những ước vọng của mai này. Đạo có giọng ngâm thơ và hát rất hay, truyền cảm. Vài giờ trước khi ra sân bay đi Atlanta thì nhận điện thoại của Trần Trung Đạo, nhờ tôi đọc bài giới thiệu cho hai tập thơ trong buổi ra mắt. Tôi chỉ có hơn một giờ để viết bài giới thiệu trên chuyến bay từ thành phố tôi ở đến Atlanta.
 
Buổi ra mắt hai tập thơ của Trần Trung Đạo thành công tốt đẹp, người tham dự kín cả hội trường. Bài giới thiệu của tôi cũng góp phần nho nhỏ, mấy anh nói “có giọng đọc tốt, truyền cảm”. Trong phần phổ biến và ký sách của Đạo, tôi có dịp gặp gỡ anh chị em văn nghệ sĩ tham dự và nhóm Lạc Việt. Thành phố Atlanta có rất nhiều gia đình cựu sĩ quan quân lực VNCH sinh sống. Tôi và nhà văn HMD có dịp gặp gỡ, tâm sự và hẹn làm một đêm không ngủ. Đêm không ngủ cho những kỷ niệm, những trải nghiệm của mỗi góc đời, mỗi số phận tưởng chừng không cùng, tưởng chừng như thất lạc. Hội trường hơi ồn ào, anh đề nghị ra bên ngoài, dễ nói chuyện hơn. Hai anh em lách đám đông đi ra, thì chợt có một cháu gái nhỏ đến hỏi: “Dạ ai là chú Hoàng ạ?”. “Là chú đây”, tôi rất ngạc nhiên khi nghe người gọi tên thật của mình. Hầu hết mọi người ở đây chỉ biết đến tôi qua bút hiệu Nguyễn Vĩnh Long mà thôi. “Có người gởi cho chú cái này”, cháu gái nhỏ đưa cho tôi một miếng giấy xếp gọn nhỏ rồi vội bỏ đi. Có chút ngạc nhiên nên nói anh HMD ra ngoài trước, tôi sẽ theo sau.

Tôi mở miếng giấy nhỏ, bên trong vỏn vẹn vài dòng chữ ngắn, thật ngắn. Thật ngắn đủ để xô đẩy ký ức tôi chìm sâu bao lớp thời gian ngỡ chừng quên lãng. Trong chập chùng những ngày tháng mênh mông, sao chợt khoắc khoải một khung trời dĩ vãng. Một kỷ niệm muôn trùng, một khuôn mặt người trong những khuôn mặt người lờ mờ trí nhớ. Tôi vội nhìn quanh, nhìn vào đám đông trước mặt. Những khuôn mặt người bao quanh của đời sống. Để tìm ai, khi chính trong tôi không một hình ảnh nào trọn vẹn? Chỉ còn chăng là một cái tên? Chỉ còn lại chăng là bờ môi, là nụ hôn, là căn nhà có hoa ngâu trắng. Trước mắt tôi là đám đông, là cuộc sống, là dòng đời trôi không ngừng bao tiếc nuối. Là em hay là ký ức của tôi. Gặp nhau hay gặp lại chính mình, bên kia bờ dĩ vãng:

“Mừng gặp lại người xưa. Xin thương gọi cố nhân.
Nhà có hoa ngâu trắng”.
 
Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.