Hôm nay,  

Ông Già Noel khóc

12/23/202309:40:00(View: 2658)
Truyện

Xmas_image 3

Không hiểu sao Ông Già Noel lại đọc được tất cả thư của trẻ em trên khắp thế giới! Vậy Ông là ai? Ông có thật hay không? Nhà của Ông ở đâu? Đó là những câu hỏi quá quen thuộc mà các bé vẫn đặt ra, làm cha mẹ của các bé khó trả lời, có chăng là những câu trả lời để tránh làm các bé thất vọng.
    Ông Già Noel cũng không trả lời được luôn!
    Bởi vì Ông biết có rất, rất nhiều Ông Già Noel ở khắp nơi. Cho nên Ông không muốn giành một vị trí đặc biệt. Ông có thể chỉ là do trí tưởng tượng mà có, mặc dù mọi người đều biết có một vị thánh được xem là Ông Già Noel nguyên thủy. Nhưng không hiểu tại sao Ông đây lại có thể đọc được thư của các bé, một khi bé đã viết thư cho Ông.
    Vâng, một khi bé đã viết thư cho Ông, thì Ông sẽ đọc được. Có bé gửi thư qua đường bưu điện, có địa chỉ, tên người gửi và người nhận, có dán tem hẳn hoi. Đương nhiên tên người nhận là Santa Claus, và bé sẽ nhận được một món quà. Nhưng cũng có nhiều bé để thư ở đầu giường, chân giường, hoặc ở trước lò sưởi, đâu đó trong nhà của mình. Và Ông cũng đọc được. Thường thì các bé khoe với Ông là mình rất ngoan, chăm học, vâng lời cha mẹ thầy cô, kế đó là trình bày một điều ước rằng Ông sẽ cho bé quà. Có bé chỉ xin một món đồ chơi. Nhưng cũng có rất nhiều bé ghi rõ cho Ông Già Noel cả một “wish list” dài. Cũng không vì bé tham, mà vì mỗi năm Ông Già Noel chỉ đến với bé một lần.
    Có một bức thư, không gửi bưu điện, mà để trên bàn học. Ông Già Noel đọc được.
    “Santa Claus thân yêu,
    “Cháu ở Newtown. Đã mười năm nay cháu không viết thư cho Ông. Không phải cháu ghét Ông, mà bởi vì cháu quá buồn. Ông có biết không, vào năm 2012, giữa tháng 12, khi cháu vừa mới gửi thư đi cho Ông thì một chuyện buồn xảy ra. Cháu không hiểu vì sao các bạn nhỏ ở tuổi lên sáu lại biến mất khỏi cõi đời này, chỉ vì một tay súng trẻ điên cuồng. Cháu không hiểu vì sao người ta coi súng đạn như trò chơi. Cha mẹ của cháu không giải thích rõ ràng cho cháu, vì thật ra họ cũng không hiểu vì sao. Noel năm đó cháu nhận được một món quà đúng như ý thích của cháu, nhưng cháu không thích nữa. Cháu nghĩ chắc Santa Claus quá bận rộn nên không chú ý đến những chuyện buồn như vậy. Ông quá bận rộn, cháu hiểu, bởi vì Ông phải lo vô số món quà cho vô số bé ở khắp mọi nơi. Và thế là cháu thu mình lại trong nỗi buồn cùng với sự ray rứt. Tại sao? Tại sao? Cháu hỏi rồi cháu tự trả lời. Vậy đó Ông, Santa Claus thân yêu!
    “Nhưng năm nay cháu đã mười bảy tuổi. Cháu giật mình. Thế mà các bạn nhỏ ngày đó, ở Newtown, không được lớn lên. Cũng như những bạn nhỏ ở Uvalde, và ở nhiều nơi khác nữa, trên đất nước này. Nghĩ thế rồi cháu lại cảm thấy đau khổ. Rồi cháu nghĩ có thể cháu phải tâm sự với Ông Già Noel, Santa Claus. Lâu nay cháu chỉ xem Ông là một ông tiên nhân từ vui vẻ. Nhưng ngay lúc này, cháu mong muốn Ông trở thành một người bạn của cháu, Ông ơi!
    “Cháu dừng đây! Cháu chỉ để thư trên bàn học, không hy vọng Ông đọc nó. Bởi vì cháu đã lớn, đã biết Ông Già Noel không có thật.”
    Ông Già Noel nghe hai mắt mình cay xé. Đã bao nhiêu năm nay Ông đọc những bức thư, không biết bằng cách nào Ông có được, ghi những lời lẽ ngây thơ vụng về. Ông nào hay có những góc thật sâu trong lòng các bé chứa những nỗi đau không diễn tả được, những nỗi ám ảnh lớn lên cùng các bé. Ông từng biết đến là đại diện cho niềm vui, cho sự hân hoan sung sướng, và vô tư như tiếng nhạc rộn ràng “Jingle Bells” vang lên mỗi dịp Noel. Ông bay đi khắp nơi, miền nào Ông cũng ghé chân. Ông vào nhà qua ống khói của lò sưởi, như truyền thuyết, đặt những món quà cạnh lò sưởi. Mà đâu phải nhà nào cũng có lò sưởi! Không sao, Ông rón rén đến bên giường, bên bàn học, thậm chí trong một góc bếp, đặt những gói quà, dành sự ngạc nhiên cho các bé khi chạy đi tìm vào sáng hôm sau. Chỉ vậy thôi.
 
***
 
    “Chào bé!”
    “Ô! Ông là Ông Già Noel?”
    “Phải rồi!”
    “Ông là Ông Già Noel thật hở?”
    “Có Ông Già Noel giả sao?”
    “Ý cháu muốn nói là Ông đến với cháu thật ư?”
    “Thật chứ!”
    “Ông cười đi!”
    “Hô! Hô! Hô!”
    Em bé sung sướng ôm chặt lấy Ông. Em cũng đã từng ôm Ông Già Noel, chụp đủ kiểu hình với Ông, chính là những Ông Già Noel trong các khu thương xá. Họ cũng biết cười “hô hô hô” như Ông vậy. Dù biết đó là người hóa trang, nhưng em cũng vui lắm, vì mỗi năm chỉ có một lần. Nhưng lần này, em tin rằng đây là Ông Già Noel thật, không phải hóa trang. Bởi vì Ông đã đến trong giấc mơ của em.
 
***
 
    “Chào bé!”
    “Sao Ông vào được đây?”
    “Ông cũng không biết nữa! Cháu mệt lắm phải không?”
    “Vâng cháu mệt lắm! Nhưng cháu cũng viết được lá thư gửi Ông rồi.”
    “Ông đã đọc. Ông sẽ tặng cháu món quà cháu muốn.”
    Ông lấy trong chiếc túi lớn ra món quà cho em. Một mái tóc! Em vui mừng đội ngay mái tóc lên đầu. Gương mặt em sáng trưng dưới mái tóc óng mượt. Em nói trong tiếng thở khó khăn:
    “Cám ơn Ông, Ông Già Noel.”
    “Cháu mau khỏe lại nhé!”
    “Vâng. Cháu ao ước khi lớn lên cháu sẽ làm việc ở địa chỉ North Pole, để mỗi năm cháu giúp mọi người đọc thư, mua quà, gói ghém gửi qua bưu điện cho các bé như cháu.”
    “Cháu sẽ làm được.”
    “Vâng. Xin cám ơn Ông, vì Ông đã vào trong giấc mơ của cháu.”
 
***
 
Và như thế, Ông đã đi vào giấc mơ của các bé. Ông cũng nhìn các bé trong thực tại, xem các bé học, xem các bé chơi, xem các bé sinh hoạt ra sao. Ông bàng hoàng khi đến những vùng đang xảy ra chiến tranh. Những em bé Ukraine co ro trong hầm trú giữa mùa đông lạnh giá. Những em bé ở Gaza lạc cha mẹ trên đường chạy loạn hay bơ vơ trong bệnh viện. Những em bé bám trên lưng cha mẹ rời bỏ mảnh đất nghèo khó bất ổn, vượt sông vượt rừng, không biết sẽ đến nơi đâu. Còn nữa, những em bé Phi châu quanh năm thiếu ăn thiếu mặc, gầy ốm trơ xương. Những em bé sau đại dịch trở thành trẻ mồ côi. Các em không có tuổi thơ, hoặc có, là một tuổi thơ bị cướp mất.
    Ông đến xứ Việt, nơi mà tên của Ông được viết thành “Ông Già Nô-en” một cách gần gũi vì dễ đọc. Dù mùa đông không có tuyết, thậm chí nóng bức, người ta vẫn thích có Ông Già Nô-en mỗi mùa Giáng Sinh.
    “Chào bé!”
    “A! Ông Già Nô-en!”
    “Bé biết Ông hở?”
    “Dạ biết. Cháu thấy hình của Ông trong mấy tiệm đồ chơi. Nhưng cháu chưa hề viết thư cho Ông. Cháu không biết chữ.”
    “Ô… Ông… hiểu rồi!”
    “Nhưng cháu cũng muốn có quà. Ông có thể cho cháu không?”
    “Có chứ! Bé muốn quà gì?”
    “Cháu không xin quà cho cháu, mà xin Ông giúp ba má cháu có việc làm khá, không phải ở nhà lụp xụp, để cháu có thì giờ đi học. Bây giờ thì mỗi ngày cháu phải đi lượm đồ ve chai, sắt thép vụn, giúp ba má có thêm tiền. Ông Già Nô-en ơi! Ông có giúp được không? Một bạn nhỏ trong khu xóm của cháu, cuối năm rồi đi lượm sắt vụn, té xuống trụ bê-tông chôn sâu dưới đất, hai mươi ngày sau mới đem lên được. Bạn ấy chết rồi Ông ơi! Cháu cũng xin Ông giúp cho tất cả bạn nhỏ như giúp cho cháu. Ông ơi! Ông có giúp được không?”
    Ông Già Noel bị hất ra khỏi giấc mơ của đứa trẻ. Ông chưa kịp hứa hẹn gì. Ông bàng hoàng, chợt nhận ra món quà mà cậu bé xin quá lớn. Ông đã thấy từng tốp người, đa số là phụ nữ và trẻ con, lang thang lượm từng cái lon, từng hộp giấy trên những bãi rác khổng lồ, hoặc tìm kim loại vụn trên đất công trường xây dựng. Các em chắc chẳng có thì giờ nghĩ về Ông Già Nô-en? Hay các em cũng có lúc dán mắt vào những tủ kính, thèm muốn những món đồ chơi, và ước ao được Ông Già Nô-en cho quà? Chiếc xe thần thoại của Ông Già Nô-en bay qua những vùng đen tối không ánh đèn, nơi có những người lớn và trẻ em kiếm sống bằng nghề lượm rác, rồi vọt ra những vùng rực rỡ, đèn sáng trưng như hội sao. Chỉ cách một cây cầu, hoặc một khúc đường, là hai cảnh đời trái ngược.
    Ông đã phân phát hết túi quà, nhưng sao Ông không nghe vui? Lòng nặng trĩu, Ông ngồi xuống trong bóng tối. Ông ngồi trong sự im lặng đáng sợ, rồi chợt nghe nhịp tim mình vang to như tiếng vọng từ lòng giếng sâu. Ôi chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai đã giày xéo trái đất này. Chưa hết, còn sự bất an của xã hội nữa. Làm sao để trẻ thơ có thể hưởng cuộc sống ấm êm? Ông không phải là Thượng Đế để làm nên sự thay đổi hoàn toàn. Ông cảm thấy nước mắt mình rơi xuống.
    Bỗng dưng Ông ao ước có một Ông Bụt, một Ông Bụt trong truyện cổ tích Việt, hiện ra và hỏi Ông: “Vì sao lại khóc?” Ồ! Ông đâu phải là trẻ nhỏ. Ông chưa từng nói lên niềm ao ước của mình. Cả đời ông chỉ biết đáp lại niềm ao ước của các trẻ nhỏ. Ông không có tuổi, hay đã có cả ngàn năm? Santa Claus đã chết, nhưng biểu tượng Ông Già Noel vẫn được nuôi sống mãi. Tuy hình ảnh đó được nhân lên, được thương mại hóa, các Ông Già Noel có mặt ở mọi nơi mỗi dịp Giáng Sinh về, nhưng đó phải chăng là do con người vẫn muốn tôn vinh một biểu tượng của lòng rộng lượng và nhân ái? Ông mong là như thế.
    Ông cho tay vào chiếc túi lớn Ông thường vác trên lưng. Ông muốn tự tặng cho mình một món quà. Chỉ còn lại một viên kẹo, không biết từ gói quà nào rơi ra. Viên kẹo như con cá bống sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm, một cô Tấm ngoan hiền nhân hậu trong truyện cổ tích Việt, chỉ biết thương yêu, không biết trả thù. Như còn sót lại cho Ông một niềm hy vọng!

 

– Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Noel 2023

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.