Hôm nay,  

Tọa Độ Của Sinh Thực Khí

15/12/202300:00:00(Xem: 4474)
Ann Phong, Blue Layers. acrylic, 20x16, 2009.1
Tranh Ann Phong

Nguyễn chết lúc 3 giờ sáng. Tôi được tin trên Facebook. Nguyễn bằng tuổi Ba tôi. Ba tôi 85 tuổi, ông đang rất yếu. Nguyễn 85 tuổi, Nguyễn làm thơ. Ba tôi không làm thơ, hoặc có làm thơ nhưng chưa từng là thi sĩ.

***

Cha con tôi ít khi nói chuyện với nhau, từ hồi tôi bắt đầu lớn. Chắc do khắc khẩu. Trừ khi có chuyện gì cần thiết phải trao đổi ra, thì ít có lúc “tâm tình” với nhau, như bố và con, hay như hai người đàn ông.

Dịp này, tôi về chăm sóc ông và kẹt lại Vũng Tàu, có lẽ đây là thời gian chúng tôi thật sự ở với nhau trong suốt trên 50 năm qua. Ông giờ đã rất già, tôi bắt đầu già. Chúng tôi chỉ có thể nói chuyện với nhau thẳng thắn và chân tình khi không có ai. Đúng vậy, chỉ khi không có ai ngoài hai chúng tôi.

Buổi tối, chúng tôi ngồi ngoài sân, bên gốc cây nhãn. Tôi rót bia cho ông, tôi uống Whisky. Ông nói hơi khó khăn vì phát âm không được dễ dàng, nhưng ý tưởng rất sáng suốt. Tôi gợi chuyện cho ông nói, không như nói với đứa con trai đầu lòng, mà như một ông bạn già nói với đứa bạn trẻ hơn. Về đủ thứ chuyện, từ chính trị, chiến tranh, gia tộc, quê nhà, đánh bạc, tín ngưỡng, rượu chè, bằng hữu, vượt biên, kháng chiến, nghề dạy học, đàn bà, bắn nhau, ném lựu đạn, cộng sản-quốc gia, thời thơ ấu, Huế, Thượng đế, đức tin, Công giáo-Phật giáo, giấc mộng văn chương thời mới lớn, tập võ, trại tị nạn, nghề thông dịch viên, chống trả với hai thằng cướp xe gắn máy.... và Mẹ tôi, và cái chết.

Tôi đã dùng một số câu chuyện do ông kể cho việc viết của mình. Tôi nghĩ, may mà có thời gian này, nếu không thì sự cách biệt của hai cha con tôi có thể là mãi mãi.

Ba tôi về Việt Nam, như cách thay đổi môi trường sống cho đỡ nhàm. Mùa Đông ở Bắc Mỹ quá lạnh đối với ông, mà Sài Gòn thì quá ồn, nóng, và bụi, nên chúng tôi quyết định ông nên ra Vũng Tàu. Tôi về theo để chăm sóc và cho ông bớt buồn. Nỗi buồn của tuổi già là thứ chất lỏng, sánh đặc, mà vô hình, từ ông chảy xuôi xuống tôi. Đọng lại. Tôi nghĩ lâu ngày nó sẽ kết tinh lại thành thể rắn, trong tôi, rồi lại tan ra, sánh đặc, chảy xuôi xuống con tôi.

Chúng tôi thuê được căn nhà ba phòng ngủ, trong một khu khá yên tĩnh, cách Bãi Sau chừng 15 phút đi bộ. Hằng ngày, tôi đẩy xe lăn cho ông ra ngắm biển. Không hiểu khi ngồi trước biển thì ông nghĩ gì, nhớ gì. Ông từng đóng quân, hành quân khắp vùng Vũng Tàu - Bà Rịa trong thời chiến, từng giúp quân đội của đồng minh Úc sang Việt Nam tham chiến huấn luyện cho binh sĩ Địa Phương Quân của miền Nam. Thỉnh thoảng, khi những hồi ức thức giấc, ông chỉ tay mông lung ra ngoài khơi, bảo rằng nơi này tao đã từng kéo vào bờ hai cái xác chết vô danh, sình chương, trôi giạt ngoài khơi, kéo vào làm phước; còn dưới rặng cây kia đại đội của tao bị Việt Cộng phục kích, bên nó chết ba, bên tao chết sáu. Cuộc chiến Bắc Nam đã chấm dứt gần nửa thế kỷ nhưng nó vẫn thường xuyên mai phục và tấn công ông trong những đêm cô quạnh ở Seattle lạnh giá, hay những ngày dài trong trại tị nạn ở Thái Lan chờ tới lượt định cư, hay những chiều trên bàn nhậu tưng bừng của ông Việt kiều về du lịch ở Cà Mau. Ba năm trong quân ngũ, sáu tháng thuộc binh chủng Biệt Động Quân, chứa nhiều ký ức hơn tất cả thời gian còn lại trong đời. Bắn M-16, ném lựu đạn, và đếm xác chết của cả hai bên.

“Có bao giờ Ba bắn trúng Việt Cộng không?”, tôi hỏi. “Ba không biết. Chắc là không trúng thằng nào. Chưa bao giờ tận mắt tao thấy mình giết ai, nhưng tao thấy họng súng khạc lửa khi nó bắn mình… Còn sống tới giờ là phúc đức ông bà để lại!” Sau thế hệ của ông nội thì gia đình tôi không có ai chết vì chiến tranh. Ở tù thì có, anh em tôi ở tù lai rai, hết đứa này tới đứa kia.

Đêm tôi ngủ cùng phòng với Ba để trông chừng và giúp nếu ông cần. Có khi ngủ quên, có khi không kiểm soát được việc vệ sinh cá nhân, ông đái luôn trên giường chứ không kịp vào toilet. Có khi ông kịp thức giấc, lồm cồm ngồi dậy, chống gậy lần mò vào toilet một mình vì không muốn đánh thức tôi, tuy nhiên việc này rất nguy hiểm vì ông thường mất thăng bằng, rồi ngã. Trước đây ông nằm nệm mút, loại này hút nước, thấm nước tiểu thì rất bẩn, sau này tôi tìm mua loại nệm hơi bằng cao-su không thấm nước, nhưng với loại nào thì cũng ngập ngụa nước tiểu, ướt đẫm cả áo quần, ra trải giường, và chăn. Vậy là phải đưa ông vào tắm, thay đồ mới, có đêm hai ba lần, cả hai cha con không ngủ ngáy gì được. Tôi mang cho ông loại tã dùng cho người già, nhưng vẫn rất bất tiện, chỉ hai lần đái là tã ướt mèm chẹp nhẹp, phải thay tã mới. Giải pháp sau cùng là một điều may mắn. Tình cờ, tôi phát hiện ra trên mạng, rồi đặt mua, một loại dụng cụ giúp nam giới đi tiểu mà không phải ngồi dậy, cứ tè thoải mái ở tư thế nào cũng được, dù nằm, ngồi hoặc đứng, mà không vấy bẩn. Nó là một cái bình cao-su, thông hai đầu, miệng tròn, bằng 2/3 chiều dài của chai bia. Một đầu có hình dạng như cái cổ chai, hơi cong cong, để úp khít vào sinh thực khí. Đầu kia thắt lại, nối với một ống nhựa trong như loại dây truyền nước biển, dài khoảng một mét, nối với một cái túi có dung tích chứa được một lít nước. Tất cả dụng cụ này được ràng dây vải ngang bụng để giữ cho khỏi rơi, và giữ cho vị trí của con cu cố định, nó phải luôn nằm trong cái cổ bình, để dòng nước tiểu không trào ra ngoài. Muốn chắc ăn thì trước khi đái người ta phải với tay xuống, vịn giữ cái bình cho nó úp khít vào con cu.

Ban đầu, Ba tôi cảm thấy khó chịu, bất tiện, vì ngoài việc nó lủng củng, lấn cấn, do phải luôn mang theo bên người, thì nó còn gây cho ông một thứ phức cảm, đúng hơn là một thứ mặc cảm, rằng ông đang trở nên bất lực với chính thân thể của mình. Khi mang bình vào thì rất khó mặc quần, vì cộm, ống quần đùi không đủ rộng để chứa nó. “Đái cũng không xong thì còn làm ăn được cái mẹ gì nữa. Tao buồn ghê.”, ông than. Khi già, con người trở lại làm hài nhi, hay tệ hơn vậy nữa, với một thân thể bất khả khiển dụng. Trò chuyện với tôi, có lúc ông xưng Ba, có lúc ông xưng tao, tùy hứng, và gọi tên tôi thay vì gọi là “con”.


Vốn là người chỉnh tề, thậm chí còn hơn cả chỉnh tề. Thời còn trai trẻ ông luôn ăn vận đẹp nhất, trẻ trung nhất, bất cứ khi nào có thể. Ngay cả sau 1975, để giữ cho cả nhà khỏi chết đói, Mẹ tôi phải mang bán dần những chiếc áo dài đẹp của bà, và áo vest, cà-vạt, sơ-mi, quần tây của ông, thì ông vẫn giữ lại một bộ khá tươm tất để mặc khi có dịp. Cái thời cả nước đều lẹp xẹp dép nhựa hay dép lốp, áo bỏ ngoài quần, khăn rằn quấn quanh cổ theo kiểu cán bộ lãnh đạo xuề xòa với nhân dân, thì ở vùng cư xá nơi chúng tôi sống, người ta thường thấy ông và ông bạn, là đạo diễn Kỳ, lửng thửng đi uống cà phê với phong cách rất phong lưu. Hai ông vẫn áo sơ-mi trắng bỏ vào quần, thắt lưng da, giày đen tuy sờn cũ nhưng cũng là giày da, thứ dấu vết của tàn dư tư bản. Bác Kỳ dáng người cao, đi thẳng lưng, đường hoàng, khiến những người chưa biết ông phải ngoái đầu nhìn theo. Kẻ ngưỡng mộ, kẻ bực dọc. Quán cà phê của một thiếu phụ khá đẹp dựng bên vĩa hè, bàn gỗ ghế đẩu, tựa vào vách tường có kẽ dòng chữ “Nhân Dân Cảnh Giác Với Bọn Đầu Sỏ Phản Động!” Bọn thanh niên thường gọi là quán “Đầu Sỏ”. Tôi không biết cô chủ quán Đầu Sỏ có yêu ai trong hai người không, nhưng cô chăm chút cho hai ly cà phê đen và mấy điếu thuốc lá lẻ của họ một cách trân trọng hơn hẳn bọn khách đàn ông loàng xoàng, những kẻ xu thời đừng hòng được cô để mắt đến. Cô vẫn giữ được nét kiêu kỳ, đài các. Tôi không nhớ là quán bị dẹp lúc nào. Thời ấy, người ta hiện ra, yêu nhau, rồi biến mất. Biến mất lặng lẽ. Vài năm sau Ba tôi vượt biên. Gia đình bác Kỳ cũng đi định cư theo diện ODP. Sau khi ở Washington D.C vài năm thì bác qua đời.  Thỉnh thoảng họ gọi điện thoại viễn liên thăm nhau, nhưng hai người bạn không có dịp gặp lại lần nào.

Ở truồng, ban đầu Ba tôi mắc cỡ, nhưng rồi cũng quen.  Từ khi có cái bình tiểu, chúng tôi đỡ khổ rất nhiều. Ông mang nó cả ngày, chỉ trừ khi ngồi ăn hay khi tôi đẩy xe lăn cho ra ngoài đi chơi. Ông nằm trong phòng, tôi ngồi viết và đọc ở ngoài sân, dưới bóng cây nhãn. Cứ khoảng một giờ, tôi vào kiểm tra. Điều đầu tiên là xem ông còn thở không. Tôi ý thức rất rõ rằng ông có thể “đi” bất cứ lúc nào. Tôi không muốn trong giây phút cuối cùng, giả biệt trần gian, ông phải đi một mình. Tôi mong ông đi êm thắm, nhẹ nhàng. Tôi muốn nắm tay ông trong lúc ấy. Những gì cần nói với nhau thì chúng tôi đã nói hết rồi. Chẳng còn gì để gọi là trăn trối. Tôi từng đôi lần chứng kiến cảnh người ta hấp hối. Có lúc cơn hấp hối kéo dài cả ngày. Điều khó chịu nhất là sự níu kéo bất lực của thân nhân hơn là sự ra đi của người đang chết. Tôi tưởng tượng mình sẽ phải làm gì trong giây phút đó. Có lẽ sẽ cầm tay ông và chúc ông đi vui, và bình an. Nếu có kiếp sau thì không chừng chúng tôi sẽ tái ngộ. Tôi sẽ không đọc kinh. Không hẳn là do tôi không tin vào ơn Cứu Chuộc, mà tôi tin rằng Chúa sẽ nhận cha tôi cho dù có đọc kinh và gọi Ngài hay không. Tôi chỉ không muốn mình xao lãng hay chia sẻ với ai trong giây phút sau cùng, kể cả với Chúa. Nhìn lồng ngực ông còn phập phồng, tôi yên tâm, ừ vậy là chưa tới lúc, rồi tôi giở cái mền lên kiểm tra xem dây nhợ có an toàn và hiệu quả không, dòng nước tiểu có chảy xuống bình không, nếu có giọt nào rơi ra thì lấy khăn giấy lau cho sạch. Tôi thường hài lòng. Để cho ông bớt cảm giác khó chịu khi mang bình vào người thì tôi thường nói đùa để làm cho ông quên việc khó chịu ấy đi.

“Đố Ba người ta gọi cái này là những tên gì?” Tôi nhẹ nhàng nâng cái vật thể đã góp phần tạo ra sự hiện hữu của mình trong cuộc đời lên. Giờ đây tuy mềm oặt, rũ rượi, bèo nhèo nhưng nó vẫn có kích thước to hơn 90% con cu của những người Việt có vóc người trung bình mà tôi có dịp thấy. Đám lông quăn queo, xơ xác, lốm đốm chuyển từ màu đen sang nâu và bạc, phần lớn là bạc. Làn da mỏng trên cái chóp tròn nổi lên vệt xám, sậm màu như màu của một cái bớt. Mẩu da bao quy đầu thun lại nhùng nhằng. Ngày xưa, hẳn ông từng ngắm và có thể đã mân mê con cu của tôi, cái vật thể sẽ làm nên sự truyền giống cho gia tộc; giờ thì tôi mân mê con cu của ông, lòng dấy lên một thứ cảm giác và ý nghĩ kỳ lạ, nó không phải chỉ là của ông, mà còn là của tôi. Tôi chẳng những đồng sở hữu nó với Ba tôi, mà còn sở hữu, còn chịu trách nhiệm với cả những lịch sử của nó, niềm kiêu hãnh từ nó, và cả những rắc rối về đạo đức và tập quán do nó.

“Con cu… con cặc… dương vật… sinh thực khí…” Ông trả lời.
“Còn gì nữa?”
“Con giống…”
“Còn gì nữa?”
“Đại bác!”
“Đại bác hả?”
“Ừ, đại pháo. Loại chuyên dụng để công thành.”
“Rồi, thì đại bác. Còn gì nữa?”
“Chịu. Ba không nhớ nổi.”

Ông Cố tôi chỉ có một người con là ông Nội tôi. Ông Nội có hai người con, một là Ba tôi, một là cô tôi. Giờ, Ba tôi có đến chín đứa con và chắc sẽ có hàng chục đứa cháu. Tất cả khởi đầu là từ cái khúc gân thịt dài hơn một lóng tay này mà ra.

“Con gọi nó là hung khí nhé?”
“Cái gì?”
“Hung khí!”
“Hung khí là gì? Sao lại là hung khí?”
“Hung khí là khí cụ được sử dụng để gây án. Ba từng mang cái hung khí này đi gây án khắp nơi!”

Thấm ý, ông bật cười ha hả. “Mày chơi đểu tao hả, thằng con?” Không mấy khi cha con tôi có những lúc cười đùa như vầy.

“Ngày xưa Ba còn gọi con cu của con là củ thìu biu, nhớ không?”
“Nhớ.”
“Củ thìu biu là củ gì?”
“Là củ cặc.”
“Vì sao gọi nó là thìu biu?”

Ông trầm ngâm một lúc, “Chắc cũng giống như ông Hoàng Cầm gọi lá diêu bông, có điều nó là củ chứ không phải là lá. Mà củ thì vừa thơ mộng vừa rắn chắc hơn là lá!”

***
Nguyễn qua đời. Nguyễn sinh cùng năm với Ba tôi, năm con trâu. Nguyễn nằm liệt giường một thời gian dài. Khi xác chưa lạnh thì lũ kiến bò quanh thành những vệt dài trên vách đe dọa. Người thân lấy bốn tập thơ của Nguyễn kê dưới bốn chân giường. Lũ kiến bu quanh nhưng không có con nào bò lên các tập thơ. Nguyễn không nhắm mắt dù ai vuốt cũng không nhắm. Sau cùng, người con gái mà ông thương nhất xé một trang trong cuốn thơ đầu tay của ông phủ lên mặt. Dưới những dòng thơ là đôi mắt thao láo, vô hồn.

***
THẬN NHIÊN
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tôi bị bắt tại huyện Tân Hiệp chiều ngày hai mươi, giáp Tết. Lý do, mang theo hàng không giấy phép. Thế là tiêu tan hết vốn lẫn lời mà tôi chắt chiu, dành dụm gần cả năm nay. Nhớ đến mẹ và gia đình trong những ngày Tết sắp tới, tôi vừa buồn vừa tức đến bật khóc. Xui rủi, biết trách ai. Tiễn, anh phụ lơ, đã cẩn thận cất dấu hàng cho tôi, vã lại anh cũng quá quen biết với đám công an trạm kiểm soát. Không ngờ chuyến nầy bọn công an tỉnh xuống giải thể đám địa phương, nên tôi bị “hốt ổ” chung cả đám. Đây không phải là lần đầu bị bắt, nhưng lại là lần đầu tiên tôi đi chuyến vốn lớn như vầy. Năm ký bột ngọt, năm ký bột giặt, hơn chục ống thuốc cầm máu và trụ sinh hàng ngoại. Bột ngọt, bột giặt không nói gì, nhưng hai thứ sau hiếm như vàng mà giới “chạy hàng” chúng tôi gọi là “vàng nước”. Nên thay vì đưa về khu tạm giam huyện chờ lập biên bản, hồ sơ xét xử tôi nghe bọn công an thì thầm, bàn tán giải thẳng về khám lớn tỉnh Rạch Giá.
Quỳnh Lâm báo tin sẽ đến Đức trong tuần lễ đầu tháng 10. Nisha vội vàng thu xếp “sự vụ lệnh“ để công du sang Đức. Nisha lo đi chợ sắm sửa đầy mấy tủ lạnh, tủ đá, để mấy cha con sống còn trong thời gian nữ tướng đi xa. Chúng tôi hồi hộp quá, ngày nào cũng thư từ, nhắn nhủ, dặn dò đủ điều tẳn mà, tẳn mẳn. Điện thư qua, về hoa cả mắt. Thư nào chúng tôi cũng nhắc nhở nhau giữ gìn sức khoẻ, vì đứa nào cũng “lão” rồi. Khi gặp nhau, tụi tôi nhất thiết phải đầy đủ tinh thần minh mẫn trong thân thể tráng kiện. Có hôm, đến trưa, chưa nghe tăm tiếng, tôi sốt ruột, xuất khẩu làm thơ... bút tre:
Sống ở đây an toàn và bình an gần như một trăm phần trăm trong hiện tại và tương lai, nhưng không thể bình thản hóa quá khứ. Cuộc chiến khốc liệt giữa thiên thần và ma quỉ luôn ám ảnh ông. Có những điều gì thao thức, âm thầm nghi hoặc, nhoi nhúc sâu thẳm trong ông. Lòng tin vào ông Gót có phần nào lung lay. Đông cảm thấy có lỗi khi nghi ngờ bố, người đã giúp đỡ, bảo vệ ông và Vá. Nhưng nghi ngờ là một thứ gì không thể điều khiển, không thể đổi đi, không thể nhốt lại. Nó vẫn đến, mỗi lần đến nó vạch rõ hơn, nhưng vẫn mù sương như đèn xe quét qua rồi trả lại sương mù.
Trâm gật đầu nhè nhẹ. Đoan nghĩ thật nhanh đến một cảnh diễn ra mỗi đầu tháng trong sân trường. Nơi đó, các sinh viên xúm xít cân gạo và các loại “nhu yếu phẩm”, mang phần của mình về nhà. Rồi thì trong khu phố, cảnh những người dân xếp hàng “mua gạo theo sổ” cũng diễn ra mỗi ngày. Nói “gạo” là nói chung thôi, thật ra trong đó phần “độn” chiếm đa số. Phần “độn” có thể là bo bo, có thể là bột mì, cũng có thể là khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô. Nồi cơm nấu từ gạo và một thứ khác được gọi là nồi “cơm độn.” Mỗi ngày hai bữa cơm độn. Bo bo thì quá cứng vì vỏ ngoài chưa tróc, nấu trước cho mềm rồi cho gạo vào nấu tiếp, trở thành một “bản song ca” chói tai. Khoai lang hay khoai mì xắt lát phơi khô thường bị sượng, ghế vào cơm rất khó ăn. Chỉ có bột mì tương đối dễ ăn hơn, vì người nấu có thể chế biến thành bánh mì, nui hay mì sợi
Mùa đông, tuyết đóng dầy trên mái nhà. Ấy là lúc bà ngoại cũng lo là lũ chim - những con chim của ngoại - sẽ chết cóng. Nhưng bà không biết làm gì để cứu chúng nó. Ngoại đi tới đi lui từ phòng khách qua nhà bếp. Thở dài. Rên rỉ. Rồi lẩm bẩm, “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng.” Bà ngoại tội nghiệp những con chim chết lạnh. Sinh nhật ngoại, chúng tôi chung tiền mua quà. Một con sáo trong chiếc lồng tuyệt đẹp. Bà ngoại cưng nó hơn cưng chị em tôi. Cho nó ăn, ngắm nghía bộ lông đầy màu sắc của nó. Chăm chú lắng nghe tiếng hót véo von lúc chớm nắng bình minh và buổi hoàng hôn nắng nhạt. Rồi một buổi sáng nọ tiếng chim thôi líu lo. Bà ngoại chạy ra phòng khách. Hấp tấp tuột cả đôi guốc mộc. Con chim sáo nằm cứng sát vách lồng. Hai chân duỗi thẳng. Cổ ngoặt sang một bên. Con chim của ngoại đã chết. Bà ngoại buồn thiu cả tuần lễ. Bố mẹ tôi bàn tính mua con chim khác. Bà gạt ngang.
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.
Sáu tuần. Nàng đã đi ra khỏi mụ mị từ trong mối tình hiện tại của mình. Cô bạn gái hỏi "Tỉnh chưa?". Tỉnh rồi, nhưng tỉnh không có nghĩa không yêu anh ấy nữa, chỉ là không còn mụ mị mê muội nữa thôi...
Trong bóng tối dày đặc, dọ dẫm từng bước một, hai tay vừa rờ vào hai bên vách hang động, vừa quơ qua quơ lại trước mặt, dù cố mở mắt lớn, chỉ thấy lờ mờ, nhiều ảo ảnh hơn là cảnh thật. Cảm giác bực bội vì đã trợt té làm văng mất ba lô, mất tất cả các dụng cụ, thực phẩm và nước uống cần thiết. Bối rối hơn nữa, đã rớt chiếc đèn bin cầm tay, mất luôn chiếc đèn bin lớn mang bên lưng và máy liên lạc vệ tinh có dự phòng sóng AM. Giờ đây, chỉ còn ít vật dụng tùy thân cất trong mấy túi quần, túi áo khoát và hoàn toàn mất phương hướng. Chỉ nhớ lời chỉ dẫn, hang động sẽ phải đi lên rồi mới trở xuống. Trang nghĩ, mình có thể thoát ra từ lối biển. Là một tay bơi có hạng, nàng không sợ.
Cô người Nha Trang, lớn lên và đi học ở đó. Cô sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, mẹ cô đi dậy học, ông thân cô cũng là hiệu trưởng một trường trung học lớn ở Phú Yên. Năm 22 tuổi, cô học năm cuối đại học văn khoa Huế thì gặp gỡ chú Hiếu trong một dịp hội thảo sinh viên do các biến động thời cuộc miền Trung bắt đầu nhen nhúm. Chú Hiếu lúc đó đang theo cao học luật. Họ thành đôi bạn tâm giao tuổi trẻ, sau thành đôi uyên ương. Ba năm sau khi Trang vừa 25 tuổi, Hiếu đã nhậm chức chánh án tòa thượng thẩm.
Nhà trẻ kế bên bệnh xá. Trong góc một trại giam. Nhà trẻ có sáu đứa con nít. Bệnh xá có mấy bệnh nhân già. Coi bệnh xá là một tù nam nguyên là y tá ngoài đời. Coi nhà trẻ là một tù nữ án chung thân. Coi cả hai nơi ấy là một công an mà mọi người vẫn gọi là bác sĩ! Sáu đứa con nít đều là con hoang. Mẹ chúng nó là nữ tù bên khu B, đừng hỏi cha chúng đâu vì chúng sẽ không biết trả lời thế nào. Cũng đừng bao giờ hỏi mẹ chúng nó về chuyện ấy vì rằng đó là chuyện riêng và cũng là những chuyện rất khó trả lời. Thảng hoặc có ai đó được nghe kể thì lại là những chuyện rất tình tiết ly kỳ lâm ly bi đát… chuyện nào cũng lạ, chuyện nào cũng hay
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Ông Hải đứng trước của nhà khá lâu. Phân vân không biết nên mở cửa vào hay tiếp tục đi. Tâm trạng nhục nhã đã ngui ngoai từ lúc nghe tiếng chim lạ hót, giờ đây, tràn ngập trở lại. Ông không biết phải làm gì, đối phó ra sao với bà vợ béo phì và nóng nảy không kiểm soát được những hành động thô bạo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.