Hôm nay,  

Gia tài

07/04/202318:57:00(Xem: 4813)
Truyện

Meo-Fumika Koda

 

Cô tôi chết, gia tài của cô để lại cho con mèo. Thỉnh thoảng, đọc báo, thấy có một nhà giàu nào đó, chết, để lại gia tài kếch sù cho thú cưng, tôi cho rằng họ là những người lập dị và keo kiệt. Cô tôi, chắc chắn là keo kiệt. Cô chết tôi không dự đám tang. Chỉ biết cô qua đời vì nhận được lá thư gửi từ văn phòng luật sư quản lý tài sản của cô. Thư đòi nợ.
     Mười năm trước, tôi mượn tiền của cô. Tôi thiếu nợ xã hội đen và tôi biết hậu quả nếu không trả nợ đúng kỳ. Do đó tôi khẩn cầu với cô.
     “Xin cô giúp cháu. Họ bảo nếu cháu không trả số nợ này họ sẽ báo với cơ quan cháu làm việc.”  Tôi làm bảo vệ cho một ngân hàng. Ông Giám Đốc có họ hàng xa ba năm vói không tới với bên nhà nội. Tôi được cho ở trong một căn nhà nhỏ với điểu kiện là tôi phải làm công việc bảo vệ và chạy vặt 16 giờ một ngày 6 ngày một tuần. Nếu người ta biết tôi nợ nần vì cờ bạc là tôi sẽ bị đuổi việc. Và mất việc là mất chỗ ở.
     Cô không muốn cho tôi mượn tiền, nhưng nợ xã hội đen thì coi như tôi rơi vào chỗ chết. Cô không thể không cứu.
     “Cháu cần bao nhiêu?”
     Nợ năm ngàn, nhưng mỗi lần cầu cứu là một lần khó khăn nên tôi tăng số tiền muốn mượn để dễ xoay trở.
     “Dạ, hai chục… ngàn. Đô la!”
     “Cô sẽ ký giấy đứng đơn giúp cháu mượn tiền ngân hàng. Năm ngàn thôi. Và cháu phải ký giấy nợ có thị thực chữ ký ở văn phòng luật sư.”
     Tôi trả nợ được vài tháng mỗi tháng vài trăm, rồi tôi lặn mất luôn. Tôi biết. Cô biết trước là tôi sẽ quỵt nợ. Và cô trả nợ giúp tôi.
 
Tôi đến văn phòng luật sư. Thay vì trả nợ, tôi mang tất cả giấy tờ chứng minh tôi là cháu gọi cô tôi bằng cô. Tôi đòi kiện con mèo vì tôi là người trong dòng họ chính thức. Luật sư của tôi và của cô sau khi bàn cãi cẩn thận đều đồng ý là tôi không có hy vọng thắng vì di chúc của cô rất rõ ràng và đúng theo pháp lý. Cô có xác nhận tôi là cháu của cô lúc còn sống nhưng cô không để gia tài cho tôi. Tuy vậy, luật sư của cô nói:
     “Bà Lê, theo di chúc, muốn chúng tôi giúp bà chọn một hội nuôi thú vật, hoặc một người thật sự yêu thương thú vật, để nuôi con mèo của bà. Rơi là một con mèo bị mẹ nó bỏ rơi. Bà nhặt nó trên hè phố, mang về nuôi. Bà muốn con mèo không những được nuôi nấng, mà còn được thương yêu. Yêu cầu của bà Lê là con mèo được âu yếm, vuốt ve, được cho phép ngồi trên lòng, và ngủ chung giường nếu con mèo muốn như thế. Di chúc của bà Lê dặn chúng tôi, những người quản lý tài sản của bà, trả lương hằng tháng cho người nuôi con mèo, trả tiền thức ăn và thuốc men cho mèo. Nếu người nuôi mèo không có chỗ ở, có những chung cư không cho phép nuôi mèo, tôi có thể thu xếp để người ấy ở trong cửa tiệm bán đồ cũ của bà Lê.”
     Tôi thấy giải pháp này khá tiện lợi. Tôi tránh được chuyện kiện tụng, tốn tiền luật sư mà có thể bị thua kiện. Còn bên kia tránh được chuyện phiền toái, mất thì giờ, mà thì giờ của luật sư thì đắt gấp mấy lần lương của tôi.
     Tôi ngạc nhiên vì chính ông luật sư đến gặp tôi để giao chìa khóa, thay vì gửi một nhân viên dưới quyền, ở cửa tiệm bán đồ cũ của cô tôi. Cửa tiệm có bảng hiệu “Second Hand” sơn màu đỏ sậm. Tiệm bán bàn, ghế, sa lông, sách, đèn, máy ảnh, quần áo và những đồ lỉnh kỉnh như đồ chơi, đồ nữ trang đã dùng nhưng còn tốt. Đồ đạc khá tươm tất, ngăn nắp. Tầng dưới là cửa tiệm. Tầng trên là căn gác lửng có tường kính, phòng ngủ, và phòng làm việc. Người ở tầng trên có thể quan sát tầng dưới. Cả hai tầng đều có nhà vệ sinh. Một cái bếp nhỏ cho người nấu ăn đơn giản. Ông ta mang theo một cái lồng trong đó có con mèo. Ông có vài điều cần dặn dò về cách khóa cửa mở cửa. Quan trọng nhất là không có chìa khóa sơ cua.
     “Có vẻ như bà Lê và con mèo ở đây thường xuyên hơn là ở nhà của bà. Ngày nào ông còn nuôi con mèo thì ông còn có thể ở đây mà không tốn tiền thuê nhà. Hằng tháng, một phần tiền bà Lê chu cấp để nuôi mèo sẽ được trích ra để trả vào số nợ năm ngàn đô la ông còn thiếu bà Lê.      Những món hàng trong cửa tiệm sẽ được thu xếp để bán đấu giá một ngày gần đây.”
     “Cô tôi keo kiệt quá. Đã chết rồi mà vẫn không tha món nợ cho tôi. Tôi được nuôi con mèo cho đến bao giờ. Và nếu con mèo chết đi thì sao?”
     “Rơi là con mèo đực, loại mèo tuxedo, lông đen, chân trắng, cổ trắng, giống như một người mặc áo tuxedo đen, đeo nơ trắng, và găng trắng. Rơi chỉ chừng bốn tuổi thôi. Loài mèo, nếu được nuôi tử tế có thể sống đến mười lăm năm, thậm chí hai mươi năm. Xin nhớ là chúng tôi không bắt buộc hay nài ép ông phải nuôi con mèo. Chúng tôi chỉ nể tình ông là cháu bà Lê nên cho ông tạo cơ hội để ông nuôi mèo trả nợ cho bà Lê thay vì đưa ông ra pháp luật. Bà Lê theo tôi nhận biết, không phải là người keo kiệt.”
     “Cô tôi ky cóp suốt đời, không biết chưng diện, một cái áo khoác cũ mặc hằng bao năm, suốt đời chưa bao giờ đi một cái xe hoàn toàn mới, ăn chỉ toàn rau đậu chẳng mấy khi ăn thịt thà, chẳng biết thưởng thức món ngon vật lạ ở nhà hàng, chẳng bao giờ đi du lịch nước ngoài, chẳng bao giờ biết khoái lạc của trường đua, sòng bạc, thậm chí cũng không đi xem xi nê. Cô rửa chén giặt đồ, ngay cả đi tắm cũng tránh không dùng nhiều nước, không mở sưởi cao để bớt tiền điện, ra khỏi phòng là tắt đèn, ca củm đến mức như vậy không gọi là keo kiệt thì là gì?”
     “Thật sự, không ai biết là bà Lê có gia tài lớn như vậy. Bà đầu tư vừa bất động sản, vừa chứng khoán, rất cẩn thận. Bà có kinh nghiệm về đồ cổ nên mua được nhiều món đồ cổ người ta bán garage sale với giá bỏ đi. Người ta chỉ nghĩ là bà Lê bán đồ cũ “second hand” chứ không ngờ bà mua bán đồ cổ. Với gia tài bà Lê để lại, tôi nghĩ là bà có thể vui chơi nhiều hơn, nhưng tôi nghĩ bà thích cách sống đơn giản đạm bạc, chứ không phải keo kiệt. Tôi hiểu quan điểm của bà. Tránh lãng phí điện nước cũng là một cách bảo vệ môi trường. Bà đi du lịch nước ngoài nhiều lần, chỉ tại ông không biết. Bà nghiên cứu văn hóa cổ của nhiều quốc gia đặc biệt là châu Á. Trong di chúc bà để phần cho nhà thờ bà thường đi lễ, thư viện địa phương, vài chục học bổng cho học sinh nghèo, và Soup Kitchen nơi chẩn phát thức ăn cho người không nhà. Tôi thường nghe bà nói, ‘Ăn thì cho, buôn thì so.’  Tôi không hiểu lắm từ buôn-thì-so, nhưng tôi đoán, cái nào đáng cho thì cho, buôn bán thì phải so đo, còn hễ nói mượn thì phải trả.”
     “Nếu con mèo chết đi thì sao?” Tôi lập lại câu hỏi.
     “Thì chúng tôi sẽ tiếp tục với phần sau của di chúc mà chúng tôi không thể tiết lộ ngay bây giờ.”
 
Tấm ảnh trắng đen của cô treo trên tường nhìn tôi đăm đăm. Tôi thầm nghĩ, có lẽ cô chụp ảnh trắng đen để ít tốn tiền hơn là chụp ảnh màu. Tôi quay hướng nào cũng không thoát khỏi tầm mắt của cô. Giường này là nơi tôi sẽ ngủ. Con mèo không nhất thiết sẽ được ngủ chung giường với tôi. Ngay cả chung phòng cũng không. Tôi vốn không ưa thú vật. Tôi chưa hề nuôi nấng săn sóc người ta, bất cứ ai, kể cả vợ con tôi, bao giờ. Tôi chỉ có thể chăm sóc bản thân tôi. Tôi lấy vợ để có người yêu thương, chăm sóc cơm nước và giặt quần áo cho tôi. Khi có con, vợ tôi là người chăm sóc nuôi nấng đứa con. Điều này vợ tôi mù quáng không nhận ra cho đến khi tôi không thể trang trải cuộc sống của chính tôi, vì tôi thích hưởng thụ cuộc sống xa hoa lại thêm phần mê cờ bạc. Cô ấy bỏ tôi và nuôi đứa con không cần đến tôi. Tôi thật ra chỉ là gánh nặng của cô ấy.
     Con mèo nhìn tôi vẻ lạnh lùng khinh khỉnh. Trên giường có hai cái gối, nó nằm chễm chệ trên một cái. Tôi suỵt suỵt đuổi, nó tỉnh bơ. Tôi đẩy nó ra khỏi giường. Nó nhảy xuống nền nhà, đến chỗ bàn làm việc nó nhảy lên bàn, rồi lại quan sát tôi bằng đôi mắt xanh lè. Chập sau, nó lại nhảy lên giường leo lên cái gối bên cạnh tôi. Ánh nhìn của nó và cái nhìn từ tấm ảnh của cô tôi làm tôi khó chịu. Tôi đứng dậy gỡ tấm ảnh đặt xuống nền nhà và úp mặt vào trong tường. Còn con mèo, tôi xách cổ nó, tống ra khỏi phòng, đóng cửa lại. Tôi không để ý, ở phần dưới của cánh cửa có một ô nhỏ có cửa, dành cho con mèo muốn ra vào tùy ý.
     Nửa đêm, con mèo quay trở lại nằm trên cái gối. Tôi ngồi bật dậy, giật cái gối cáu kỉnh, ném xuống nền nhà. Rơi, đủng đỉnh bước qua, nằm lên cái gối của tôi. Nó nhìn tôi như thể muốn bảo tôi chỗ này là của nó. Khi tôi thò tay nắm cổ nó thì nó gào lên và quào mạnh vào tay tôi. Rơi nhảy lên bàn, tha chùm chìa khóa, và biến mất vào bóng tối. Khi tôi đi tìm Rơi, thì mới nhớ ông luật sư có dặn rằng. “Tất cả các cửa trong nhà đều là cửa sắt, phải có chìa khóa mới mở được, dù mở từ bên trong hay bên ngoài. Có lẽ vì bà Lê ở một mình nên bà rất cẩn thận với việc dùng khóa. Đây là loại khóa không có chìa sơ cua. Ngay cả người dùng nếu muốn đặt làm chìa sơ cua những nơi làm chìa khóa sẽ không làm vì như thế là phạm luật.” 
     Con mèo hình như thoát ra ngoài bằng một lỗ hổng nào đó tôi tìm hoài mà không thấy nó. Tôi sẽ gọi điện thoại cho ông luật sư, để nhờ ông tìm cách mở cửa cho tôi ra. Nhưng cả ngày hôm qua tôi không sạc điện vào điện thoại bây giờ điện thoại tắt ngấm rồi. Liệu có ai có thể cứu tôi không?  Người ta thường bảo rằng đừng nên gian tham dối gạt tiền bạc của bà già keo kiệt, bởi vì bà ấy sẽ đòi nợ cho đến khi nào con nợ chết mới thôi.

 

– Nhị Ngã

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.