Hôm nay,  

Xuân Sang- Xuân Sến

28/01/202200:00:00(Xem: 4972)

nhac-xuan-shotgun-73
hình bìa nhạc trước 1975
Nhà tôi hồi xưa ở Sài Gòn nằm cuối một con hẻm xóm lao động nghèo. Nhà nào có radio, cassette nghe nhạc thì hàng xóm được (hay “bị”) nghe ké. Tết đến cũng không là ngoại lệ. Là gia đình “Bắc Kỳ trí thức” hiếm hoi trong xóm, mấy bà chị lớn của tôi nghe nhạc xuân Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Văn Phụng…Còn từ nhà hàng xóm vọng sang là nhạc xuân bolero, habanera... Cũng vì vậy, mà khái niệm “nhạc xuân sang” và “nhạc xuân sến” bắt đầu hình thành trong đầu tôi từ bé.

Hồi còn nhỏ, tôi nghe nhạc xuân với  tinh thần “kỳ thị” cao độ. Nghe “…tình xuân chớm nở đêm qua, khi mùa chinh chiến đã lui ra ngoài đời…”  thì thấy phê quá xá! Nhưng lại hết sức bực mình khi nghe bên hàng xóm vẳng sang “… trên đường đi lễ xuân đầu năm… chách chách chách chách bum chách bùm chách bum (tiết tấu habanera) Qua một năm ruột rối tơ tằm…”.  Tôi càu nhàu trong đầu “nhạc xuân gì mà buồn thế!...” Sau này lớn lên, tôi mới thấy mình vô lý quá cỡ. Thực ra bài Xuân Thì của Phạm Duy giai điệu buồn cũng không kém gì bài Câu Chuyện Đầu Năm  của Hoài An. Vấn đề chỉ là tại mình thích thì khen hay, còn không thích thì chê là buồn, thế thôi!

Cách đây mấy năm, tình cờ đọc báo trong nước thấy có mấy ông “nhạc sĩ lớn” ngoài Hà Nội, sau khi khen nhạc của nhau hay không thua gì nhạc Phạm Duy, lại còn kêu gọi khán giả đừng có nghe “nhạc sến” trước 1975 nữa! Mấy ông này làm tôi nhớ đến kiểu nghe nhạc kỳ thị của mình hồi bé. Chỉ có điều khác là tôi không dám kêu gọi người khác đừng nghe nhạc sến như những ông nhạc sĩ lớn này. Tôi không nhớ mình đọc được lời phê bình nào của nhạc sĩ Phạm Duy chê bai nhạc bolero. Tôi cũng nhận ra rằng số người nghe và thuộc lòng “nhạc sến” đông hơn rất nhiều so với những người nghe “nhạc sang”. Có những lần đi cắm trại hướng đạo, phụ huynh và các trưởng hay ngồi hát với nhau trong đêm lửa trại về khuya. Đàn guitar bài Hoa Xuân của Phạm Duy thì ít người hát theo. Nhưng đàn Xuân Này Con Không Về của Nhật Ngân, thì hàng chục người sẽ nhắm mắt hát say sưa mà không cần tìm lời trên điện thoại di động!

Tôi có quen một nhóm bạn yêu văn nghệ, thỉnh thoảng hay hội họp ca hát với nhau. Phần lớn mọi người đều thích hát nhạc của Phạm Duy,  Phạm Đình Chương, Cung Tiến, Trịnh Công Sơn… Tuy nhiên, có những buổi khi hứng lên bắt sang nhạc “bolero mùi”, thì cả nhóm hát say sưa cũng không kém. Một thành viên trong nhóm đã phải thốt lên rằng cái nhóm này chuyển từ “nhạc sang” qua “nhạc sến” ngọt sớt, giống như có sẵn “máu sến” trong người rồi! Mà chắc đúng là vậy. Có ai đó nói rằng than vãn, kể lể tâm sự buồn là nhu cầu của đa số con người. Mà “nhạc sến” thực ra là một hình thức tâm sự “chuyện buồn đời tôi” bằng âm nhạc. Nó chân tình, rất thực, nên dễ chạm vào lòng người. Chắc vì vậy mà khi lớn lên, cuộc đời có bầm dập, tôi hát nhạc bolero có lúc thấy đúng “tâm sự buồn”, nên không còn “kỳ thị” dòng nhạc này như xưa nữa.

Trở lại với nhạc xuân trước 1975, mỗi độ xuân về thị trường băng đĩa nhạc lại nhộn nhịp với nhiều chương trình chủ đề xuân mới. Tùy theo thị hiếu của người nghe, nhắm vào giới thính giả nào, mà các nhà sản xuất chọn bài hát và ca sĩ. Có nhà sản xuất chọn thị trường là giới trí thức thành thị, chỉ chọn nhạc “xuân sang”. Số  băng nhạc xuân này không nhiều, kén chọn thính giả. Thị trường lớn nhất vẫn là giới khán giả bình dân, do đó băng nhạc “xuân sến” vẫn chiếm đa số. Cũng có nhà sản xuất chọn kiểu bắt cá hai tay, cho xen kẽ nhạc  “xuân sang, xuân sến” trong một băng nhạc.

Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương là một trong những nhà sản xuất hiếm hoi thực hiện chương trình nhạc “xuân sang”.  Trong chương trình nhạc xuân Phạm Mạnh Cương chủ đề “Xuân Quê Hương” phát hành vào khoảng đầu thập niên 1970s, có nhiều bài nhạc xuân rất đặc sắc, hiếm tìm thấy ở những băng đĩa khác. Thí dụ như bài Bến Xuân Xanh của Dương Thiệu Tước. Bài hát này có thể được xem như là một “Dòng Sông Xanh” của Việt Nam. Trong tiết điệu valse du dương, quí phái, người nhạc sĩ tài danh đã phác họa một bức tranh phong cảnh đặc trưng của mùa xuân:

Ngày xuân êm ấm,
Nắng xuân tưng bừng,
Hoa tô màu thắm,
Bướm bay quyến luyến.. hoa dịu dàng
Bầy chim ríu rít vui ca trên cành,
Thấy xuân vừa tới hót vang chào mừng xuân khắp nơi


Rồi sau đó, ông đưa thính giả bềnh bồng về với một bến thuyền thật lãng mạn, tình tứ:
…Hồ xuân duyên dáng, sóng xuân nhẹ nhàng,
Lướt trên làn nước gió đưa thuyền trôi về bến xuân xanh
Mái chèo nhịp nhàng buông theo dòng nước, Sóng lan mơ màng
Đâu thoáng nghe tiếng ca ngân tình tứ, Lướt ru thuyền mơ…

Bến Xuân Xanh viết với phong cách đặc trưng của thể nhạc cổ điển Tây Phương. Giai điệu lên bổng, xuống trầm. Tiết điệu thay đổi, lúc thì tưng bừng lễ hội, lúc thì du dương tình tứ. Có lẽ vì vậy, mà tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh là lựa chọn tuyệt diệu để trình bày ca khúc này.

Cũng trong chương trình “Xuân Quê Hương”, thính giả được nghe tiếng hát quý phái của Duy Trác trong hai bài nhạc xuân cũng quý phái không kém: Nhớ Bạn và Tình Xuân, đều của Vũ Thành. Nghe Kim Tước mới đây trả lời phỏng vấn trong chương trình The Jimmy Show thì biết rằng “Xuân” trong ca khúc Nhớ Bạn chính là một người tình tên Xuân của tác giả. “Xuân” xuất hiện trong ca khúc ẩn hiện có khi là thiên nhiên, có khi là người yêu xa xăm, thương nhớ:

Xuân vương trên ngàn hoa nhắc bao sầu nhớ mơ màng
mây buông trong chiều vắng như luyến tiếc giấc mơ phai tàn
nhớ dưới xuân năm nào lòng say ước mơ sống trong mộng vàng
Xuân nay bao sầu nhớ xuân xưa
tiếc mối tình phai hương cung vần đành lỡ dứt đường tơ vương
sầu vương áng mây bao nhuốm màu tang…
…Nhớ bóng ai bên thềm thanh vắng
Nhớ phút giây mơ màng dưới trăng
Xa kìa cánh chim chiều bạt gió muôn phương
Lạc loài cuối trời mang u sầu ngàn phương…

Còn trong Tình Xuân, mùa xuân của Vũ Thành là mùa xuân của một Hà Nội thanh lịch, với hoa đào trong gió, với mưa xuân, chan hòa nhã nhạc, nhớ về người tình:

Đào mỉm cười trong gió, chào đón xuân về
Nhạc tràn lan đây đó, muôn loài lắng nghe
Tình ngày xuân chứa chan, vương vấn cung đàn
Mắt huyền yêu, cách muôn trùng dương, như mơ hồ
Mưa sầu còn lưu luyến, ngàn cánh hoa buông tơi bời
Dường như nhớ thương, đong đầy gió sương  xa xôi
Hồn người thi khách theo, mây đến chân trời
Mong ước ngày, cùng chung tiếng tơ, nói bao lời…

Như đã nói, băng nhạc “xuân sến” thì dễ tìm hơn. Lấy điển hình là chủ đề “Băng Nhạc Việt Nam Xuân”. Nhạc xuân bolero rất “mùi”, ca sĩ cũng “mùi”. Cánh Thiệp Đầu Xuân của Lê Dinh-Minh Kỳ là một ca khúc thường vang lên trong nhiều khu xóm nhỏ Miền Nam, với tâm tình xuân thật chân thành, giản dị:
Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng,
Xuân đến rồi đây nào ai biết không?
Mang những hoài mong đi vào ngày tháng
Bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang
Tôi chúc gì đây vào mùa Xuân này
Khi nắng vàng tươi nhuộm làn tóc ai
Khi gió nhẹ lay hoa đào hồng thắm
Trong khi Xuân ấm mới tô đẹp tháng năm…
Cũng trong băng nhạc xuân này khán giả được nghe một trong những xuân khúc nổi tiếng nhất của Miền Nam trước 1975: Xuân Này Con Không Về của Nhật Ngân. Bài hát trở thành bất tử vì diễn tả những cảm xúc rất thật, đầy nhân bản của người lính VNCH khi phải đón xuân xa nhà. Giọng hát của Duy Khánh đã lột tả thành công nhất những cảm xúc đó:
Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
nay én bay đầy trước ngõ
mà tin con vẫn xa ngàn xa
ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui
nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi
bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng…
trông bánh chưng ngồi chờ sáng
đỏ hây hây những đôi má đào…

Shotgun là một trong những trung tâm băng nhạc thành công trong việc phối hợp đa dạng giữa nhạc “xuân sang” và “xuân sến”. Một thí dụ là băng nhạc chủ đề Xuân Shotgun 1973. Băng nhạc mở đầu bằng Xuân Họp Mặt của Văn Phụng, là một ca khúc xuân vui tươi, rộn ràng , một dạng thanh âm không thể thiếu của không khí đón xuân mới:

Xuân đã về, xuân vẫn mơ màng trong nắng vàng, khắp chốn tiếng reo vạng
Xuân đã về, xuân vẫn huy hoàng trong gió ngàn mừng đón xuân sang
Vui mùa xuân năm nay gần nhau, Nhớ khi xưa lúc ngây thơ, cầm tay hỏi nhau ngẩn ngơ, đến bao giờ đón xuân mơ…

Nhạc xuân bolero mùi thì có Ngày Đầu Một Năm (Thanh Thúy), Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa (Anh Khoa). Đặc biệt còn có Thiên Duyên Tiền Định, là một ca khúc xuân “đời thường”, một thể loại nhạc xuân khá thịnh hành vào đầu thập niên 1970s. Lời ca giống như câu chuyện tán gái đầu năm của một anh chàng thầy bói nghiệp dư:

Đầu năm hoa lá xôn xao nở như đón chào
Nhờ anh tiên đoán năm nay duyên nợ thế nào
Phận nghèo chẳng dám ước cao
Chỉ cần tình nghĩa với nhau
Nếu ai tâm đầu ngỏ lời là nên giai ngẫu
Mười hai con giáp em đây cầm tinh quý mùi
Cầm tay anh đoán năm nay duyên lành đến rồi
Gặp chồng hiền đức dễ thương
Tuổi này vượng số lắm con
Muốn cho vuông tròn nhờ anh môi giới mối mai đưa tình…

Nhạc xuân trước 1975 đa dạng như vậy đó! “Sang” hay “sến” chỉ là khái niệm về thị hiếu. Giống như một vườn hoa đa hương sắc, mọi người thuộc nhiều tầng lớp đều có thể thưởng ngoạn. Sau bao năm đón xuân từ trong nước ra đến hải ngoại, nghe đủ loại nhạc xuân qua bao thời đại thăng trầm của đất nước Việt Nam, mỗi độ xuân về, tôi vẫn lên youtube tìm nghe lại những bài nhạc xuân trước 1975, cả “xuân sang” lẫn “xuân sến”…

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.