Hôm nay,  

Chuyện Bây Giờ Mới Kể

7/27/202111:41:00(View: 5504)
 
 
Kỳ thị

Trước Noel n
ăm 1990, Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ trên đường đi từ Nhật Bản ra vịnh Persian tham dự chiến dịch Bão Sa Mạc, có vớt được hai ghe vượt biên ngoài khơi Nha Trang. 6 chiến hạm ghé vào căn cứ Hải Quân ở vịnh Subic, Phi Luật Tân lấy tiếp tế và chuyển giao người vượt biên tị nạn Cộng Sản cho Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc.

Chưa chuyển giao nên những người vượt biên phải ở lại trên chiến hạm không được phép xuống bờ. Đám lính Mỹ gốc Việt kéo đến thăm và làm thông dịch viên.

Vừa mới thoát hiểm, vừa mới thở được không khí tự do, nhóm người vượt biên Công Giáo tỏ ý muốn đi lễ ngày Chúa Nhật. Khâm phục lòng tin của họ!

Trình bày ý nguyện của họ với hạm trưởng và hạm phó - dể dàng, vui vẻ chấp thuận. Chuyện nhỏ!

Chạy đến nhà thờ trong căn cứ, trình bày ý nguyện của họ với vị linh mục - dễ dàng, vui vẻ chấp thuận. Chuyện nhỏ!

Dân tị nạn không đến được nhà thờ thì nhà thờ sẽ đến với họ.

Sáng Chúa Nhật, vị linh mục Thiếu Tá Tuyên Úy lên tàu, đi một vòng thăm hỏi, chúc mừng những người vượt biên tị nạn CS.

Buổi lễ được làm ở sân đáp trực thăng - đuôi tàu. Bàn ghế đầy đủ. Có nhóm lính khá đông của hạm đội biết tin nên ghé đến dự lễ chung thay vì đi lễ nhà thờ trong căn cứ.

Khi đang phụ vị linh mục sắp xếp bàn thờ, chuẩn bị trong đầu từ ngữ để thông dịch cho buổi lễ thì người vợ của một chủ ghe vượt biên ngoắc tay, tỏ ý muốn nói chuyện.

-Chị cần gì?
-Em ơi! Em có thể đổi vị linh mục này được không?
-Tại sao vậy, chị?
-Tụi chị muốn Cha Mỹ, còn Cha Phi làm lễ không có linh.
Lạy Chúa!
 
CCC
July 2018
 
 
Anh là người Việt Nam?

Tàu về quân cảng Yokosuka, Nhật Bản - nhà của Đệ Thất Hạm Đội Hải Quân Hoa Kỳ.

Trực xong, đói bụng, ngứa chân, nên tôi chạy ra phố trước căn cứ kiếm sushi hay bánh canh để ăn tối.

Đường phố về chiều, chỉ có vài người bộ hành vội vã bước chân.
Đang tà tà, thả hồn theo cảnh thì bên tai chợt nghe.
-Anh là người Việt Nam?
Đừng giỡn với tôi nghen! Trời mới chạng vạng mà ham vui rồi!
Không tin vào lỗ tai của mình, tôi đứng lại lắng nghe.
-Anh là người Việt Nam?
Có tiếng hỏi thiệt! Giọng nữ nhẹ thì thầm, thều thào!

Tôi đưa mắt nhìn quanh, tìm nơi phát xuất của giọng nói. Phố xá với những ánh đèn vàng mờ, vắng tanh. Xa xa có một vài người bộ hành.

Nhìn quanh quẩn tôi chỉ thấy một người nữ da trắng, nhỏ nhắn, bận đồ đen đứng dựa cửa một quán rượu. Cô ta đang nhìn tôi.

Đoàn xe sắc, thọ, tưởng, thức trật đường rầy bạo nghen! Thân tôi đang ở Nhật, mắt tôi thấy người da trắng, mà lỗ tai tôi nghe tiếng Việt.

Không biết vì thiếu ngủ, thiếu cơm, hay thiếu rượu mà bộ não của tôi đình công, không chịu làm việc. Phải khó khăn lắm tôi mới mở được miệng, hỏi một cách ngập ngừng, dò dẫm, không mấy tự tin.

-Em đang nói chuyện với anh?
-Anh là người Việt Nam? Cô gái da trắng kia có lẽ không tin lời tôi nên hỏi lại.
-Đại khái là vậy! Tôi không nở lòng nào nói tôi là người Mỹ với một cô gái chưa quen biết.
-Anh là người Việt thứ hai, em gặp ở đây! Em mừng quá! Thiếu điều cô ta nhảy cẫng lên. Nét vui mừng hiện rõ trên mặt.
-Em là con lai. Mẹ em mới bảo lãnh cho em qua đây. Cha em làm trong căn cứ nhưng ổng đi theo tàu rồi. Hồi ở Việt Nam, em sống với bà ngoại ở Tuy Hoà. Mẹ em muốn có tiền gởi về bà ngoại, nên xin cho em làm việc ở đây. Em ...
Tôi đưa hai tay lên ra dấu chận lại.
-Bên đây em không cần phải khai lý lịch ba đời. Chuyện gì từ từ rồi kể.
-Gặp anh, em mừng quá! Mời anh vô đây uống bia.
-Để một chút nữa. Anh phải đi ăn tối trước đã. Em ăn tối chưa? Lúc này tôi vẫn còn ham vui với rượu thịt.
-Em ăn rồi! Anh đi ăn nhanh, sớm về lại. Em chờ!
Vì sao cô ta biết tôi là người Việt là chuyện khác, nhưng tôi sẽ không kể đâu.
 
CCC
Nov 2019
 
 
Quậy nhưng không run!

Tháng bảy, 1995. Tàu vào quân cảng Sembawang, Singapore để dự một sự kiện lớn. Có đại sứ Hoa Kỳ và nhân viên tòa đại sứ đến dự, nhờ vậy mà tôi gặp được thằng Hùng, đại úy Biên Phòng (US Coast Guard), được biệt phái qua Singapore làm việc trong tòa đại sứ.


Biên phòng Hoa Kỳ mà làm việc ở Singapore? Tôi có thắc mắc đó nhưng bận công việc nên không rảnh để hỏi.

Không nói chuyện được nhiều nên tôi và Hùng hẹn nhau đi ăn tối - hy vọng có thời giờ nói chuyện thêm.

Sau ca trực, tôi rủ thêm ba thằng bạn trên tàu, hai đại úy da trắng và thằng thiếu úy Li đi ăn tối chung. Thằng Li là người Mỹ gốc Việt Hoa Chợ Lớn; không biết đi vượt biên bán chính thức lúc mấy tuổi mà nó không nói được tiếng Việt, còn tiếng Hoa thì lớ lớ.

Đi taxi đến tòa đại sứ thì thấy thằng Hùng đang đứng ngoài cổng chờ. Thằng Hùng qua Mỹ từ năm 75, nên không rành tiếng Việt; chúng tôi dùng tiếng Mỹ để nói chuyện với nhau.

Tôi không nhớ tòa đại sứ Mỹ nằm ở khu nào mà xung quanh toàn biệt thự to lớn và rất vắng vẻ.

Trời chạng vạng, đường vắng ít xe, không có hàng quán, chúng tôi đành đi bộ tà tà kiếm taxi. Đi được một lúc thì thấy phía trước có ánh đèn sáng, chúng tôi lần bước đến.

Đến nơi thì thấy “bỏ đảng sang giàu - bảng đỏ sao vàng”, có bảng đề chương trình gì đó bằng tiếng Việt (lúc đó không để ý, nên bây giờ cũng không nhớ luôn). Nhìn lại thì chỉ có một mình tôi nói tiếng Việt - cho nên khi có người nữ tiếp tân bước đến chào, tôi nói.

-Tụi tôi đến từ tòa đại sứ Mỹ.
-Mấy anh đứng đây chờ một chút. Nói rồi cô gái đó quay lưng đi.
Một vài phút sau, một người đàn ông bận đồ Tây bước ra.
-Mấy anh đến từ tòa đại sứ Hoa Kỳ?
-Đúng vậy! Tôi nói thật 100%, vì tụi tôi mới lội bộ đến từ tòa đại sứ. Ai muốn hiểu sao thì hiểu.
-Mời mấy anh vào!

Tôi ra dấu cho mấy thằng bạn đi theo người đàn ông đó. Bước qua cửa thì vào một tòa sảnh (nhà hội nghị) rộng lớn, có sân khấu, có bảy tám bàn VIP và hơn chục hàng ghế. Có khoảng mươi người trung niên nam nữ Việt Nam ăn mặc sang trọng đang đứng trò chuyện, họ quay nhìn chúng tôi - một đám trẻ ăn bận lôi thôi, áo thun, quần xà lỏn. Có thể đây là lần đầu những người nói giọng Bắc đó thấy những thằng Mỹ trắng, Mỹ vàng.

Có lẽ chúng tôi là khách VIP nên được sắp ngồi bàn “hạng nhất cải lương” - bàn đầu ngay chính giữa và sát sân khấu.

Quay lại nhìn thì thấy mấy người kia ngồi vào những hàng ghế phía sau, còn mấy bàn VIP chung quanh không có ai ngồi. Trên bàn có sẵn đồ nhắm (chả giò, chả cua, cá viên chiên, v.v...) và mười chai bia. Trúng mánh!

Hên là sau vài lời giới thiệu ngắn ngủi gì đó là màn trình diễn áo dài Việt Nam và sắc phục phụ nữ thiểu số - Cầm, Dao, Thái, Mông, Mèo.

Ngồi chung với mấy thằng bạn nơi đất khách, miệng uống bia, nhai đồ nhắm chùa, mắt nhìn người mẫu áo dài thướt tha, cà nhõng qua lại trước mặt, tai nghe nhạc nền “Những nhịp cầu tre” - thiên đàng hạ giới có thật!

Nếu không đi chung với mấy thằng bạn thì có lẽ tôi phải chạy ra khu Geylang sớm! (Ai có ở và rành Singapore thì biết tôi đang nói gì).

Màn trình diễn quá đẹp, quá hay, phong cách phục vụ chu đáo, lịch sự - mỗi lần tôi xin thêm bia hay đồ nhắm, họ đều vui vẻ đem tới.

Chỉ tiếc là chương trình khá ngắn! Nếu kéo dài bốn năm tiếng như chương trình Paris by Night thì chúng tôi sẽ không tốn tiền uống bia tăng hai ở mấy quán rượu trên đường Orchard.

Cuối chương trình, tôi hỏi xin lên sân khấu chụp hình chung với mấy người mẫu.

-Các anh cứ tự nhiên.
Và như người Hà Nội, tôi với hai thằng bạn Mỹ trắng leo lên chụp hình chung với mấy người mẫu. Còn hai thằng Mỹ vàng (Hùng và Li) có thể do có chiều cao khiêm tốn nên không chịu lên đứng gần mấy người mẫu.

Khi ra về chúng tôi còn được tặng năm cái nón lá.
Trong lúc đứng chờ taxi, tôi nói chuyện với mấy người nói giọng Bắc nọ thì họ cho biết đó là đêm tập dượt nên không có mời khách dự.
 
Hú hồn! Quậy nhưng không run! Stirred, not shaken!
 
Nhìn gái trong lúc uống bia rất có hại, tới bây giờ tôi vẫn không biết thằng Hùng làm công việc gì trong tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Singapore.
CCC
3/2020
 

Cuộc đời sắc sắc không không,

Thôi thì ta hãy hết lòng với nhau.

Cánh Chuồn Chuồn

Memorial Day 2021

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.