Hôm nay,  

Mẹ Là Thiêng Liêng Cao Quý

08/05/202000:00:00(Xem: 4980)
02 CHAO DON NGAY LE ME
Mẹ và con ( Hình minh họa)

 

Mẹ là từ gọi đầu tiên của loài người khi bắt đầu biết nói và cũng có lẽ cho mọi sinh vật trên trái đất, bởi hơn thế nữa mẹ là người đã đưa những sinh linh bé nhỏ đi vào cuộc đời mênh mông sau những tháng ngày ấp ủ trong lòng mình. Vì thế quả thật mẹ là ngôn từ vĩ đại nhất mà mọi sinh vật phải biết ơn và tự hào để có mặt trên cuộc đời này. Ngoài những điều hy sinh khó nhọc người mẹ đã làm còn bởi lẽ Đức Phật dạy rằng khi được thân người với đầy đủ ngũ quan, thông minh, khoẻ mạnh là một đặc ân lớn cho kiếp người nữa. Cho nên Ngài vẫn luôn nhắc nhở đến chữ hiếu “Làm con hiếu hạnh vi tiên” hay “Cha mẹ hiện tiền như Phật tại thế”. Nho giáo thì dạy rằng “ Nhân sinh bách hạnh hiếu vi tiên” trong hằng trăm đức hạnh của con người hạnh hiếu là điều trên hết. Vì vậy được làm  người có tiếng nói, có ngôn ngữ biết suy tư hơn những sinh vật khác thì mẹ càng được hiểu là những gì thiêng liêng cao quý và gần gũi nhất.

Là người mẹ luôn được gần gũi, thương yêu và chăm sóc những đứa con là điều hạnh phúc cho dù phải chịu nhiều phần cực nhọc. Bởi đó là sứ mệnh cao quý đã làm tốn kém bao nhiêu là giấy mực, sách vở từ Đông sang Tây, biết bao nhiêu thi ca âm nhạc tôn vinh thiên chức làm mẹ của người phụ nữ. Những ai đã từng đọc lá thư thật cảm động của người bố gởi cho cậu bé Enrico khi bắt gặp cậu bé nói những lời không đẹp với mẹ cậu trong cuốn sách Tâm hồn cao thượng của tác giả người Ý Edmondo De Amicis được Hà Mai Anh dịch. Cuốn sách một thời đã từng là kim chỉ nam cho rất nhiều thế hệ trong đó có chúng tôi, với những câu chuyện ngắn đầy tính nhân văn giáo dục đạo đức mà cho đến bây giờ khi có dịp đọc lại vẫn thấy còn đầy nguyên cảm xúc. Người mẹ, người phụ nữ nào ở bất cứ nơi đâu cũng luôn được trân quý và yêu thương bởi sự hy sinh, vất vả một đời. Đối với người VN vai trò người mẹ trong gia đình còn quan trọng hơn nữa khi được gọi là nội tướng với rất nhiều trọng trách. Khi bắt đầu làm mẹ trong dân gian VN cũng có những câu ca dao như:

Con vào dạ, vạ vào lòng.

Hay

Con vào dạ, mạ phải tu

Để nhắc nhở đến những hiểm nguy cũng như những gì người mẹ tương lai phải biết. Với những lời khuyên hữu ích này người mẹ cần phải sống đời sống nghiêm minh, đạo đức từ tinh thần đến thể chất trong suốt thai kỳ để bảo vệ và giáo dưỡng mầm sống theo chiều hướng tích cực tốt đẹp hay còn gọi là thời kỳ thai giáo, cho nên người mẹ còn được hiểu như vị thầy đầu tiên trong đời để giáo dục con cái nữa. Do đó nếu nhìn nhận nghiêm túc và đúng đắn thì quả thật người phụ nữ có vai trò hết sức quan trọng cho một nền tảng gia đình vững chắc và cho cả sự hình thành nhân cách của mỗi con người nữa. Trong lịch sử lâu đời của Trung quốc từng ghi lại rằng các bậc Thánh hiền, những triết gia lỗi lạc đều có những bà mẹ tuyệt vời bên cạnh như Đức Khổng Tử, Thầy Mạnh Tử hay Tăng Tử …mà trong đó câu chuyện điển hình về bà mẹ Mạnh Mẫu Chương Thị có thể xem là bài học quý báu cho tất cả các bà mẹ trên toàn thế giới. Tục ngữ VN có câu ‘Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” là câu nói để thấy rõ hơn sự quan trọng của người mẹ như thế nào. Trước năm 1975 dưới thời Đệ nhị Cộng hòa trong kỳ thi văn toàn quốc dành cho khối Trung học đệ nhị cấp Bộ giáo dục cũng đã ra đề thi :Hãy bình giảng câu: Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà mà tôi là người may mắn được nhà trường tuyển chọn đi tham dự.

Khi ấy tôi đang là học sinh lớp 10 của trường Nữ trung học Lê Văn Duyệt niên khóa 1971-1972. Ngôi trường nữ này thuộc tỉnh Gia Định mang tên vị quan Đại thần nhà Nguyễn có khu lăng mộ nổi tiếng là Lăng Ông Bà Chiểu và trường cũng ở không xa khu di tích này. Có một điều chắc rằng bây giờ chẳng ai còn nhớ đến cái thời kỳ mà bọn học trò chúng tôi phải đi học ban đêm và cũng không hiểu vì sao Bộ Giáo dục lại cho mở thêm những lớp buổi tối tại các trường công lập như vậy, lúc đó vào khoảng năm 1969. Khi lớp học ban ngày ra về thì chúng tôi vào lớp lúc 6 giờ chiều và kết thúc buổi học lúc 10 giờ tối, sỉ số học sinh của lớp chỉ có 40-45 người, nên chúng tôi ngồi học rất thoải mái với bàn đôi nhưng ghế chiếc, trước khi ra về mỗi người phải đem ghế của mình úp lên bàn để những người lao công đến quét dọn dễ dàng, không như ở các trường tư thục học sinh phải ngồi chật chội trên những băng ghế dài.

Những ai đã sống ở miền Nam VN trước năm 1975 đều biết rõ hệ thống giáo dục thời ấy có 3 cấp: Tiểu học, Trung học và Đại học. Hết bậcTiểu học phải thi tuyển chuyển cấp, hết lớp Đệ nhị phải thi Tú tài phần I, hết lớp Đệ nhất phải thi Tú tài phần II, đậu cả 2 kỳ Tú tài mới được lên Đại học. Đến năm 1970 Bộ giáo dục thay đổi cách gọi các lớp học bằng số từ lớp Năm thành lớp 1 đến lớp Đệ nhất thành lớp 12. Năm 1974 Bộ giáo dục lại có một sự thay đổi đặc biệt khác là bỏ hẳn kỳ thi Tú tài I, chỉ còn lại một lần thi Tú tài hết cấp Trung học thôi, ngoài ra thí sinh cũng không còn phải làm bài thi viết nữa mà thi trắc nghiệm đánh dấu ABCD và do hệ thống máy tính IBM chấm điểm. Lúc đó chúng tôi tuy là học sinh lớp tối nhưng cũng được đến Nha khảo thí để thực tập thi thử, tiếc rằng đây là lần thi đầu tiên và cũng là lần cuối cùng của Miền Nam VN.

Trong tất cả 12 lớp học đầu đời, điều làm cho các phụ huynh thời ấy lo lắng nhất cho con em của mình chính là kỳ thi tuyển hết cấp bậc Tiểu học. Bởi đây là kỳ thi quyết định cho tương lai cuộc đời của những đứa trẻ vì sự quan trọng của nó. Các trường công nhận học sinh thi tuyển có giới hạn nên học sinh nào thi đậu kỳ thi này sẽ được vào học các trường công lập của chính phủ, có hệ thống giáo dục chính thức, các thầy cô giáo tốt nghiệp các trường Sư phạm được đào tạo căn bản, chính thống, trường có kỷ luật nghiêm túc và không phải trả một khoản phí tổn nào cho việc học suốt 7 năm của bậc Trung học. Ngược lại nếu rớt phải đi học  trường Tư thục do tư nhân mở ra như một loại công ty kinh doanh, phải đóng học phí hàng tháng và chắc chắn không được thầy cô quan tâm theo dõi việc học hay khuôn phép kỷ luật như ở các trường công lập. Do đó khi được nhận vào học lớp buổi tối chúng tôi thấy thật sự cảm kích và biết ơn Bộ giáo dục khi ấy vô cùng. Bởi vì cho dù là lớp đêm chúng tôi cũng được học chương trình chính thức của Bộ, cũng được các thầy cô giáo dạy lớp ban ngày ở các trường công lớn như Gia long, Trưng vương đến dạy và đặc biệt được hưởng tất cả các quyền lợi như các học sinh ban ngày. Đó là lý do tôi cũng được nhà trường tuyển chọn đi tham dự môn thi văn toàn quốc. Kỳ thi năm ấy được tổ chức tại trường Gia Long nằm trên đường Phan Thanh Giản mà nay đã đổi tên là đường Điện Biên Phủ.

Sở dĩ tôi phải đi học trường tư thục cho đến năm lớp 8 mới được vào học lớp buổi tối của trường nữ Lê Văn Duyệt là bởi quyết định của mẹ tôi, phải don nhà từ Thành phố Tam kỳ thuộc Tỉnh Quảng tín vào Sài gòn lúc gần cuối niên học của mùa hè năm 1967, vì vậy tôi không có cơ hội tham dự kỳ thi tuyển cấp bậc Tiểu học này. Mẹ chúng tôi là người phụ nữ mạnh mẽ quyết đoán và rất siêng năng nên sống ở đâu cũng đều chịu khó, chịu cực mở tiệm ăn buôn bán, chính nhờ vậy mà suốt những năm tháng tuổi thơ anh em chúng tôi lúc nào cũng được no đủ vì không sống dựa vào đồng lương lính ít ỏi của bố chúng tôi. Khi cái quán ăn đang bán buôn tấp nập thì tình hình chiến sự ngày càng trở nên khốc liệt. Chỉ cách vài ba đêm bắt đầu với những tiếng súng nổ lớn nhỏ, tiếng đại bác, tiếng rít của pháo sáng hỏa châu là tất cả chúng tôi những đứa lớn bị đánh thức dậy để tự chạy xuống cái hầm nhỏ chất đầy bao cát chung quanh, bên dưới của tấm phản gỗ dầy, còn những đứa bé hơn mẹ tôi phải bồng từng đứa đẩy vào trong hầm, nằm chen chúc chật chội như vậy cho đến sáng.

Có lẽ vì quá mệt mỏi với mỗi đêm như vậy và cũng để bảo vệ sinh mạng của bầy con 8 đứa mẹ tôi quyết định vào sống hẳn ở Thủ đô Sài gòn để không còn thấy cảnh chiến tranh nữa. Quyết định của mẹ tôi thật là sáng suốt bởi chỉ vài tháng sau là mùa xuân năm 1968, cũng là cái Tết Mậu thân kinh hoàng xảy ra khi Cộng sản tổng tấn công vào miền Nam VN. Quân CS đã sát hại rất nhiều người đủ mọi thành phần công chức, trí thức của Miền Nam, không loại trừ cả những người dân vô tội nữa, rồi đẩy tất cả xuống hố chôn tập thể, cảnh tượng thật khủng khiếp, đau thương không thể nào diễn tả hết được mà trong đó kinh thành Huế là nơi lãnh chịu hậu quả thảm khốc nhất. Thật may mắn lúc đó chúng tôi đã có mặt ở Sài gòn trong khi bố chúng tôi vẫn còn đang làm việc tại Ty An ninh Quảng tín.

Trở lại đề bài thi Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà khi ấy, với tuổi đời còn quá nhỏ để có thể hiểu biết và cảm nhận hết thế nào là trách nhiệm của một người phụ nữ trong gia đình. Nhưng tôi đã viết bằng tất cả cảm nghĩ chân thành của mình qua hình ảnh vất vả của mẹ tôi cùng với những gần gũi, chia sẻ mà chúng tôi có được từ mẹ nhiều hơn so với bố là người lính trong Quân lực VNCH, quanh năm bận rộn với công vụ lại trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, thì quả thật người mẹ bao giờ cũng là chỗ dựa duy nhất, là tác nhân chính ảnh hưởng rất nhiều đến những đứa con ở thế hệ chúng tôi lúc bấy giờ. Cuối cùng kết quả kỳ thi văn năm ấy tôi chỉ đạt giải ba nhưng ít nhiều đã thấu hiểu rõ hơn về vai trò của chính mình là người phụ nữ cho tương lai của một gia đình sẽ quan trọng như thế nào.

Một lần cách đây khá lâu có dịp đọc bài viết với tựa đề Bà mẹ nước nào là số một? của nhà báo Ngô nhân Dụng, với câu chuyện tranh luận khá sôi nổi về đề tài giáo dục con cái mà trong đó bà mẹ Trung hoa Amy Chua bảo vệ quan điểm nghiêm khắc của mình trong việc mạnh mẽ, cứng rắn với con cái qua suy nghĩ để chúng hiểu biết hơn và thành công hơn theo đúng đường hướng mong muốn của cha mẹ. Câu chuyện thật là thú vị mà có lẽ cũng là vấn đề, vấn nạn trong nhiều gia đình gốc Á châu, nhất là hiện nay đang sống ở Mỹ, đối diện với thực tế chứ không qua sách vở càng nhìn thấy rõ hơn sự xung đột gay gắt vì những thái quá bất cập giữa 2 nền giáo dục Đông Tây. Bởi vậy đã có không ít những câu chuyện đau buồn xảy ra trong các gia đình Á châu khi cha mẹ chỉ mong con cái thành đạt theo ý muốn để được vui lòng và tự hào. Trong khi người Mỹ thì ngược lại họ không làm như vậy, mà luôn thương yêu chiều chuộng và tôn trọng con trẻ theo văn hóa và luật định nhưng chỉ đến năm con 18 tuổi cha mẹ Mỹ không còn trách nhiệm với con cái nữa, hai nền văn hóa hoàn toàn khác nhau thật là khó dung hợp. Riêng người VN luôn xem gia đình là quan trọng, là nơi nương tựa cho dù ở bất cứ tuổi nào nên mới có câu:

Con dẫu lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn bên con

Hoặc như

Mẹ già 90 còn thương con 71

Đó là tình thương của người mẹ vô thời hạn trong mỗi gia đình thời xa xưa, cũng như quan niệm một thời “Trẻ cậy cha, già cậy con” được xem là tình cảm thiêng liêng, là trách nhiệm của mỗi con người biết tri ân và báo ân cũng đã không còn thích hợp nữa. Thế giới bây giờ mọi thứ đã đổi khác, cha mẹ đến tuổi già phải chấp nhận con đường sẽ đến là Viện dưỡng lão, không còn cơ hội gần gũi con cái lúc cuối đời để yêu thương hay được yêu thương nữa mà phải biết thích nghi để sống cảnh tuổi già cô đơn, ngoại trừ những trường hợp may mắn được ở nhà nếu không bị đau ốm nặng nề. Còn đối với trẻ con là sinh vật quý báu ở Mỹ cũng phải chịu chung số phận hẩm hiu, ngậm ngùi với tuổi thơ hiu quạnh khi sinh ra đời cũng chỉ được ở bên mẹ vài ba tháng đầu, sau đó phần lớn thời gian sẻ phải sống với người xa lạ, trừ khi may mắn lắm có được ông bà bên cạnh. Đó là những cảnh gia đình còn có gia đình, nếu không may cha mẹ li dị thì những đứa trẻ lại càng đáng thương hơn rất nhiều, với suốt những năm tháng tuổi thơ bơ vơ lạc lỏng khi về với mẹ, lúc về với cha. Vì vậy cho dù đời sống văn minh hiện đại có thay đổi thế nào thì có lẽ vai trò người phụ nữ, người mẹ trong gia đình vẫn không thể nào thay đổi được. Người phụ nữ bao giờ cũng là nền tảng bảo vệ gia đình, là cột trụ chống đỡ, là người có nhiều ảnh hưởng và cũng là người mang hạnh phúc đến cho những đứa con nhiều nhất. Vì vậy trong ca dao VN  có câu:
           
Mồ côi cha ăn cơm với cá.
Mồ côi mẹ liếm lá đầu đường.

Chính vì tình yêu thương cũng như những trọng trách nặng nề là một thách thức rất lớn cho người phụ nữ trong thời hiện đại này khi không chỉ là nội trợ trong nhà mà còn có vô số công việc, vô số trách nhiệm ở bên ngoài xã hội nữa, bắt buột người phụ nữ phải suy nghĩ thật nghiêm túc nếu muốn gánh vác thêm vai trò làm mẹ, thật không phải là điều dễ dàng. Vì vậy không cần phải tranh luận hơn thua, đúng sai về cách giáo dục của bà mẹ nước nào là số một. Điều quan trọng là sau những năm tháng đầy ắp niềm vui, tiếng cười trong nhà khi có sự hiện diện của những đứa trẻ, thì cách giáo dục nào có thể cung ứng cho gia đình, cho xã hội những thành viên ưu tú, những người công dân có đạo đức tốt lành thì đó là người mẹ ưu việt nhất.

Những người phụ nữ đảm đang, tài đức đem lại sự thịnh vượng cho gia đình còn được gọi là “ Vượng phu ích tử” hay có câu nói “ Sau lưng người đàn ông thành công luôn có bóng dáng người phụ nữ” để thấy rõ hơn sự cần thiết của người phụ nữ trong mỗi gia đình như thế nào. Trong lịch sử VN có Nguyên phi Ỷ Lan là vị vương phi của vua Lý Thánh Tông cũng là người có tài đảm lược nhiếp chính khi nhà vua phải thân chinh đi dẹp giặc, được dân chúng thời bấy giờ ca ngợi, kính mến. Điều đó cho thấy người phụ nữ cũng có những tư chất thiên phú thông minh, mà Đức Phật là bậc đại trí là vị giáo chủ duy nhất cách đây 2600 năm đã nhìn thấy giá trị ở nơi người phụ nữ để rồi chính Ngài là người đã đem đến sự bình đẳng, bình quyền cho nữ giới sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Trong cuốn sách Phật giáo nhìn toàn diện của Hòa thượng Piyadassi Manhàthera người Tích lan được dịch giả Phạm Kim Khánh chuyển ngữ sang tiếng Việt cũng đã dành trọn chương 12 nói về Người phụ nữ trong văn học Phật giáo với rất nhiều những câu chuyện về những người phụ nữ được Đức Phật hướng dẫn, giáo hoá cũng như khen ngợi khi Ngài còn tại thế.

Vì vậy tất cả những người trí thức, hiểu biết luôn thương yêu và tôn trọng phụ nữ, điều này cũng đồng nghĩa với việc người phụ nữ không thể dễ duôi mà phải luôn trau dồi nhân cách, giữ gìn đạo đức phẩm hạnh của mình. Không ai có thể giúp hay cho mình nhân cách như lời Đức Phật đã từng dạy trong bài kinh Suy nghiệm về nghiệp:

Không phải do dòng dõi thọ sinh mà một người cao quý hay thấp hèn, chính hành vi tạo tác khiến người thấp hèn hay cao quý.

Trường học có hàng trăm môn học để giúp con người kiếm tiền dễ dàng, nhưng trường đời chỉ có một môn duy nhất là học làm người thì lại không dễ dàng chút nào. Khi dịch bệnh Covid-19 đang hoành hành, đang làm đảo lộn mọi trật tự thế giới, không biết có giúp con người nhìn lại, học lại về một lối sống tử tế trong thời gian phải sống chậm vì cách ly này ? Bởi thật sự là khủng khiếp khi thần chết không đến thăm một xóm, không đến thăm một làng hay một thành phố mà đến khắp cả địa cầu, gây hoang mang chết chóc cho nhân loại chưa từng bao giờ xảy ra. Nguy hiểm hơn nữa loại dịch bệnh này cắt ngang sự sống của con người nhanh nhất qua con đường hơi thở mà cho dù khoa học có tiến bộ đến đâu cũng chỉ có thể thay tim, gan hay thận…nhưng không thể nào thay thế hơi thở. Thật là kỳ diệu khi điều này vẫn luôn được Đức Phật nhắc đến đã từ rất lâu trong phương pháp hành thiền gọi là Sổ tức quán, hít thật sâu thở thật chậm, thiền định quán chiếu về hơi thở để thấy sự vô thường mong manh của đời sống mà con người vẫn hay vội vàng quên mất.

Chúng tôi đã đi quá xa cái tuổi Ngũ thập tri thiên mênh để có thể tri kiến thêm nhiều điều, càng nhận ra rằng mình thật là may mắn khi cho đến hôm nay 2020 chúng tôi vẫn còn có mẹ, có một loại gene thật tuyệt vời. Mẹ chúng tôi sinh năm 1928, năm nay đã 92 tuổi tây có nghĩa 93 tuổi ta, vậy mà dù phải trải qua những tháng năm vất vả từ khi thơ ấu cho đến bây giờ bà vẫn còn khoẻ mạnh, đi đứng bình thường. Chuyện đời tuy có lẫn lộn quên quên nhớ nhớ nhưng Đức Phật thì không bao giờ quên, thấy hình ảnh Phật ở bất cứ đâu đều chắp tay xá lạy, vẫn luôn miệng cười hay hát những bài ca mình yêu thích, giọng nói vẫn sang sảng đọc làu thông những câu thơ Kiều, những câu thơ trong Chinh phụ ngâm khúc… dù chưa từng được đến trường học. Nghĩ đến mẹ, đến những người phụ nữ càng thấy thương cho những đứa trẻ mồ côi hay cả những đứa trẻ có cha có mẹ cũng như vô gia đình vì hiện trạng xã hội ngày nay. Một thế giới không còn thuần chủng, lẫn lộn khiến con người luôn cảm thấy bơ vơ, lạc lỏng không gốc rễ cội nguồn giữa một gia đình có nền tảng không vững chắc.

Để kết thúc bài viết này xin mượn những dòng thơ của Thiền sư Nhất Hạnh, bài thơ mà mỗi độ Vu lan về lại lấy đi hàng ngàn giọt nước mắt.

         Năm xưa tôi còn bé
         Mẹ tôi đã qua đời
         Lần đầu tiên tôi hiểu
         Thân phận kẻ mồ côi
         Quanh tôi ai cũng khóc
         Im lặng tôi sầu thôi
         Để dòng nước mắt chảy
         Là bớt khổ đi rồi
         Hoàng hôn phủ trên mộ
         Chuông chùa nhẹ rơi rơi
         Tôi thấy tôi mất mẹ
         Là mất cả bầu trời.

California, Mother’s Day 2020                                                               
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.