Hôm nay,  

HOÀI NIỆM CHIỀU BA MƯƠI TẾT

24/01/202011:16:00(Xem: 5088)

                                                             

 

Anh bước vội vào trong toa xe điện. Một chút ăn năn vì anh về muộn. Anh lỡ quên, hôm nay ba mươi Tết! Anh tìm một chỗ ngồi kín đáo và cố thu người sao cho ấm. Anh vụt nhớ, bên nhà giờ này là mồng một Tết. Anh nhớ câu thơ ai viết: Đêm xuống bên ni, Ngày lên bên nớ”. Mắt anh đau đáu nhìn ra ngoài trời. Chicago tràn ngập tuyết.

     Chiếc tàu điện, cần mẫn, lặng lẽ trường dưới tuyết lạnh đưa đoàn lữ hành về các vùng ngoại ô Chicago. Những liễn gấm, những lư đồng sáng choang của chiều ba mươi Tết, và mùi hương trầm quyện vào nhau như một cuộn phim hiện ra đậm đặc từng nét trong trí tưởng của anh.

  Anh nhớ cây tre nêu trong sân nhà mỗi chiều ba mươi Tết. Anh nhớ mảnh vải điều hình tam giác, mắc trên đỉnh nêu. Trên mảnh vải đỏ ấy cha anh vẽ 4 vạch ngang và 5 vạch thẳng bằng mực Tàu đen mà ông cụ gọi là “tứ tung ngũ hoành”. Thật sự không một ai trong gia đình biết “tứ tung ngũ hoành” mang ý nghĩa gì? Họa chăng chỉ có cha anh biết. Nhưng ông cụ không hề nói cho ai hay trong lúc ông còn sống. Ông cụ cũng mang niềm bí ẩn ấy theo ông xuống tuyền đài.

    Anh nhớ mẹ anh vô hạn, người vừa qua đời cách đây mấy năm. Mẹ anh năm nào cũng vậy, vào nửa đêm ba mươi Tết, bà mặc áo dài thâm đen, đứng trong sân nhà với nắm nhang đưa cao trên đầu. Mẹ anh khấn vái mười phương. Lời cầu nguyện của bà tưởng chừng rung động muôn sao trên trời. Bà nguyện cầu sức khỏe cho chồng, cho các con ăn học thành đạt nên người. Lúc ấy Mẹ đâu có hay, một trong những đứa con thành đạt của Mẹ sau này đang giang hồ giong ruỗi xứ người.

    Anh cảm thấy niềm hoài cảm tràn ngập lòng anh. Có lẽ giờ này ở thôn Hà thanh, Ninh thuận các anh chị và các cháu nhỏ cũng đang quay quần trước bàn thở gia tiên. Anh ước mơ trong một phút nào đó có ai ngừng lại nghĩ đến anh. Anh xúc động, anh thấy hai hàng nước mắt của mẹ nhớ thương anh.  Cách đây mấy năm, người anh của anh thư cho anh thường nhắc Mẹ trong những ngày bà còn sống, Mẹ thường băn khoăn về cuộc sống lưu vong của anh.

    Cách đây mấy năm cha mẹ anh lần lượt qua đời. Anh còn người em gái năm nay cũng ngoài 60, ở lại với bà con trông nom nhà từ đường của giòng họ và chăm sóc mồ mả ông bà. Nghĩa trang giòng họ của anh ngay dưới chân núi Cà-đú. Người anh ruột của anh, năm nay cũng ngoài 75, mấy mươi năm lập nghiệp ở Nhatrang và sống ở ngoài đó luôn. Cha mẹ anh còn sống hay quá vãng, vào ngày tư, ngày Tết anh ấy cũng đưa gia đình về Phanrang. Sau  khi cha mẹ anh qua đời, anh ấy thường về để phụ cô em gái chăm lo từ đường, mảnh vườn còn lại và mấy sào đất thổ, phần hương hỏa.

 

Anh về đến nhà muộn. Anh xin lỗi vợ. Chị buồn. Chị nói lẫy:

- Anh cũng biết hôm nay là Ba mươi Tết nữa sao?

Anh cúi đầu lặng thinh. Anh nhìn bàn thờ Cha Mẹ anh, nhan đèn đã sẵn. Vợ anh đến bên cạnh anh. Chị ôm vai anh, nói trong giọng ngậm ngùi:

 - Anh vào nhà trong tắm rửa, thay đồ, nhớ mặc khăn đống áo dài. Em bày cỗ xong rồi. Anh ra lên nhan đèn rước ông bà cha mẹ hai bên về ăn Tết. Và anh nhớ khấn nguyện với với ba mẹ, năm tới mình về Phanrang, Xóm-động, ăn Tết ở quê nhà, nghe anh…

   Nghe vợ nói, anh có cảm tưởng như nghe Mẹ nói với Cha mấy mươi năm về trước. Anh buồn như muốn khóc. Chị an ủi:

-Anh buồn vì Tết nhất, các con cái không có đứa nào về hôm sớm với mình phải không anh? Ở Mỹ mà anh. Các con còn phải lo công ăn việc làm. Với lại các con cũng phải biết tổ chức ăn Tết cho chồng cho con của tụi nó chớ anh. À, anh, các con, cả 3 đứa mới email về, các con nói tối nay đúng giao thừa các con sẽ gọi điện thoại chúc Tết ba mẹ. Em nghĩ con biết điều được như vậy là quí lắm rồi…

 

    Anh thầm cảm ơn vợ, anh bước vào phòng trong. Không hiểu anh nghĩ sao, anh gọi với ra nói với vợ:

-  Khuya nay em làm lễ giao thừa chứ em?

-  Nhớ chớ anh. Như mọi năm, giao thừa năm nào em cũng làm lễ‘cúng sao’ và cầu nguyện cho vợ chồng mình sức khỏe, các con hạnh phúc, ăn học nên người, như Má làm mấy mươi năm về trước…Anh vẫn nhớ chớ anh?

    Đứng trong nhà tắm, nghe vợ hỏi, mắt anh cay sè, cái khăn anh cầm suýt chùn ra khỏi tay. Ngước mặt lên vòi nước, anh tháo nhẹ. Nuớc tràn lên mắt anh, mặt anh, tràn vào khóe miệng anh. Anh nghe có mùi mặn. Mùì mặn của nước mắt. Anh đang khóc…/.

 

Đào Như

Dec-14-2010

Oak park,Illinois, USA

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đây là tựa đề một tác phẩm văn học rất dễ thương của nhà văn Vũ Bằng. Ông bắt đầu viết từ tháng Giêng 1960, tiếp tục viết 1965, và hoàn thành vào khoảng 1970 – 1971. Hơn mười năm cho một quyển sách, có thể là dòng suy tưởng của tác giả bị gián đoạn do công việc mưu sinh, có thể tác giả chưa nắm bắt được sự rung cảm của riêng mình.
Cái tin khoa học gia Alan D chế tạo siêu máy tính với hệ điều hành cực kỳ tân tiến làm chấn động cả thế giới, hệ điều hành mới với trí thông minh nhân tạo giờ đây sẽ giải phóng con người. Con người chẳng cần phải làm gì nữa, bọn robot sẽ thay người làm tất cả mọi việc từ sản xuất trong hãng xưởng, nông trại, việc nhà… thậm chí cả ra trận luôn.
*Alfred D. Sulfridge, bác sỹ Trung Tá Không Lực Mỹ tại phi trường Trà Nóc, Cần Thơ. Hồi năm 1970 anh thường đến hợp tác làm việc với tôi tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa, Cần thơ. Bác sĩ Sulfridge là người bạn của tôi về chuyên môn, phẫu thuật, mặc dầu anh ta nhỏ hơn tuổi 2 tuổi.
Ngoài sảnh cả một biển người loi nhoi dáo dác tìm người thân của mình, Dean D mũ lệch, kiếng đen bước đi khệnh khạng ra vẻ lắm, nhiều ánh mắt nhìn theo tỏ vẻ thèm thuồng pha lẫn ngưỡng mộ.
Hùng mơ màng, suy nghĩ. Đã nhiều lần anh chàng tự nhủ, ừ, tại sao lại không, tại sao lại không nghĩ nhỉ. Không có gì quý hơn độc lập tự do, thì tại sao lại không tận hưởng cái quyền độc lập và tự do không giới hạn này, nghĩ. Nghĩ thế, Hùng cứ một mình tiếp tục ung dung suy nghĩ, đố đứa nào báo cáo, chúng mày có giỏi thì kiểm thảo xem.
Trong suốt một thời gian dài, gần như những năm cuối trung học, gia đình tôi không có một kỳ nghỉ hè nào vui vẻ bên nhau. Tất cả đã chấm dứt từ cái mùa nghỉ hè năm lớp chín, khi bố tôi phải lòng cô thư ký của ông. Mà cô thư ký ấy lại chính là cô giáo cũ của tôi, người tôi rất quý mến.
Nhà văn Võ Hồng sinh ngày 2/12/1922 (khai sinh ghi 5/5/1921) tại làng Ngân Sơn, quận Tuy An, tỉnh Phú Yên. Ông sớm mồ côi mẹ. Thuở nhở Võ Hồng ng học trường làng, trường phủ Tuy An, trường tỉnh Sông Cầu, rồi trường Collège Quy Nhơn. Năm 1939 khi đang học Đệ Tam, ông cùng bạn bè viết bích báo và ông chọn một trong số những truyện đó gửi cho báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy là tờ báo có nhiều độc giả nhất lúc đó tại Hà Nội.
Bầu trời cuối thu xanh thăm thẳm, cái màu xanh tưởng chừng như bầu trời thông đến tận cùng thế giới. Từng đám mây trắng bồng bềnh, lững lờ trôi, chúng thong dong tự bao đời đời nay giữa trời đất bao la, mặc cho lòng người khúc mắc, mặc cho thế sự điên đảo…
Vô cùng thương tiếc Trung Tá Phi Công Nguyễn Văn Triều
Tuyết! Đấy là cái ám ảnh dai dẳng của tôi trong một thời gian rất dài. Nước tôi không có tuyết, và lẽ dĩ nhiên cũng không có nhiều món đặc trưng khác của Tây, của Tàu, của Châu Phi chẳng hạn, thế nhưng ước mơ của tôi được thấy tuyết tận mắt là tha thiết hơn cả.
Chúng tôi đinh ninh rằng chúng tôi là những người hồi cư sớm nhất, nhưng không phải. Về đến địa hạt Dương Xuân Thượng, chúng tôi biết rằng đã có nhiều gia đình về trước chúng tôi đến cả nửa tháng. Trên con đường núi đưa về chùa, cỏ mọc che cả lối đi. Chú Tâm Mãn đẫn đầu đoàn người hồi cư, có vẻ nóng nảy hơn hơn ai hết.
Nếu một ngày có hai mươi bốn giờ thì trong cơ thể em cũng nhốt đủ hai mươi bốn cái xương sườn. Một ngày kia, có thể gọi là giờ thứ hai mươi lăm, em gặp phải tai nạn làm gãy mất một cái xương sườn. Vào bệnh viện, chụp quang tuyến X và người ta ra tay giải phẫu, thò tay vào chỗ hóc hiểm để bắt tạm cho em một con vít bằng kim loại, hy vọng đôi ba tháng sau em thôi ca cẩm hát hò bản nhạc “chuyện một chiếc cầu đã gãy”.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.