Hôm nay,  

Cái Chết Của Kẻ Mơ Mộng

20/12/201910:08:00(Xem: 8455)

 

cai chet cua mot ke mo mong
Hình minh họa: Đinh Trường Chinh

 

Tôi từng bị ám ảnh không biết sau khi mình chết đi thì mọi việc sẽ như thế nào. Và thế là vào một đêm, tôi quyết định giả chết.
Tôi tập xuất hồn ra khỏi xác giống như việc bạn tách múi sầu riêng ra khỏi vỏ của nó vậy. Người ta đưa xác tôi vào bệnh viện. Tôi nghe họ nói cần làm giải phẩu để tìm nguyên nhân khiến một thằng đang khoẻ mạnh bỗng đột nhiên lăn đùng ra tắt thở. Họ nghi ngờ tôi chết không minh bạch.
Khi linh hồn tôi tách ra khỏi thân xác, vì quá yếu nên bị vướng lại trong một căn phòng. Tôi thấy mình bị bao phủ bởi một chiếc lưới bùng nhùng được đan bằng vô vàn ký tự. Phải mất một lúc sau đó tôi mới nhận ra những ký tự nọ xuất phát từ mớ chữ trong các câu chuyện tôi đang viết dở. Trong đó có cả những ký tự từ thời xa xưa tôi viết giùm thư tình cho đám bạn học để chúng trả tiền cà phê sáng cho tôi. Các con chữ nằm lộn xộn và trông có vẻ vô hại theo một cách nào đó. Còn ý nghĩa của chúng là gì khi ghép lại với nhau, điều đó thuộc về một bí mật khác. Tôi nghĩ chúng không liên quan gì đến việc đột nhiên tôi muốn chết.
Lúc đầu tôi đâm hoảng thật sự. Tôi biết sẽ không ai có thể giúp được linh hồn tôi thoát khỏi căn nhà của mình. Những người thân của tôi thì đang bận. Họ lúc nào cũng bận biụ. Nếu không phải đi làm, chắc họ sẽ rủ nhau đi picnic hoặc ngủ chẳng hạn. Nhiều người nhầm lẫn khi nói nghỉ ngơi không phải là thứ công việc. Còn nếu không có việc gì để làm, chắc họ sẽ đến than khóc bên cái xác của tôi trong bệnh viện. Ấy là tôi nghĩ thế. Đến giờ, nhiều người trong chúng ta vẫn còn tin rằng nước mắt có thể làm cho người chết sống lại. Nhưng nếu có mặt ở đây, chắc họ cũng không thể giúp được gì. Bởi lẽ không một người sống nào có thể nghe được tiếng nói của linh hồn.
Ngôi nhà vắng đến rợn người. Linh hồn tôi cứ lơ lửng trong phòng. Đầu tiên tôi nhìn thấy lũ kiến. Chúng bò dọc theo các bức tường lên trần nhà. Có vẻ chúng đang cố tiến về phía tôi. Lẽ ra chỗ của chúng là ở nhà bếp, nơi những mẫu thức ăn thừa còn vương lại sau bữa tối. Chắc lũ khốn đã ngửi thấy mùi tử khí. Tôi nghĩ chẳng bao lâu nữa chúng sẽ xơi tái tôi.
Trước nhà, những người hàng xóm vẫn còn đứng nán lại sau khi xe cứu thương đã đưa xác tôi đi. Họ ngạc nhiên lẫn tò mò khi tin tôi chết. Trong câu chuyện trao đổi giữa họ, tôi là một người hoàn toàn lập dị và hơi điên rồ. Có một bà sồn sồn nói chính mắt trông thấy tôi đứng đái vào khóm hoa trước nhà mẻ vào lúc nửa đêm. Trong khi tay hàng xóm lại nói nhiều lần muốn gọi cảnh sát hốt tôi vào khám vì thói quen hay tụ tập bạn bè ồn ào mỗi cuối tuần. Hắn qủa quyết từ ngày tôi dọn về đây sống, bệnh mất ngủ của hắn ngày một nặng thêm. Hắn còn nói tôi nốc rượu như hũ chìm và hay lảm nhảm đọc thơ, lời lẽ rối rắm đến Chúa cũng không hiểu được.


Tất nhiên là tôi rất giận khi nghe hắn nói. Cái thằng khốn ấy chuyên đến uống rượu ké nhà tôi không biết bao nhiêu lần. Tôi nhớ hắn còn bảo tôi là láng giềng tốt nhất của hắn. Nếu biết trước như thế này chắc tôi đã bán nhà tếch đến một vùng biển nào đó bán hot dog và nằm nghe sóng vỗ còn hơn. Không ai có thể sống nổi với những tay hàng xóm suốt ngày hăm he đòi tống mình vào tù.
Tôi giận đến nỗi không muốn chết nữa. Bằng một ý chí mạnh mẽ, linh hồn tôi bỗng thoát được ra khỏi căn phòng và lao đến bệnh viện.
Tôi tỉnh dậy vừa kịp lúc tay bác sĩ giơ con dao mổ rạch vết cắt đầu tiên vào chỗ trái tim tôi nơi lồng ngực...
Khi mở mắt, điều đầu tiên tôi thấy được là những vòm sáng yếu ớt từ các ngọn đèn trong phòng mổ. Chúng hắt ra thứ áng sáng xanh kỳ dị như không có thật. Có vài bóng người trong phòng. Họ mặc những chiếc áo choàng liền thân, trông có vẻ cùng màu với thứ ánh sáng mơ hồ kia. Tất cả đều mang khẩu trang kín mít, chỉ chừa lại đôi mắt. Người đàn ông đứng gần tôi nhất về phía bên trái, trên tay đang nắm một thứ dụng cụ trông rất kỳ lạ. Nó trông giống con dao bạn thường dùng để cắt beefsteak nhưng lưỡi mảnh hơn và phần mũi cong hẳn về phía trên như ngọn mác. Cái vật nhỏ nhắn ấy không ngừng toát ra thứ ánh sáng lạnh lẽo đến vô tình khiến chân lông tôi dựng lên. Người đàn ông mở khẩu trang và nói gì đó với tôi. Từng chuỗi âm thanh xô đẩy nhau, loãng ra rồi tắt ngấm trên khuôn mặt với hàm râu quai nón rậm rịt. Tôi thấy mí mắt mình nặng dần và khép hẳn lại. Có điều gì đó trống rỗng lại vừa xa vắng xâm chiếm tâm hồn tôi.
" Con kêu ba đi," người đàn bà chỉ tay vào tôi và nói với đứa bé chừng bốn tuổi khi cả hai đứng sát bên giường bệnh....
" Anh thật không nhớ em và con sao?"
Khuôn mặt người đàn bà và đứa trẻ trông vừa thân thiết lại vừa xa lạ. Trong phần tối tăm của ký ức tôi như có ánh chớp thoáng qua rồi mất hút. Tôi như người đang chìm sâu trong huyễn cảnh không tìm thấy lối ra, bỏ lại quá khứ trong khoảng trống phía sau cánh cửa đã được đóng kín.
Người đàn bà nhìn tôi một lúc, xong bước đến chỗ chiếc ghế vải dành cho khách thăm nơi góc phòng và ngồi xuống. Tay bà ta ôm chặt đứa trẻ vào lòng như thể nếu không làm thế đứa bé sẽ rời xa, thậm chí biến mất. Đôi mắt người đàn bà ngấn nước và phảng phất một nỗi hoang mang vô hạn. Khuôn mặt người đàn bà còn khá trẻ, nhưng với làn da tái xanh và cử chỉ mệt mỏi kia, có điều gì đó khiến tôi nghĩ bà ta vừa chợt đánh mất cả tuổi xuân của mình ngày hôm qua.
Rất nhiều tháng sau đó, ở một khu ngoại ô buồn tẻ nọ, người ta thấy có một người đàn ông hàng ngày ngồi thẩn thờ trước hiên nhà, trên tay thỉnh thoảng lại cầm chiếc gương soi như đang tập làm quen với khuôn mặt của mình.

 

Nguyễn Văn

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tiếng niệm chú rì rầm trầm hùng vang rền cả đại điện, bóng các tăng sĩ trong màu áo huyết dụ lắc lư, tay lần tràng hạt trong ánh đèn bơ lung lay trông thành kính vô cùng. Toàn bộ mọi người như nhập thần vào câu chú, thân người ngồi đó mà thần thức như ở cung trời nào chứ chẳng phải trên mặt đất này. Khói trầm phảng phất bay lên, pho tượng Phật trên toà tay bắt ấn kiết tường, mắt mở to như nhìn thấu những tấn tuồng của trò đời, thông suốt những nỗi đau của chúng sanh, biết tường tận tâm can của của mỗi người.
Chiếc đồng hồ treo trên vách gõ nhịp nhàng hai tiếng thảnh thót giữa đêm khuya tĩnh mịch. Từ đàng xa, vài con chó trong xóm vắng gầm gừ sủa ma nghe thấy lành lạnh người. Tiếng gió đưa xào xạc mấy hàng dừa bụi chuối bên hè cộng thêm giọng ểnh ương oàng oạc tạo thành khúc nhạc êm ái đặc biệt hắt hiu của đồng quê miền Nam. Mùi hương hoa bưởi hoa cau cũng nương theo làn gió đêm len lén vào nhà nghe thoang thoảng nhẹ nhàng. Cho tới giờ này mà Phi vẫn chưa ngủ được, nó cứ nằm lăn qua trở lại với nỗi buồn nhức thịt nhức da, đau buốt tâm can vì sáng mai này nó phải chia tay với con Hồng Thắm, người chị láng giềng lớn hơn nó hai tuổi và cũng là người mà nó thân thiết nhất xóm, còn hơn cả con Mai em gái của nó nữa . Mà nói nào ngay thì Hồng Thắm có đi xa xôi cách trở gì cho cam, chị chỉ qua Mỹ Tho học mà từ nhà tụi nó ở ngay chợ Ngã Tư An Khánh-Bình Đại (Bến Tre) qua có cái Bắc Rạch Miễu là đã tới nơi rồi.
An cười, nhưng chợt khựng lại với ý nghĩ không biết bao giờ mới có thể cùng Mẹ đến những chỗ đông vui như vậy. Hơn hai tuần lễ thực hiện điều “ở yên trong nhà” mà thấy lâu như cả năm. Mặc dù An đã kéo hết công việc về làm tại nhà, không phải đi đến sở, An thấy vẫn còn nhiều thì giờ trống. Chính là những lúc trước đây dành cho việc chạy bộ tập thể dục, là những lúc đẩy xe cho Mẹ đi dạo để hít thở chút khí trời trong lành, là những buổi họp mặt bạn bè, đàn ca hát xướng cho vui… Nhiều lắm! Khi bình thường không ai để ý những điều đó, đến khi phải sống trong một bầu không khí mới, sẽ thấy có sự khác biệt rõ ràng.
Thắp nhang tụng thời kinh công phu buổi sáng, tôi mỉm cười đón tia nắng mai đầu Xuân đang lạnh tràn lên chiếc áo tràng và thành tâm cầu nguyện “âm siêu dương thái, dịch bệnh tiêu trừ” cho đệ tử và chúng sanh không phân biệt. Tiếng chuông hồi hướng đưa tôi vào ngôi chùa Tự Tại để được sống thêm một giờ, một ngày hay bao lâu nữa cũng được trong thanh tịnh và an vui.
Để tưởng nhớ đến các đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trên bước đường đi tìm tự do Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum . Bà Elizabeth Becker trong quyển sách "Khi chiến tranh đã chấm dứt , 1986" dẫn chứng lời của vị Đặc Ủy Tối cao Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc: 250.000 thuyền nhân chết trên biển cả; 929.600 người được tỵ nạn. Tâm trạng hắn lúc đó thật là phức tạp. Hắn vừa hồi hộp, vừa lo lắng, vừa bùi ngùi đứt ruột vì phải xa lìa đất mẹ, nhưng đồng thời hắn cũng cảm thấy vô cùng phấn khởi náo nức khi nghĩ đến mỗi bước đi tới sẽ là những bước đưa gia đình hắn đến gần một chân trời mới đầy tự do và hy vọng… Tất cả mọi người đều bị ếm trong khoang ghe, không được gây tiếng động. Mấy cháu bé đều bị cho uống thuốc ngủ trước đó hết. Trong khoang ghe, tất cả được chia nhau ngồi chen chúc dọc theo hai bên vách. Mọi người đều im lặng.
Biển mùa hạ xanh biếc, màu xanh tưởng chừng như thông suốt từ đáy biển lên tận bầu trời, cái màu xanh mát mắt lạ thường, chỉ nhìn thôi đủ thấy khoan khoái, bao nhiêu bực dọc và phiền não như tan trong làn gió. Hàng ngàn người đang vùng vẫy trong làn nước xanh mát ấy.
Mỗi lần mùa đông trở về với Cali, tôi lại bồi hồi nhớ lại những mùa đông ở một nơi khác. Không phải là những mùa đông êm ả, thân quen của Đà Lạt, nơi tôi sinh ra và lớn lên, mà là những mùa đông lạnh lẽo, vô cùng khắc nghiệt ở một nơi khác, xa lăng lắc. Nơi chốn đó đã cho tôi bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, nhớ nhung của tuổi thanh xuân. Thành phố nhỏ bé đó có tên là Komsomolsk, ở tận xứ Ukraine xa tít mù, nơi tôi đã sống và làm việc trong suốt bốn năm trời, và cũng là nơi đã hun đúc nên một tình yêu cho mãi đến bây giờ.
Trong tình hình "cấm túc tại gia", hầu hết mọi người ở nhà, không lái xe đi xa, tai nạn xe cộ gần như không có, vì đường nhỏ, đường lớn đều "đường thênh thang gió lộng một mình ta", công ty AllState sẽ hoàn lại 600 triệu tiền bảo hiểm cho những người mua bảo hiểm xe hơi của họ. Hy vọng AAA, Công ty bán bảo hiểm lớn và lâu đời nhất ở Mỹ cũng sẽ theo bước chân của AllState . Điều buồn nhất là theo nhiều ý kiến chuyên môn, phải mất một khoảng thời gian dài, rất dài trước khi cuộc sống trở về bình thường. Coronavirus không chỉ đến rồi đi, mà còn ở lại và tung hoành ngang dọc. Đời sống vốn buồn nhiều hơn vui,trong tình hình này dường như phải đổi thành đời sống vốn dĩ buồn lo.
Cứ mỗi độ Xuân về là Phong nhớ lại một mùa Xuân kỷ niệm vào đầu thập niên 60 lúc chàng đang học lớp Đệ Nhất trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Thuở ấy, mặc dù theo học ban B nhưng Phong lại rất thích văn chương thơ nhạc nên thường tới nhà cậu 9 Hoàng là cậu ruột của Phong để học đàn vì Cậu 9 rất giỏi về băng cầm và Tây Ban Cầm. Sự giao du của hai cậu cháu thân tình tới độ có lúc cả hai tưởng chừng như là hai anh em mặc dù cậu lớn hơn Phong tới 13 tuổi và ngay cả đứa con trai lớn của cậu là thằng Long chỉ nhỏ hơn Phong có 7 tuổi.
Trời ngả chiều nhưng mặt trời vẫn sáng rực rỡ. Nắng vàng ấm và gió nhẹ khiến phố xá thêm êm đềm tươi mát, mà đường phố vắng tanh chỉ lác đác vài chiếc xe vài bóng người. Đại dịch và chỉ thị giới hạn sinh hoạt đã trả cho thành phố cái thanh bình yên ắng. Ngà nhớ những bức ảnh Sài Gòn xưa đăng trên những trang facebook, cái thuở thái hòa những năm 1930’s, 40’, và 50’s, khi Sài Gòn chỉ nhiều nhất một vài triệu dân và mọi sinh hoạt dường như nhỏ nhẹ.
Gương mặt thoáng nụ cười nhẹ nhưng lộ vẻ mãn nguyện, khi một làn sóng đê mê lan toả khắp thân thể. Smith Baron cảm nhận có bàn tay ai đó ve vuốtthân thể mình, bàn tay vô hình áp lên má và ôm ấp lấy ngực… Smith Baron trở mình, mở mắt vì tiếng con puppy sủa ăng ẳng bên giường, thoáng thấy bóng mờ mờ như nhân dạng người đang bước về hướng cầu thang.
Thiếu Tá Lê Hữu Nhân với giọng nói đều đều, có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới thiệu và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày ba mươi tháng Tư bảy lăm: - Tôi là lính địa phương quân đóng ở Bến Tre trước bảy lăm. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngòai Bắc: Hoàng Liên Sơn rồi Lào Kai. Đầu năm tám mươi họ chuyển chúng tôi về Nghệ Tĩnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm tám mươi tôi được ‘lệnh tha’ thuôc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngòai Bắc nghề chính của tôi là sẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái…


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.