Hôm nay,  

Dịch là hành trình gian nan

14/11/202510:22:00(Xem: 3384)
blank

Dịch là hành trình gian nan
 

Nguyên Giác
 

Bạn hãy hình dung rằng thế giới này chỉ có ngôn ngữ nói, và không có chữ viết. Lúc đó, chung quanh chúng ta sẽ dày đặc các bức tường cách biệt ngôn ngữ dựng lên. Thế rồi, hãy hình dung sau khi có các phát minh ra chữ viết, lá bối, giấy, mực và rồi máy in... những bức tường ngăn cách đó từng lớp ngã xuống. Vai trò người dịch hiển lộ y hệt như các chiếc cầu nối để truyền thông. Từ đó, tôn giáo lan truyền tới nhiều nơi xa. Tuy nhiên, dịch là một chuyện cực kỳ gian nan.

Chúng ta biết tới Phật giáo và các tôn giáo khác là qua các bản dịch tiếng Việt, và các ngôn ngữ phổ biến khác, như tiếng Anh, tiếng Pháp. Thực ra, không dễ để chuyển ngữ trọn vẹn, đem một bầu không khí văn hóa này sang người đọc ở nền văn hóa khác mà không rơi rớt chữ dọc đường. Vấn đề là, cần nhận ra mức độ rơi rớt ý nghĩa ở một mức tương đối có thể chấp nhận được.

Thí dụ, trong khi dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, chúng ta có thể lúng túng khi gặp các chữ như: Thầy, Đại đức, Thượng tọa, Hòa thượng. Thiền sư Nhất Hạnh để y nguyên chữ "Thầy" và không dịch ra trong các sách Thầy viết in trong ấn bản tiếng Anh, tiếng Pháp. Chúng ta không biết ý Thầy Nhất Hạnh thế nào, nhưng có thể suy đoán rằng, chữ Thầy trong tiếng Việt còn hàm ý như Cha, như người tái sinh cho chúng ta trong nghĩa tâm linh. Nếu dịch là "teacher" thì chỉ là người truyền kiến thức. Trong khi đó, các chữ Đại đức, Thượng tọa, Hòa thượng trong tiếng Việt lại mang ý nghĩa hành chánh, tới lúc nào đó là cần phong cấp, không đủ ý nghĩa tâm linh.

Do vậy, chúng ta dễ hiểu vì sao ngài Thích Trí Quang ưa tự ký tên là "Sa môn Thích Trí Quang" vì chữ sa môn là phiên âm từ  tiếng Phạn (Sanskrit) cho  "śramaṇa", chỉ cho người xuất gia, rời bỏ gia đình, cạo bỏ râu tóc và khoác áo cà sa. Và chúng ta cũng quen gọi đơn giản, theo truyền thống, thí dụ: Thầy Trí Quang, Thầy Thanh Từ, Thầy Nhất Hạnh, Thầy Tuệ Sỹ... Có một chữ xưng hô nằm ngoài hệ thống hành chánh, và rất khó dịch, là chữ "Ôn" -- may mắn, chữ này thịnh hành riêng ở Miền Trung Việt Nam.

Các Kinh sách tiếng Anh thường dịch các vị Thầy tôn kính là Venerable. Thế rồi, hệ thống hành chánh nhiều quốc gia cho thêm chữ Most Venerable (Bậc rất tôn kính). Các sách cũng có chữ về bậc rất tôn kính, như: Venerable Sir (để chỉ vị sư cao cấp). Hay đơn giản là: Senior Venerable hay Senior Master. Trong văn nói và văn viết, có khi chúng ta thường nghe là "sư phụ" -- chỉ có nghĩa là Thầy. Đối với vị thầy có uy lực tâm linh, có khi được dịch là: Spiritual Master. Nếu chúng ta dịch và bị xem là dịch sai, thế nào cũng bị người này hay người kia rầy.

Trong khi đó, ngay cả các nhà sư Hoa Kỳ và Úc, các vị từng dịch Tam tạng Kinh Pali sang tiếng Anh, đều dùng các chữ mà chúng ta quen dịch là Tỳ kheo, hay Tỳ khưu, trước tên. Thí dụ, các Tam Tạng Pháp Sư như ngài Bhikkhu Bodhi, hay như ngài Bhikkhu Sujato (còn dùng pháp hiệu: Ajahn Sujato, Bhante Sujato), hay như ngài Ṭhānissaro Bhikkhu (còn dùng pháp hiệu: Ajahn Geoff). Họ không dùng thứ bậc hành chánh. Đơn giản, là nhà sư, thế là tuyệt vời rồi.

Trong cương vị người dịch, tôi ưa thích sự đơn giản. Riêng chữ Thầy là đẹp nhất, vì mang ý nghĩa của người Cha. Hãy nhớ rằng, những dịch giả xuất sắc nhất thế giới thường khi vẫn không đồng ý với nhau. Thí dụ, chữ Dukkha trong tiếng Pali (tiếng Sanskrit là: duhkha), trong tiếng Việt thường dịch là Khổ. Nhưng đúng ra, Dukkha có cả chục nghĩa gần nhau trong tiếng Anh, tóm gọn là: đau khổ, đau đớn, bất như ý, buồn phiền, không vui, lo lắng, khó chịu, căng thẳng, thất vọng.

Tương tự, chữ "định" khi dịch sang tiếng Anh là: concentration, immersion, absorption... Và dịch ra thế nào, cũng không đủ nghĩa.  

Chúng ta lấy bài Kệ Pháp Cú số 5 làm một điển hình để thấy quý thầy dịch đôi khi dị biệt nhau. Nơi đây, tất cả các bản tiếng Anh sẽ dịch ra tiếng Việt sát nghĩa để so sánh. Đối chiếu, nơi đây chúng ta lấy bản của Thầy Minh Châu làm điểm mốc.

Pháp Cú 5 (Thầy Minh Châu dịch): Với hận diệt hận thù, Đời này không có được. Không hận diệt hận thù, Là định luật ngàn thu.

Ngài Sujato dịch: Bởi vì hận thù không bao giờ được hóa giải bằng hận thù, mà được hóa giải bằng tình yêu: đây là một lời dạy cổ xưa.

Ngài Suddhāso dịch: Sự thù địch không bao giờ được hóa giải bằng sự thù địch. Chỉ bằng sự không thù địch, nó mới được hóa giải. Đây là chân lý vĩnh hằng.

Ngài Ānandajoti dịch: Bởi vì hận thù không thể chấm dứt ở nơi này, chúng chỉ chấm dứt khi không còn hận thù, chân lý này chắc chắn là vĩnh cửu.

Ngài Buddharakkhita dịch: Hận thù không bao giờ được hóa giải bằng hận thù trên thế gian này. Chỉ có không hận thù mới hóa giải được hận thù. Đây là quy luật vĩnh hằng.

Ngài Peter Feldmeier dịch: Bởi vì thù hận không bao giờ được hóa giải bằng thù hận. Chúng chỉ được hóa giải bằng hòa bình. Đây là quy luật vĩnh cửu.

Ngài Thanissaro dịch: Thù địch không thể chấm dứt bằng thù địch, dù sao đi nữa. Thù địch chỉ có thể chấm dứt bằng phi thù địch: đây, một chân lý bất tận.

Chúng ta thấy rõ dị biệt qua các bản dịch trên, đôi khi xa nghĩa nhau: hóa giải hận thù bằng không hận thù, thì hiển nhiên khác với hóa giải bằng tình yêu, khác với hóa giải bằng hòa bình... Tương tự, định luật ngàn thu thì hiển nhiên khác với lời dạy cổ xưa, khác với quy luật vĩnh cửu, khác với chân lý bất tận...

Do vậy , dịch là công việc gian nan, và có khi những vị Thầy uyên bác nhất vẫn bất đồng.

Bây giờ, chúng ta nói tới hai tranh trong Mười Bức Tranh Chăn Trâu. Thầy Thanh Từ chú giải theo bản Quách Am. Thầy Tuệ Sỹ chú giải theo bản Quách Am và Phổ Minh.

Bài tụng của Thiền sư Quách Am là "Vong ngưu tồn nhân: quên trâu còn người" (tranh số 7), và "Nhân ngưu câu vong: người trâu đều quên" (tranh 8).

Bài tụng của Thiền sư Phổ Minh là  "Nhiệm vận: theo phận" (tranh 7), và "Tương vong: cùng quên" (tranh 8).

Bài tụng của Thiền sư Cự Triệt là "Kỵ ngưu: cưỡi trâu" (tranh 7), và "Vong ngưu: quên trâu" (tranh 8).

Chữ Vong (忘) gồm 7 nét trong các câu trên có nghĩa là Quên. Trong ngôn ngữ đời thường, văn báo chí, các bản tin khi nói về tử vong, thì Vong (亡) gồm 3 nét, nghĩa là chết.

Đây là chỗ kẹt của ngôn ngữ: ngưu là chỉ cho tâm, nhưng "quên tâm" thì không nói lên được ý của các Thiền sư.
 

Chúng ta thấy rằng, thức là dựa vào duyên thì có khởi lên và biến mất. Thí dụ, duyên theo tiếng đàn, thì nhĩ thức khởi lên. Nhưng ngay cả khi tiếng đàn ngưng bặt, thì tâm vẫn còn nghe sự vắng lặng, tâm vẫn trong trẻo, lặng lẽ an nhiên. Cho nên, nói "quên tâm" là chưa nói tột ý. Tương tự, hình ảnh con chim bay trước mắt ta, thì nhãn thức khởi lên, nhưng khi chim bay đi, thì tâm như gương sáng hiện lên. Nghĩa là, cái biết về hình ảnh chim bay và tiếng đàn réo rắt là tâm hiển lộ, thế rồi khi ảnh chim và tiếng đàn biến mất thì cái biết trở thành một tấm gương trong trẻo, vô hình, vô thanh, nhưng nói rằng nó là cái gì thì đều không trúng. Do vậy, nói “quên tâm” chỉ là tạm nói, gượng nói.
 

Ngay các dòng đầu tiên của Bát Nhã Tâm Kinh cũng nói về bức tranh thứ 7 và 8 này: "...sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị."

Sắc chính là cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, cái được tư lường... chính là Không, và rồi cái Không này cũng chính là Sắc (cái được thấy, cái được nghe, cái được ngửi, cái được nếm, cái được chạm xúc, cái được tư lường). Hễ sống và nhận biết thường trực như thế, là giải thoát. Kinh Susima Sutta (SN 12.70) cho thấy có 60 vị sư trở thành A la hán chỉ bằng nhận biết vô ngã thường trực, trong khi chưa hề nhập định, chưa hề đắc thần thông gì lạ.
 

Trở lại các tranh chăn trâu, ý nghĩa của “quên trâu” chỉ có nghĩa là nhận ra thường trực rằng Tâm chính là Không. Tuy nhiên, nếu không dịch là chữ “vong” (quên) thì dịch làm sao cũng dễ chệch nghĩa.

Chữ “quên tâm” không hề có nghĩa thất niệm, cũng không hề nói có con trâu nào để quên hay để nhớ, mà chỉ muốn nói rằng thực tướng của Tâm chính là Không, và do nơi Không đó, giải thoát mới hiển lộ.
 

Một số người thường thắc mắc rằng, nhiều luận sư Đại thừa nói Phật Tánh có sẵn và không hề biến mất, tại sao chúng ta phải tu hành nữa. Thực ra, Đức Phật không dùng chữ Phật Tánh, mà dùng chữ Pháp vô vi, chính nhờ có Pháp vô vi này, chúng ta mới giải thoát.

Như chuyện chàng nghệ sĩ xiếc Uggasena trong Kinh Pháp Cú bài Kệ 348, bản chú giải ghi rằng khi chàng Uggasena đang đứng trên chiếc sào làm trò giữa chợ, thì Đức Phật đến. Sau khi Đức Phật nói  bài kệ: “Hãy buông bỏ quá khứ, hãy buông bỏ tương lai, hãy buông bỏ hiện tại...” thì chàng Uggasena, người vẫn còn trên đỉnh cây sào, đã chứng đắc quả A-la-hán. Buông bỏ hết, thì cái gì hiện ra? Gọi là Phật Tánh hay gọi là Pháp vô vi thì cũng là để nói cho người khác hiểu. Bởi vì, người hiểu rồi, sẽ thấy rằng ngôn ngữ không chuyên chở được diệu pháp.
 

Tại sao như thế? Không có nghĩa là “quên tâm”, mà chỉ có nghĩa là buông bỏ toàn bộ thân tâm ba thời, tức là buông bỏ toàn bộ pháp hữu vi của sắc thọ tưởng hành thức của ba thời, thì sẽ hiển lộ Pháp vô vi, tức là Niết Bàn, không phải mài giũa gì.

Thiệt sự, dịch cho đúng chữ, lúc nào cũng gian nan. Mà làm sao có chữ nào gọi là đúng được. Vì tâm này là nơi ngôn ngữ sẽ vắng bặt.

 



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cựu luật sư bào chữa của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, Joe Tacopina, trong một bức thư gửi lên tòa án liên bang Manhattan vào đầu ngày thứ Hai 1/5/2023, đã yêu cầu tòa phán là "phiên tòa sai lạc" (mistrial) đối với vụ án dân sự do Jean Carroll, một phóng viên cáo buộc Trump cưỡng hiếp, khởi xướng.
Như vậy, ông Trọng và đảng của ông Trọng không chỉ có khả năng dễ dàng tham nhũng, vơ vét ngân quĩ, tiền bạc công khố, tài nguyên của Việt Nam mà còn có khả năng dễ dàng nhận được hỗ trợ tiền bạc từ thế lực nước ngoài muốn thôn tính Việt Nam. Ông Trọng có bao nhiêu đô-la, bao nhiêu ngoại tệ hay bao nhiêu vàng là điều chúng ta có thể không bao giờ biết. Nhưng chắc chắn không thể ít...
Kẻ Bắc/người Nam, bên thua/bên thắng nên họ đã phải trải qua những hoàn cảnh và kinh nghiệm sống khác nhau. Duy có điều này thì chắc chắc là hoàn toàn không khác : khi họ chết không ai nhắm mắt!
✱ SCMP/Mỹ: Chúng tôi chắc chắn sẽ hoan nghênh bất kỳ nỗ lực nào nhằm đạt được một nền hòa bình công bằng miễn là nền hòa bình đó, như tôi đã nói, có thể bền vững và đáng tin cậy. ✱ SCMP/Pháp: Tôi biết tôi có thể tin tưởng vào việc ông Tập sẽ khiến Nga tỉnh táo và đưa mọi người trở lại bàn đàm phán. ✱ Global Times: Cuộc điện đàm này cũng là nỗ lực mới nhất của Trung Quốc nhằm thúc đẩy ngừng bắn và lập lại hòa bình càng sớm càng tốt. ✱ Moscow Times: Chúng tôi sẵn sàng hoan nghênh bất cứ điều gì có thể giúp chấm dứt xung đột ở Ukraine và đạt được các mục tiêu của Nga...
HỒ SƠ: Thơ 30 Tháng Tư 1975 - (“Tháng Tư, Lính Không Cần Hớt Tóc” - Nguyễn Phúc Sông Hương) Chén cơm làng Long Thạnh Mỹ ngày 30/4. Tiểu Đoàn hai hàng đều bước / Tay không súng đạn,/ Vẫn ngước cao đầu,/ Dân làng bên đường / Vỗ tay chào đón,/ Người được thắng trận / Ngơ ngác nhìn nhau./ .Ba trăm người sát vai ngồi xuống,/ Cởi giày, vắt vớ, nói, cười. / Nghe trong đám đông / Tiếng ai sụt sịt / Các chú lính ơi! / Mẹ già đem cơm, canh, cá,/ Các con ăn nhiều cho no, / Nhìn bầy con ăn ngon quá,/ Mẹ vui, cảm động khóc òa./ Sư già rộng mở cửa Phật,/ Đêm nay thầy không thĩnh kinh Các con vào chùa yên ngủ* / Quên ngày gian khổ chiến chinh. / Chuyện xưa nhiều khi nhớ lại,/ Tưởng chừng như mới hôm qua,/ Chén cơm làng Long Thạnh Mỹ /Chan canh với hạt lệ nhòa...
Từ Ất Mão 1975 đến Quý Mão 2023 là 48 năm, tròn 4 con giáp từ ngày nước Việt Nam thống nhất. Sau 10 năm với chính sách bao cấp khiến kinh tế gặp khó khăn, từ dấu mốc “đổi mới” 1986 mở cửa giao thương với phương Tây, bỏ chủ trương kinh tế tập trung, ban hành những cải cách cho giới tiểu thương tự do kinh doanh, tạo ra nền kinh tế nhiều thành phần, bắt đầu từ đó Việt Nam phát triển...
Có thể nói “Mekong:Life” giống như một bản trường ca, như một lời kêu gọi đầy xúc động, khẩn thiết để bảo vệ dòng sông Mekong.
XÉT RẰNG, chúng ta phải dạy cho con cháu chúng ta và các thế hệ tương lai những bài học quan trọng từ Chiến tranh Việt Nam, kể cả hoàn cảnh của những người tị nạn Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc là một ví dụ mạnh mẽ về các giá trị tự do và dân chủ
Vào ngày 4/28/2023, nữ Dân Biểu Liên Bang Michelle Steel, Dân Biểu Lou Correa, cùng các Dân Biểu Brian Fitzpatrick, Jim Costa đã giới thiệu nghị quyết lưỡng đảng để tưởng niệm 48 năm Tháng Tư Đen
John Pennell, phát ngôn viên quân đội Mỹ tại Alaska, nói 2 trực thăng AH-64 Apache đã rơi ở Alaska trên đường trở về sau một chuyến bay huấn luyện, làm 3 chết và 1 bị thương.
Vào ngày 21 tháng 4 năm 2023, Tối Cao Pháp Viện (TCPV) Hoa Kỳ đã ban hành phán quyết khẩn cấp, cho phép tiếp tục sử dụng thuốc phá thai mifepristone ở các tiểu bang quy định việc phá thai là hợp pháp. Với vài chi tiết ít ỏi và chỉ nói rằng Thẩm phán Clarence Thomas và Samuel Alito không đồng tình, quyết định của TCPV tuân theo một quy trình pháp lý nhanh chóng để giải quyết câu hỏi liệu mọi người có thể mua mifepristone, một trong hai loại thuốc được sử dụng để phá thai nội khoa, hay không.
Ba năm sau khi đại dịch bắt đầu, thị trường lao động nóng đỏ cuối cùng cũng bắt đầu hạ nhiệt. Trong thời kỳ đại dịch, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động là do số lượng người di dân giảm. Người di dân thường chiếm phần lớn trong việc tăng trưởng lực lượng lao động.
BOSTON – Thành viên của Lực Lượng Vệ Binh Phòng Không Quốc Gia Hoa Kỳ (U.S. Air National Guardsman) bị buộc tội tiết lộ bí mật quân sự đã xuất hiện tại tòa án liên bang, theo tin từ Reuters.
STOCKHOLM – Theo một thỏa thuận ban đầu của EU, các công ty triển khai các công cụ Trí tuệ nhân tạo tổng quát (Generative AI), chẳng hạn như ChatGPT, sẽ phải công khai bất kỳ tài liệu có bản quyền nào được sử dụng để phát triển hệ thống của họ, theo tin Reuters.
Thống đốc Florida Ron DeSantis đang lên kế hoạch tham gia cuộc đua vào Bạch Ốc vào giữa tháng 5/2023 trong bối cảnh lo ngại rằng Trump có thể sớm được coi là người Cộng Hòa dẫn đầu bất khả chiến bại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.