Hôm nay,  

Đọc Ngô Thì Nhậm: Khi Tính Người Tịch Diệt

15/07/202509:22:00(Xem: 5428)
blank 

Đọc Ngô Thì Nhậm: Khi Tính Người Tịch Diệt
 

Nguyên Giác

 

Bài viết này sẽ phân tích lời dạy của sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh về ý chỉ Thiền Tông: Khi tính người tịch diệt, thì tính trời hiển lộ. Sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh là một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm. Tất cả các vị sư khác trong sách đều nói trong tông phong này.  Nơi đây, chúng ta trích nơi trang 414, nguyên văn như sau:

 
blank

(Trích)

Thứ mười: TIẾNG LẶNG LẼ KHÔNG CÓ TIẾNG

Tiên Nho nói: “Cái mà trời sinh ra thì gọi là tính.” (1) Người ta sinh ra thì tĩnh, cái đó không cần phải nói. Nhưng khi dã nói ra thì không phải là tính nữa rồi.

Đại thiền sư nói: “Diệt dược tính người thì gây được tính trời,” đại ý cũng tương đồng.

CHÚ THÍCH:

1. Lời của Cáo Tử trong sách Mạnh Từ, thiên Cáo Tử thượng. (Hết trích)

.

 

Ngài Ngô Thì Nhậm và các vị trong cuộc thảo luận ghi lại trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh đều học Nho từ thơ ấu để sẽ ra làm quan. Cuối đời, quý ngài mới vào chùa, xuất gia, sau khi tham dự những chuyển biến của lịch sử. Do vậy, chúng ta có thể đoán rằng đoạn văn này một phần cũng là để thuyết phục các Nho gia trước khi nêu Phật lý.
 

Trước tiên, chúng ta cần ghi chú về Chú thích. Cáo Tử là một triết gia sống cùng thời với Mạnh Tử, nổi tiếng với quan điểm con người sinh ra không thiện cũng không ác, mà bản tính được hình thành do giáo dục và hoàn cảnh. Cáo Tử từng nói rằng: "Tính vô thiện, vô bất thiện." (Tính không thiện, không bất thiện; nghĩa là, tính không thiện không ác gì cả.) Ông là một trong những người có cuộc tranh luận nổi bật với Mạnh Tử về bản tính con người. Cáo Tử cho rằng: “Tính người như dòng nước, khơi về Đông thì chảy về Đông, khơi về Tây thì chảy về Tây.”
 

Trong khi đó, Mạnh Tử lý luận: “Dòng nước tuy không phân biệt Đông Tây, nhưng nó phân biệt trên dưới. Tính người vốn thiện, như nước chảy xuống dưới vậy.”

Thiên Cáo Tử Thượng là phần đầu trong hai thiên Cáo Tử của sách Mạnh Tử, ghi lại các cuộc tranh luận giữa Mạnh Tử và Cáo Tử về bản tính con người (rằng có tính thiện hay không). Cáo Tử cho rằng “tính” là bản năng tự nhiên, không thiện không ác. Mạnh Tử thì khẳng định “tính người vốn thiện”, tức là con người sinh ra đã có mầm mống của nhân, nghĩa, lễ, trí.
 

Khi phân biệt giữa phần cao quý và phần thấp hèn trong con người, Mạnh Tử cho rằng nếu con người chỉ lo ăn uống, hưởng thụ thì sẽ đánh mất phần cao quý, trở nên giống như cầm thú. Mạnh Tử cũng dùng hình ảnh như “đứa trẻ sắp rơi xuống giếng” để chứng minh lòng trắc ẩn là bản năng thiện tự nhiên của con người. Trong sách Nho Giáo, nơi chương Mạnh Tử, bản dịch của Trần Trọng Kim, trích như sau:
 

Nói rút lại là Mạnh-tử cho cái tính của Trời phú cho người ta là thiện. Nếu có thành ra bất thiện, là vì người ta không biết giữ lấy cái bản tâm, chứ cái nguồn gốc của tính là không thể không thiện được. Ông nói rằng: «Nhân giai hữu bất nhẫn nhân chi tâm: Người ta ai cũng có cái lòng thương người... Giá bất-thình-lình người ta trông thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng, thì ai cũng có lòng bồn-chồn thương-xót.” (ngưng trích)

.

Nơi đây, chúng ta không rơi vào cuộc tranh luận của các Nho gia. Hãy mặc kệ quý Nho gia. Chúng ta chỉ bận tâm về ý chỉ Thiền Tông mà ngài Ngô Thì Nhậm muốn nói.
 

Về câu nói của các nhà Nho rằng “Cái mà trời sinh ra thì gọi là tính” khi hiểu qua văn mạch Phật giáo, chỉ nên hiểu là một pháp vô vi, nghĩa là pháp vô sinh, hay pháp vô sanh, không phải do cái gì sinh ra. Trái nghịch với pháp vô vi là pháp hữu vi. Đức Phật dạy rằng tất cả pháp hữu vi là vô thường.

Pháp hữu vi là có sanh, có diệt, do duyên mà hiện lên. Pháp hữu vi là tất cả những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc và tư lường. Nghĩa là, pháp hữu vi chuyển biến không ngừng. Đức Phật gọi đó là ba cây lau dựa vào nhau để hiển lộ thế giới của chúng ta: sáu căn gặp sáu trần thì hiển lộ sáu thức. Tất cả đều chuyển biến chớp nhoáng, không có thực tướng. Bạn có thể đứng nhỉn trận mưa nơi góc rừng, bạn sẽ thấy gió gào, mưa xối xả, hoàn toàn không có gì bất động.
 

Kinh Kim Cang nói về pháp hữu vi, ghi lời Đức Phật là:

Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán.
 

Dịch nghĩa là: Tất cả các pháp hữu vi, đều như giấc mộng, như huyễn ảo, như bọt sóng, như ảnh hiện, như giọt sương, như tia chớp lóe. Hãy cứ như thế mà quán chiếu.
 

Trong khi đó, pháp vô vi là pháp không thể thấy bằng mắt và không thể nghe bằng tai. Vì tất cả những gì mắt thấy và những gì nghe bằng tai đều là do duyên hiển lộ. Thí dụ, chúng ta đứng nơi góc rừng, thấy mưa, thấy gió, thấy lá cây nghiêng ngả. Tất cả đều do duyên mà có mưa, gió, cây lá nghiêng ngả. Khi gió ngưng, mưa dứt, thì tất cả hình ảnh đó biến mất trước mắt. Tương tự, chúng ta ngày Tết nghe pháo nổ, nghe trống múa lân. Các âm thanh pháo nổ và trống múa lân là do duyên, khi hết pháo và khi ngưng tay trống là âm thanh diệt. Các hiện tượng sinh và diệt cũng hiển lộ trên thân tâm chúng ta, cả ở mức thô và mức vi tế.
 

Khi ba cây lau dựa vào nhau, thế giới hiển lộ. Giả sử, rút một cọng lau, như ngưng tay trống, thì âm thanh tắt. Hay khi có người tới trước mắt, thì chúng ta thấy, khi người bước ra xa, chúng ta không còn thấy nữa. Nhưng ảnh người biến đi trước mắt, ảnh hạt mưa bay biến mất trước tánh phản chiếu của gương tâm, thì tánh phán chiếu của gương tâm không biến theo ảnh người, không biến theo ảnh mưa bay (nhưng vẫn đang thấy cái không ảnh người, thấy cái không ảnh mưa bay). Tương tự, khi tiếng trống tới, chúng ta nghe, khi tiếng trống ngưng, chúng ta không nghe tiếng trống (nhưng vẫn đang nghe sự tịch lặng), nhưng tánh phản chiếu nơi nhận biết nghe vẫn không biến mất theo tiếng trống.


 

Chư tổ Thiền Tông gọi cái biết không biến mất theo ảnh, không biến mất theo tiếng trống đó là Bản Tâm, hay là Tánh Biết. Nghĩa là tâm không chạy theo cảnh, không níu theo cảnh, tâm không lưu ảnh, để cho tất cả những gì thấy nghe như chim bay trên bầu trời, khi chim bay mất thì không lưu dấu. Chính cái bầu trời không lưu dấu bất kỳ dấu chân chim nào là chỗ để không dính vào sầu, khổ, sinh, diệt. Kinh Kim Cang gọi đó là: ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm. Nghĩa là, khi tâm không chỗ trụ, thì tâm Niết bàn hiện ra. Do vậy, ưng vô sở trụ, hay gọi tắt là vô tâm, hay vô niệm chính là cốt tủy của Thiền Tông.

 
Vậy thì, với người tu Thiền Tông, không níu vào bất kỳ vết chân chim nào trong bầu trời tâm chính là pháp tu không có phương pháp. Bởi vì, nếu nói rằng có bất kỳ phương pháp nào, như rất nhiều pháp do Đức Phật dạy trong Kinh Nikaya và Kinh A Hàm là dựa vào thân tâm ngũ uẩn để tu, tức là dựa vào thân tâm sinh diệt để từ từ đoạn trừ tham sân si để giải thoát (tức là pháp tu dựa vào pháp sinh diệt). Trong khi đó, Thiền Tông là pháp tu không dựa vào pháp sinh diệt, ngắn gọn, là pháp tu theo vô sanh diệt.
 

Làm thế nào tu theo pháp vô sinh diệt. Trước tiên, nên dựa vào lý luận Trung Quán để thấy tánh vô sanh diệt của tất cả các pháp. Đó là lý do có bài Bát Nhã Tâm Kinh, một bài cô đọng tất cả những lý luận của Bát Nhã. Rằng Sắc chính là Không. Nghĩa là, cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường suy nghĩ đều là không tự tánh, không tự ngã, không có thể được nắm giữ, và gọi ngắn gọn là Không. Và ngược lại, chính Không cũng là những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được chạm xúc, được tư lường suy nghĩ. Thường trực thấy như thế, là thường trực thấy tánh phản chiếu của gương mà không bận tâm tới ảnh hiện rồi biến, thường trực nghe tánh nghe của tai mà không bận tâm tiếng trống tới rồi đi, thường trực sống với bầu trời dung chứa rỗng không của tâm mà không bận tâm về chuyện vết chân chim còn lơ lửng hay biến mất nơi nào. Nhận ra như thế, là biết tu theo pháp không có pháp tu.
 

Trong Tạng Pali, Đức Phật nói rằng nếu không có cái không sanh, không do duyên thì chúng ta không thể giải thoát.  Trong Kinh Iti 43, Đức Phật dạy, chúng ta dịch như sau:
 

Này các Tỳ kheo, có một cái vô sanh, một cái không đưa đến hữu, một cái không bị tạo ra, một cái không do duyên mà thành. Này các Tỳ kheo, nếu không có cái vô sanh, không đưa đến hữu, không bị tạo ra, không do duyên, thì không có sự giải thoát nào có thể được nhận ra từ cái được sanh ra, được đưa đến hữu, được tạo ra, do duyên mà tới. Nhưng vì có một cái vô sanh, một cái không đưa đến hữu, một cái không do tạo ra, một cái không do duyên mà tới, do đó có sự giải thoát được nhận ra từ cái được sinh ra, được đưa đến hữu, được tạo ra, do duyên mà tới.” (ngưng dịch)
 

Vậy thì, có cách nào đơn giản mà không cần ngồi thiền, không cần tập thở, không cần mài giũa gương tâm hay không? Cách đơn giản nhất là bạn hãy quy y Tam Bảo, hãy thọ giới, hãy giữ giới nghiêm ngặt. Khi bạn chuẩn bị sẵn sàng thì tự nhiên sẽ tới lúc bạn hiểu kinh, hay sẽ gặp một vị thầy tương ưng. Tuy nhiên, giả sử rằng bạn đang sống nơi nào trên thế giới, rất xa cộng đồng, thì  bạn hãy đọc kinh luận cho nhiều, và thử cách tu đơn giản này: hãy nói rằng Không Biết. Các văn bản tiếng Anh của Thiền Tông gọi đó là: "Don’t Know Mind" -- còn gọi là Tâm Không Biết, hay gọi là tâm hài nhi, tâm ban đầu.

 
Bạn có thể ngưng đọc một phút và tự nhủ rằng "Không biết" thì tất cả trong tâm bạn sẽ sạch trơn, sẽ không có xanh đỏ tím vàng, sẽ không còn buồn vui hờn giận, sẽ không còn dấu vết Nam Tông hay Bắc Tông, sẽ không còn dấu vết biện biệt thiện với ác, sẽ không còn ranh giới đúng với sai nữa, và Tâm Không đó chính là một bước để vào Gương Tâm trong trẻo, không do tạo tác, không hiển lộ từ ba cây lau nào hết. Nếu bạn thường trực sống với tâm không biết, bạn sẽ hiểu các Thiền ngữ để lại trong kinh sách Thiền Tông.
 

Trong Kinh SN 1.1, Đức Phật nói rằng để vượt lũ lụt, ngài không bước tới và cũng không đứng lại. Bản dịch của Thầy Minh Châu, trích như sau:

Đứng một bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:

— Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?

— Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.

— Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?

— Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới, thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.” (ngưng trích)
 

Có thể lý giải theo Bát Nhã Tâm Kinh rằng, ai đã sống thường trực với Tánh Không thì sẽ không thấy có thân ngũ uẩn nào đang bước tới hay đứng lại, thì lấy gì mà chìm được.
 

Nếu bạn tìm bản kinh tương đương bên A Hàm, bạn sẽ kinh ngạc thấy rằng văn phong Đức Phật nơi A Hàm đúng là văn phong Kinh Kim Cang. Đó là Kinh SA 1267. Bản dịch của hai Thầy Tuệ Sỹ và Đức Thắng ghi rằng: “Thiên tử, như vậy gọi là không chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ mà vượt qua dòng xiết.”
 

Nhắc lại, Đức Phật dạy rằng không chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ mà vượt qua dòng xiết. Đó chính là Kinh Kim Cang vậy. Nghĩa là, nếu bạn còn vin vào một bè pháp nào, dù là bè gỗ, bè tre, ghe hay thuyền thì đó cũng không phải là lời Đức Phật dạy cách qua bờ trong Kinh SN 1.1 và Kinh SA 1267: Nơi đây là Thiền Trúc Lâm, là Thiền Tổ Sư, là tâm không một chỗ trụ mà bước qua bờ sinh tử.

Gọi theo kiểu Nho giáo (của quý ngài Ngô Thì Nhậm) là, khi tính người tịch diệt thì tính trời hiển lộ. Đây cũng là tông chỉ Thiền Trúc Lâm vậy.

 

THAM KHẢO:

. Nho Giáo, Quyển II, Thiên II, bản dịch Trần Trọng Kim:

https://vi.wikisource.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o/Quy%E1%BB%83n_II/Thi%C3%AAn_II

 . Kinh Iti 43, giải thoát vì có một cái vô sanh, không do duyên:

https://suttacentral.net/iti43/en/ireland

. Kinh SN 1.1. Không bước tới, không đứng lại mà vượt lũ lụt

https://suttacentral.net/sn1.1/vi/minh_chau

. Kinh SA 1267. Không chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ mà vượt qua dòng:

https://suttacentral.net/sa1267/vi/tue_sy-thang

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
This afternoon, Mr. Năm has just finished burying the snake's body. He gave the snake the Dharma name Xả Ly (Renunciation), hoping that it would keep that vow even if it were reborn in any realm. There are many strange things in life. When he was a child and saw the titles "Gold and the Snake" or "Greed for Gold Turned a Person into a Snake," he didn't believe it, but now that he had seen the snake story personally, he realized he was still too foolish…../…… Chiều nay, ông Năm vừa chôn xác con rắn xong. Ông đặt pháp danh cho rắn là Xả Ly. Mong rằng nó giữ được hạnh nguyện đó dù tái sinh bất cứ cảnh giới nào. Trong cuộc sống có lắm chuyện lạ kỳ. Hồi nhỏ mỗi lần đọc chuyện tiền thân Phật, thấy mấy cái tựa “ Vàng và rắn”, “Tham vàng hóa rắn”, ông không tin, nhưng giờ tự mình mục kích chuyện con rắn, ông mới thấy mình còn ngu nhiều quá.
Một trận lốc xoáy đã làm 3 người chết tại thị trấn Matador ở Texas vào tối thứ Tư, với nhiều người bị thương hơn khi nhà cửa và cơ sở kinh doanh bị cơn bão cuốn trôi. Bộ An toàn Công cộng Texas có mặt tại hiện trường ở Matador đã xác nhận các trường hợp tử vong, trong khi 10 người khác bị thương sau khi cơn lốc xoáy đổ bộ vào khoảng 8 giờ tối Thứ Tư.
Đại lễ Phật Đản đã được tổ chức long trọng tại Tổ Đình Minh Đăng Quang vào chiều chủ nhật ngày 18/6/2023, với sự hiện diện của gần 200 vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, đại đức, ni sư, sư cô và nhiều Phật tử tham dự...
Khi RMS Titanic ra khơi vào ngày 10 tháng 4 năm 1912, nó là con tàu chở khách lớn nhất đang hoạt động và được cho là “không thể chìm.” Chỉ bốn ngày sau, chuyến đi đầu tiên của Titanic đã biến thành một thảm kịch lịch sử khi nó đâm phải một tảng băng trôi ở Bắc Đại Tây Dương lúc 11:40 tối ngày 14 tháng 4 năm 1912. Chỉ trong chưa tới ba tiếng đồng hồ, con tàu “không thể chìm” đã vĩnh viễn ở lại với đại dương. Khi thảm kịch xảy ra, trên tàu không có đủ xuồng cứu sinh cho khoảng 2,220 người. Hơn 1,500 người chết, và Titanic trở thành vụ đắm tàu nổi tiếng nhất trong lịch sử. Chỉ có hơn 700 người sống sót.
PARIS – Một vụ nổ lớn đã xé toạc một con phố gần Khu phố Latinh lịch sử của Paris; lực lượng cứu hộ đang tìm kiếm hai người mất tích, có thể bị chôn vùi dưới đống đổ nát của một tòa nhà bị sập một phần trong vụ nổ, theo trang Reuters đưa tin ngày Thứ Tư, 21 tháng 6 năm 2023.
Chính quyền CSVN vẫn giữ kín lý do tại sao 2 trụ sở UBND xã Ea Tiêu và Ea Ktur huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk đã bị một nhóm người Thượng tấn công vào khoảng 0h35 ngày 11/6 làm 9 người chết và 2 người bị thương...
Và tôi e rằng đa số người dân đã bị dồn đến chân tường rồi. Trước tình trạng này những đề nghị phát triển , hay “phát triển bền vững”, đều bất khả thi. Kinh nghiệm của nạn nhân cộng sản, ở những quốc gia khác, cho thấy là thể chế này chỉ có thể thay thế chứ không thể nào thay đổi được...
Theo truyền thuyết dân gian thì mỗi con người sau khi mất đi theo luân hồi, là trở lại làm người, hay bị đọa đày làm súc sinh, ngạ quỷ, a tu la… tùy theo nghiệp lực thiện, ác ta đã làm. Nhưng trước khi đi đầu thai vào một kiếp mới, vong linh hay thần thức phải đi qua cầu Nại Hà, chờ gặp Mạnh Bà, Mạnh Bà cho ăn một chén cháo lú đặng quên đi hết chuyện cũ đời này rồi mới được đi vào một cuộc đời mới...
The Blessed One's life can be compared to a flower - the flower of Enlightenment, which bloomed 26 centuries ago, but the fragrance of compassion and wisdom has since pervaded, spreading farther and farther, spreading to three thousand worlds, as a well-described poetic sentence in Thiền Lâm Cú Tập (A collection of Zen Forest's poetic lines) says, "There was only one pistil of Mai flower, but the fragrance has pervaded over three thousand worlds."…./….. Cuộc đời của đức Thế Tôn có thể ví như một đóa hoa - đóa Giác ngộ đã nở cách nay 26 thế kỷ, nhưng hương từ bi và trí tuệ vẫn luôn tỏa ngát, ngày càng lan xa, trải rộng đến ba nghìn thế giới như một câu mô tả xác đáng trong Thiền Lâm Cú Tập "Nhất điểm hoa mai nhụy, tam thiên thế giới hương".
Theo tin của AP, Kinh thánh sẽ trở lại kệ sách tại một khu học chánh phía bắc Utah, nơi đã gây ra sự phản đối kịch liệt sau khi học khu cấm Kinh Thánh trong các thư viện ở các trường trung học cơ sở và tiểu học vào tháng trước vì có nhiều đoạn văn mô tả về bạo lực, tình dục, loạn luân... Các quan chức của Học khu Davis cho biết tại một cuộc họp hội đồng hôm thứ Ba rằng học khu đã xác định Kinh Thánh là văn bản thiêng liêng phù hợp với mọi lứa tuổi cho tất cả các thư viện của học khu.
Liên Minh Châu Âu đã công bố các kế hoạch mới nhằm đảm bảo cả sản xuất và xuất cảng các loại máy tính lượng tử, trí tuệ nhân tạo, vi mạch tiên tiến và các công nghệ lưỡng dụng (dual-use technologies) khác, được coi là quan trọng đối với an ninh kinh tế của khối, theo tin từ trang UPI.
Bất chấp những hiểm nguy ở độ sâu khoảng 12,500 feet dưới mặt biển, được thấy tận mắt Titanic là một cơ hội hấp dẫn khó cưỡng. Rất ít người có được vận may này. Hơn một thế kỷ sau khi bị chìm, Titanic vẫn là một đề tài chưa bao giờ hết hot. Mặc dù hầu hết mọi người có thể ghé thăm các viện bảo tàng, triển lãm và bộ sưu tập liên quan đến Titanic trên khắp thế giới để thỏa mãn trí tò mò, nhưng chỉ cần có đủ khả năng chi trả, ai cũng có thể ‘tận mục sở thị’ nơi con tàu yên giấc ngàn thu. Và bất chấp những lo ngại liên quan đến đạo đức và nguy cơ làm hư hại thêm xác tàu, hoạt động ‘viếng thăm’ Titanic đã tồn tại hơn 20 năm.
Hunter, con trai của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, sẽ nhận tội đối với ba cáo buộc liên bang như một phần của thỏa thuận nhận tội, theo hồ sơ tòa án của Bộ Tư pháp. Hồ sơ ghi rằng Hunter Biden đã đạt được thỏa thuận với các công tố viên để nhận tội đối với hai tội nhẹ về thuế liên bang và một cáo buộc liên quan đến sở hữu súng.
BENGALURU – Trên khắp dãy núi Hindu Kush Himalayan, các sông băng đang tan chảy với tốc độ chưa từng thấy, và có thể mất tới 80% băng trong thế kỷ này nếu lượng khí thải nhà kính không giảm thiểu đủ, theo tin APNews.
Hạ chí báo trước sự khởi đầu của mùa hè theo thiên văn ở Bắc Bán Cầu và là ngày dài nhất trong năm. Nhưng vì đâu lại có sự tồn tại của ngày dài nhất và đêm ngắn nhất? Theo NASA, các điểm chí (solstices) và điểm phân (equinoxes) là các điểm đánh dấu sự khởi đầu của các mùa, hay nói đúng hơn là đánh dấu vị trí của Mặt trời so với Trái Đất. Trục Trái Đất nghiêng 23.5 độ so với quỹ đạo quay quanh Mặt Trời của nó. Độ nghiêng này khiến cho các phần khác nhau của Trái Đất được Mặt Trời chiếu sáng với mức độ khác nhau trong những khoảng thời gian khác nhau, tùy vào thời điểm nào trong năm. Vào ngày hạ chí (summer solstice), Bắc Bán Cầu nghiêng về phía Mặt Trời, nhận được ánh sáng Mặt Trời nhiều nhất – cũng có nghĩa là ngày dài nhất trong năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.