Hôm nay,  

Tông Chỉ Nguyên Thanh: Soi Thấy Muôn Ngàn Thế Giới

17/04/202510:20:00(Xem: 5653)
blank
 

Tông Chỉ Nguyên Thanh: Soi Thấy Muôn Ngàn Thế Giới
 

Nguyên Giác

 

Bài này sẽ phân tích một số quan điểm trong sách Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, một tác phẩm về Thiền Tông Việt Nam xuất bản lần đầu vào năm 1796. Tác phẩm này được in trong Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V, ấn hành năm 2006 tại Hà Nội, do nhiều tác giả trong Viện Nghiên Cứu Hán Nôm biên dịch.
 

Những lời dạy trong sách này mang phong cách Thiền Tông Việt Nam, vì ngài Ngô Thì Nhậm (1746-1803) sau khi rời quan trường đã xuất gia, trở thành vị sư có tên là Hải Lượng Thiền Sư, và được nhiều vị sư tôn vinh là vị Tổ Thứ Tư của Dòng Thiền Trúc Lâm.
 

 Phân tích nơi đây sẽ là lời của Hải Âu Thiền Sư, ghi nơi cuối trang 224 và đầu trang 225, chụp lại từ bản PDF của sách Ngô Thì Nhậm Toàn Tập - Tập V. Cũng cần ghi chú, rằng ngài Hải Lượng Thiền Sư là Ngô Thì Nhậm, xuất gia sau khi rời quan trường và được tôn làm Tổ Thứ 4 của Trúc Lâm Thiền Phái, vì ngài là người hồi phục dòng Thiền Trúc Lâm.  Trong khi đó, Hải Âu Thiền Sư là một vị sư chú giải trong các buổi thuyết pháp.
 

Nơi trang 15 sách này, ghi về ngài Hải Âu như sau: “Thanh chú: Chỉ việc chú giải rõ nghĩa thêm cho từng thanh, gồm hai vị, vị Thanh chú thứ nhất là Hải Âu hoà thượng, tức Vũ Trinh, nguyên là Tham tri chính sự, tước Lan Trì hầu, người xã Xuân Lan, huyện Lang Tài (nay Bắc Ninh).”
 

Chúng ta đánh máy lại cuối trang 224, đầu trang 225 như sau, trích:

Hòa thượng Hải Âu nói: - Trời không sinh sản mà vạn vật đơm hoa, đất không lớn lên mà vạn vật phát dục. Cho nên nói rằng: "Không gì thần diệu như trời, không gì giầu có như đất" mà trời đất thì không nơi nào là không có. Vì vậy Phật có thể coi vô số chúng sinh là nhà, thân tâm bất động, soi thấy muôn ngàn thế giới. Thánh nhân có thể coi ức ngàn muôn đời là nhà, lặng lẽ bất động, cảm hóá mà thông suốt được đạo lớn. Đạo lớn là tâm, mà tâm là trời đất, trời đất thì rộng lớn không có gì ở ngoài nó được. Trong khoảng vũ trụ, hết thảy sự vật, không kể gần xa, tâm đều đến được.

Cho nên, Phật gọi là Phật gia, Nho gọi là Nho gia, nói gộp lại gọi là Pháp (tinh thần), vì vậy nói "Pháp gia" thì nghĩa của chữ "gia" bao hàm rất rộng: Thế giới thượng hạ, không chỗ nào không phải là "gia." Dù có muốn "xuất gia" chăng nữa, nhưng "xuất gia" thì ở vào đâu? Cho nên nói: "Bồ tát không xuất gia, Nho không xuất gia." (hết trích)

blank

 

Điểm nổi bật của lời của ngài Hải Âu là quan điểm Phật-Nho một nhà. Đứng về hoàn cảnh xã hội, chúng ta dễ dàng hiểu được. Ngay như bản thân của ngài Hải Lượng Thiền Sư (Ngô Thì Nhậm) và ngài Hải Âu Thiền Sư (Vũ Trinh), gần trọn đời học Nho, lặn lội trong chốn quan trường, trải qua những cuộc chiến cuối thời nhà Lê với cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn, cuối đời mới vào chùa xuất gia. Do vậy, quý ngài không thấy có bao nhiêu sự cách biệt. Nho giáo cũng được nhìn như thế giới hữu vi thời phong kiến, trong khi Phật giáo là con đường vô vi của pháp giải thoát.
 

Thêm nữa, muốn thuyết phục các Nho gia để hồi phục dòng Thiền Trúc Lâm, cũng phải biết thuyết phục các Nho gia bạn hữu, các nhà Nho trong quan trường và cả các ông đồ Nho trong các làng xã. Thời đó, đi thi hiển nhiên phải là thi bằng kiến thức Nho gia. Không hề có chuyện đi thi làm quan cho vua mà được hỏi bài về Bát nhã Tâm kinh hay Kim Cang Kinh.
 

Do vậy, Hải Âu Thiền Sư nói, “Phật gọi là Phật gia, Nho gọi là Nho gia, nói gộp lại gọi là Pháp.” Hiển nhiên, độc giả thời nay có thể sẽ không đồng ý. Tuy nhiên, nếu bạn lùi về nhiều thế kỷ trước, bạn sẽ thấy trí thức toàn là nhà Nho. Thậm chí, có lúc Phật giáo bị Nho gia kỳ thị.
 

Nhà sử học Nguyễn Lang (cũng là Thầy Thích Nhất Hạnh) trong sách "Việt Nam Phật giáo sử luận" nơi Chương 18: Đạo Phật trong đời Nho học độc tôn, ghi nhận, trích:

"Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép rằng năm 1429, tất cả các tăng sĩ Phật giáo và đạo sĩ Lão giáo đều phải đến trình diện ngày 20 tháng 10 để kiểm xét khảo thí. Ai thi đậu thì cho làm tăng sĩ và đạo sĩ, còn ai thi hỏng thì bắt hoàn tục. Đây là hành động đầu tiên của chính quyền Nho giáo để kiểm soát Phật giáo và Lão giáo. Hành động này đã có thể loại ra một số người lợi dụng hai đạo Phật, Lão. Nhưng sự thi cử này đã được tổ chức theo lối khảo hạch từ chương của Nho giáo, những người hay chữ thì được công nhận là tu hành chân chính, còn những người khác, dù mộ đạo và tâm thành đến mấy mà không diễn tả được đức tin và kiến thức của mình bằng văn chương thì cho là không phải tu hành chân chính. Điều này, khi áp dụng với đạo Phật, nhất là Phật giáo thiền, là một sự ép uổng." (ngưng trích)
 

Cũng trong sách trên, ghi rằng ngài Lương Thế Vinh (1441-1496) là "nhà trí thức cự phách nhất của thời đại Lê Thánh Tông chỉ vì sáng tác sách Phật mà sau khi chết không được thờ cúng trong văn miếu."
 

Do vậy, người tu theo Phật phải cần tôn kính các bậc trí thức Nho gia. Tới đây, chúng ta có thể nhắc rằng, trong thời của Đức Phật, các kinh và các truyện bản sanh ghi rằng các vị Bà La Môn (mà chúng ta quen gọi là ngoại đạo Bà La Môn) tuy không thể giải thoát nhưng những người đạo đức vẫn có thể sinh lên cõi trời. Trong Kinh MN 56, Đức Phật dạy cho gia chủ Upali sau khi gia chủ này quy y Tam Bảo rằng nếu các người trong giáo phái Nigaṇṭha (mà trước đó, gia chủ Upali quy y trong giáo phái này) tới thăm nhà thì hãy cứ tiếp tục cúng dường. Lời Đức Phật dạy trong Kinh MN 56 cho chúng ta hiểu được về mặt thế tục, Phật gia và Nho gia vẫn có thể hòa hài nhau.
 

Kinh MN 56 ghi đoạn đối thoại của Đức Phật và gia chủ Upali, trích:

“—Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với Ông!

—Bạch Thế Tôn, con lại bội phần hoan hỷ, bội phần thỏa mãn với những lời Thế Tôn nói với con: “Này Gia chủ, đã từ lâu gia đình của Ông như là giếng nước mưa nguồn cho các người Nigaṇṭha. Hãy cúng dường các món ăn cho những ai đến với các Ông”. Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: “Sa-môn Gotama đã nói: “Chỉ bố thí cho Ta, chớ bố thí cho các người khác. Chỉ bố thí cho các đệ tử Ta, chớ bố thí cho đệ tử những người khác. Chỉ bố thí cho Ta mới có phước lớn, bố thí những người khác không được phước lớn. Chỉ bố thí cho những đệ tử của Ta mới có phước lớn, bố thí cho những đệ tử của những người khác không có phước lớn”. Nhưng Thế Tôn lại khuyến khích con bố thí cho các vị Nigaṇṭha. Bạch Thế Tôn, và chúng con ở đây sẽ biết thời nên làm. Bạch Thế Tôn, lần thứ ba, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.” (hết trích)
 

Tới đây, chúng ta trở lại lời của Hải Âu Thiền Sư trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh. Tại sao nói rằng “Trời không sinh sản mà vạn vật đơm hoa”?

Trong thế giới hữu vi, các pháp liên tục có sinh, có diệt. Do vậy, đó là hiển lộ pháp ấn vô thường. Đời người có sinh, có tử. Cũng như những đợt sóng trên dòng sông: các đợt sóng, các bọt sóng liên tục sinh rồi diệt. Các niệm sinh khởi rồi biến diệt trong tâm mình vẫn như thế. Nhưng nếu chúng ta nhìn từ nước, thì tánh của nước vẫn là ướt, không dị biệt gì trong các đợt sóng hay bọt sóng, và trong tánh nước thì không hể sanh, không hề diệt.
 

Tương tự, cũng như ảnh hiện trong gương sáng. Các ảnh liên tục sinh ra rồi biến mất trong gương. Những ảnh này có thể gọi là những cái được thấy. Tuy ảnh tới rồi đi, hiện ra rồi biến mất, nhưng tánh sáng của gương vẫn bất động, không gọi được là sinh hay diệt, và đơn giản thì gọi là pháp vô sinh, vô diệt. Nhìn từ ảnh, sẽ thấy thế giới hữu vi liên tục sinh diệt. Khi nhìn từ gương, sẽ thấy Niết bàn vô vi vốn là bất sinh, bất diệt. Đây cũng là ý nghĩa của câu trong Tâm Kinh: “Sắc chính là Không, và Không chính là Sác.” Có nghĩa là, Sắc, tức là tất cả những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ, được tư lường cũng chính là Không, là rỗng rang, là hư ảo. Và ngược lại, Không cũng chính là Sắc. Nói cách khác, các pháp do duyên sinh, nên các pháp vô ngã, và vì các pháp vô ngã, nên nói rằng không hề có pháp nào sinh ra, và thực tướng chính là bất sinh, bất diệt.
 

Ngài Hải Ấn Thiền Sư nói thêm rằng: “Phật có thể coi vô số chúng sinh là nhà, thân tâm bất động, soi thấy muôn ngàn thế giới.”
 

Phật tức là Cái Biết, là Tánh Giác. Chính nơi đây, Phật coi vô số chúng sinh là nhà, nơi đây gương sáng cũng thấy rằng vô lượng ảnh hiện cũng chính là nhà của Như Lai. Tuy rằng Đức Phật hiện ra nơi vô số chúng sinh, nơi vô số cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ, được tư lường nhưng cái gương sáng này, cái bản tâm này, cái thân tâm Phật đó vẫn là bất động. Và “soi thấy muôn ngàn thế giới.”
 

 Sao lại soi thấy muôn ngàn thế giới? Chỗ này chúng ta có thể nhớ tới Đức Phật dạy trong Kinh SN 35.23 Sutta rằng thế giới này thực ra cũng chính là hiển lộ của ngũ uẩn chúng ta. Chúng sinh đây cũng là tất cả thế gian, là phiền não, thực sự cũng là nhà của Như Lai, của Thế Tôn.

Kinh SN 35.23 Sutta ghi lời Đức Phật dạy, bản dịch của Thầy Minh Châu: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết về tất cả. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tất cả? Mắt và các sắc; tai và các tiếng; mũi và các hương; lưỡi và các vị; thân và các xúc; ý và các pháp. Như vậy, này các Tỷ-kheo, gọi là tất cả. Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Sau khi từ bỏ tất cả này, ta sẽ tuyên bố (một) tất cả khác”, thời lời nói người ấy chỉ là khoa ngôn. Và bị hỏi, người ấy không thể chứng minh gì. Và hơn nữa, người ấy có thể rơi vào ách nạn. Vì sao? Này các Tỷ-kheo, như vậy ra ngoài giới vức (avisaya) của người ấy!” (hết trích)

Trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, ngài Hải Ấn Thiền Sư nơi trên đã nói về pháp giải thoát rằng: “Thánh nhân có thể coi ức ngàn muôn đời là nhà, lặng lẽ bất động, cảm hóa mà thông suốt được đạo lớn. Đạo lớn là tâm, mà tâm là trời đất, trời đất thì rộng lớn không có gì ở ngoài nó được.”
 

Thánh nhân, có nghĩa là người đã giải thoát. Người đó thấy vô lượng thời gian và không gian đều là nhà (tức là, biến hiện của tâm gương sáng), vốn trong thực tướng luôn luôn lặng lẽ bất động, lúc đó sẽ thấy tâm là trời đất. Ý chỉ này không phải là chuyện lý thuyết, mà là pháp thực hành của Thiền Tông, như đã nêu, trích dẫn từ bài Bát Nhã Tâm Kinh nơi trên. Nghĩa là, pháp giải thoát là thường trực thấy trực tiếp (không qua chữ nghĩa, không qua lý luận) gương sáng của tâm: tất cả những cái được thấy, được nghe, được ngửi, được nếm, được cảm thọ, được tư lường đều là hiện tướng của tâm gương sáng của mình. Không cần làm gì khác.
 

Đức Phật cũng dạy như thế trong Kinh Iti 7 Sutta. Nơi đây, pháp giải thoát là chỉ cần thấy trực tiếp và hiểu trực tiếp, mà không dính mắc tâm và rồi buông tất cả các ảnh hiện đó (vì hiểu thực sự tất cả ảnh hiện đều là Không, là hư ảo). Chúng ta dịch Kinh Iti 7 Sutta như sau:  

Này các Tỷ-kheo, nếu không trực tiếp biết và hiểu trọn vẹn cái tất cả, nếu không ly tham và từ bỏ nó, các ông không thể chấm dứt khổ đau. Bằng cách trực tiếp biết và hiểu trọn vẹn cái tất cả, ly tham và từ bỏ nó, các ông có thể chấm dứt khổ đau.”
 

Chỗ này, ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ cũng từng nói rằng, người tu phải thấy tâm mình như con trâu bùn, trâu đất, khi trâu bước xuống sông thì bước tới đâu cũng sẽ thấy tan rã ra tới đó, là sẽ giải thoát, mà không cần làm gì khác hết. Nghĩa là, Thiền Tông chỉ có nghĩa là biết trực tiếp (không qua chữ, không qua lý luận) các hiện tướng của tâm, và hiểu trọn vẹn (tức là thấy nó là hư ảo, là Không, là sẽ tan rã như bùn gặp nước). Khi ảnh bất dị với tâm gương sáng, khi trâu bùn bất dị với nước sông, thì đó là khi thấy tâm là trời đất và soi thấy muôn ngàn thế giới.  
 

THAM KHẢO:

- Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận: Chương 18: Đạo Phật trong đời Nho học độc tôn:

https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/giang-kinh/viet-nam-phat-giao-su-luan/chuong-18-dao-phat-trong-doi-nho-hoc-doc-ton/

- Kinh MN 56 Sutta:

https://suttacentral.net/mn56/vi/minh_chau

- Kinh SN 35.23 Sutta (The All Sutta):

https://suttacentral.net/sn35.23/vi/minh_chau

- Kinh Itv 7 Sutta:

https://suttacentral.net/iti7/en/sujato

 

.

 

.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Giới lớn nhất là giới bình đẳng. Phải thấy tâm bình đẳng. Phải giữ tâm bình đẳng. Hòa Thượng Thích Tịch Chiếu đã nói với tôi như thế từ nhiều thập niên trước. Bản thân tôi vốn là một kẻ tối dạ, nên đã choáng váng ngay từ khi nghe câu nói đó. Tôi thấy như dường những lời dạy như thế chỉ có trong truyền thống Phật Giáo Trung Hoa và Việt Nam, và đặc biệt là Thiền Tông. Tôi tự nhủ là phải học Anh văn để tìm đọc Kinh Phật từ các nguồn khác để hiểu tới nơi tới chốn, và cũng vì văn phạm tiếng Anh luôn luôn rõ nghĩa, minh bạch hơn. Nơi đây, tôi chỉ dám nói là dò theo Kinh điển, không dám nói là chứng ngộ gì hết.
Chính những cú phone của Trump sẽ dẫn Trump vào tù. Bị cáo Trump đang cố gắng lật ngược cuộc bầu cử mà Trump đã thua, cuộc bầu cử mà các cố vấn chiến dịch tranh cử của Trump đã nói rằng Trump đã thua, bằng chứng bầu cử do Công tố đặc biệt Jack Smith thu thập cho thấy rằng Trump biết mình đã thua, và Trump đã tham gia vào mọi trò lừa bịp nhỏ nhặt để đạt được mục tiêu xấu xa và bất hợp pháp của mình.
Kiên định lập trường hậu thuẫn đối với công cuộc phục hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất do Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ - Chánh Thư Ký Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, thừa tiếp tâm nguyện của cố Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ - Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN, để điều hành Phật sự và tái dựng lại Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN khi có thuận duyên.
Trong niềm xúc động và tri ân, gia đình chúng con xin thành kính đa tạ tất cả các vị chư tôn Đức, Tăng, Ni, quý Phật tử chùa Quan Âm, tịnh xá Thiền Lâm, chùa Khánh Hỷ, Thầy Minh Chánh, Linh mục Bình An, Linh mục Thái Nguyên đã hết lòng tụng niệm, cầu nguyện cho Mẹ của chúng con trong suốt thời gian Mẹ còn sanh tiền cho đến lúc Mẹ vãng sanh. Xin chân thành cảm tạ đài phát thanh Mẹ Việt Nam, Radio Bolsa, Radio Chiều Thứ Bảy, Sài Gòn Hải Ngoại, VNCR, Home Entertainment, IBC đã liên tục cáo phó, phân ưu chia buồn cùng gia đình. Xin thành kính tri ân các ông bà, cô chú bác, anh chị em, bạn hữu gần xa đã chia buồn, an ủi, động viên, gửi vòng hoa, bỏ thời gian đến thăm viếng và đưa tiễn Mẹ của chúng tôi là bà Phạm Thị Như, pháp danh Diệu Chơn Hưởng thọ 78 tuổi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Và đặc biệt xin chân thành cảm ơn đến các anh chị, cô chú, bạn hữu đã giúp lo chu toàn mọi việc những ngày tang lễ và các việc thiện nguyện Công đức của Quý vị đã hồi hướng cho Mẹ của chúng tô
Cuộc chiến trên đất nước chúng ta chấm dứt đã gần nửa thế kỷ và được gọi bằng nhiều tên khác nhau. Bài nầy xin trở lại vấn đề gọi tên cuộc chiến để hiệu đính và bổ túc thêm bài trước cách đây khá lâu của cùng người viết.
Cuộc xâm lăng của Nga vào Ukraine đã đập tan huyền thoại Tổng thống Nga Vladimir Putin là một nhà độc tài bất khả xâm phạm. Trước ngày 24 tháng 2 năm 2022, Putin có thể tỏ ra là vô đạo đức và hiếu chiến, nhưng qua các cuộc phiêu lưu quân sự ở Syria, Crimea, và xa hơn nữa, ông ta có vẻ như là một chiến lược gia có năng lực. Thế rồi, trong một nước cờ tính toán, ông ta thể hiện sự kém cỏi của mình bằng cách xâm lăng một quốc gia không hề gây ra mối đe dọa nào cho nước Nga, và thất bại hết phen này đến phen khác trong những mưu lược quân sự của mình – mà ví dụ mới nhất là cuộc binh biến diễn ra trong thời gian ngắn ngủi do ông Yevgeny Prigozhin, thủ lĩnh nhóm lính đánh thuê Wagner, chủ mưu hôm cuối tuần qua. Điều này, thêm một lần nữa, cho thấy huyền thoại độc tài của Putin đang trên đà suy yếu
Các nhà quan sát đương thời có thể khá ngạc nhiên khi biết rằng nguồn gốc của cụm từ “affirmative action” – cụm từ chứa đầy ý nghĩa trong bối cảnh chính trị ngày nay – có vài phần bí ẩn. Nói rộng ra, Affirmative Action (tạm dịch là Chính Sách Nâng Đỡ Người Thiểu Số) đề cập đến các chính sách và thực tiễn được thiết kế để tăng cơ hội cho các nhóm người thiểu số như người da màu trong lịch sử. Trong tuần này, quyết định của Tối Cao Pháp Viện (TCPV) về chính sách “affirmative action” sẽ đem đến những thay đổi đáng kể trong tương lai tuyển sinh ở các trường đại học trên khắp Hoa Kỳ. Vào ngày 29 tháng 6, TCPV đã ra phán quyết rằng các trường cao đẳng và đại học tư thục cũng như công lập không còn được coi chủng tộc là một yếu tố xem xét trong tuyển sinh, đảo ngược tiền lệ pháp lý trong suốt 45 năm qua.
Theo một nghiên cứu mới, cơn khát nước ngầm không nguôi của nhân loại đã khiến cho quá nhiều chất lỏng từ các nguồn dự trữ ngầm trong lòng đất bị hút ra, đến mức ảnh hưởng đến độ nghiêng của Trái Đất, theo CNN*. Nước ngầm cung cấp nước uống cho con người và gia súc, đồng thời giúp tưới tiêu cho cây trồng những khi khan hiếm mưa. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới cho thấy việc khai thác nước ngầm liên tục trong hơn một thập niên đã làm thay đổi trục quay của hành tinh chúng ta. Nó đã nghiêng về phía đông khoảng 1.7 inch (4.3 cm) mỗi năm.
Chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra ngay giọng điệu của người đang trò chuyện với trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ (kiểu nói chuyện bi bô – “baby talk”). Và không chỉ con người, cá heo mẹ cũng xài kiểu nói chuyện này với con mình. Theo một nghiên cứu mới, ở loài cá heo mũi chai, những con cá mẹ sẽ thay đổi giọng điệu khi ‘trò chuyện’ với con cái của chúng. Các nhà nghiên cứu đã ghi lại tiếng huýt sáo đặc trưng của 19 con cá heo mẹ ở Florida, khi đi cùng với đàn con của chúng, và khi bơi một mình hoặc với những con trưởng thành khác.
Vào đầu tháng 6, Apple đã ra mắt Vision Pro, một loại thiết bị mới tăng cường thực tế bằng cách kết hợp nhuần nhuyễn thế giới thực với thế giới kỹ thuật số. Thực tế tăng cường (augmented reality, viết tắt là AR, là góc nhìn trực tiếp hay gián tiếp về môi trường vật lý, thực tế nơi mà các yếu tố được "tăng cường" bởi thông tin nhận thức do máy tính tạo ra). Vài ngày sau khi Tim Cook giới thiệu sản phẩm mới, 800 nhà nghiên cứu tập trung tại một sự kiện kém rầm rộ hơn ở Gothenburg, Thụy điển. Đây là hội nghị mạng di động hàng năm của EU, năm thứ ba, tập trung vào 6G.
WASHINGTON – Hoa Kỳ có kế hoạch gửi bom chùm để giúp Ukraine trong cuộc chiến với Nga; dù loại vũ khí này sẽ giúp cho cuộc phản công của Ukraine, sự kiện này đang bị các nhóm nhân quyền phản đối, theo tin Reuters.
HOA KỲ – Cơ Quan Kiểm Soát Thực - Dược Phẩm (FDA) đã chính thức chuẩn thuận thuốc trị bệnh Alzheimer Leqembi; và Medicare cũng cho biết sẽ chi trả phần lớn chi phí cho loại thuốc này, theo tin từ NYTimes.
Historically, Buddhism has much to do with poetic language. During his lifetime, the Buddha always encouraged his disciples to use local languages to interpret and spread his teachings. The scriptures also often use rhyming forms for the sole reason of being easy to read and remember. …../…..Về mặt lịch sử, Phật giáo có nhiều tương quan với ngôn ngữ thi ca. Khi còn tại thế, Đức Phật luôn luôn khuyến khích các đệ tử dùng các ngôn ngữ địa phương để diễn dịch, truyền đạt giáo pháp của Ngài. Các bản kinh còn lại cũng hay dùng các thể văn vần, với lý do duy nhất để dể đọc dễ nhớ
Thâm hụt thương mại hàng hóa và dịch vụ ở Hoa Kỳ đạt 69 tỷ đô la trong tháng 5, giảm so với con số hiệu đính của tháng 4 là 74,4 tỷ đô la, theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ tiết lộ trong báo cáo hôm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.