Hôm nay,  

PHẠM DUY, Người đi cùng mệnh nước ngược xuôi – Chương Kết

17/02/202300:00:00(Xem: 5000)

Pham Duy Bản Vẽ của Tạ Tỵ
Pham Duy Bản Vẽ của Tạ Tỵ
 
Tôi viết về Nhạc sĩ Phạm Duy, một bài khá dài, nhiều chương, với một tình cảm thân thiết, rõ ràng, đơn giản, như ta nói thân hình ông ta chia làm ba phần đầu mình và tay chân, trong đầu có bộ não, vầy thôi, nhưng/ hẳn sẽ làm rất nhiều người không đồng tình. Thậm chí cay đắng, “Thằng này đã ca ngợi thằng kia”.
 
Đây là những người vốn không thích, chẳng ưa, rất ghét Phạm Duy. Tôi không có quyền bình phẩm đúng sai.
 
Tôi vẫn tôn trọng những người này. Vì tôi hiểu, Tự do phải cần được tôn trọng.
 
Phạm Duy thừa biết nhiều người không yêu thích mình. Trong những lá thư gởi tôi, sau lời thăm, chúc cuối thư, ông luôn viết thêm, “thăm cả người yêu lẫn kẻ ghét”.
 
Nhà thơ Phùng Quán đã nói rõ:
 
Yêu ai cứ bảo rằng yêu
Dù ai non ngọt nuông chìu
cũng không bảo yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
cũng không bảo ghét thành yêu
[Lời Mẹ dặn]
 
*
 
Những ai đã từng sống trong một xứ sở luôn thiếu dưỡng khí, con người với súc vật lắm khi cùng một mùi hơi, suốt chiều dài non thế kỷ là chiến tranh, chia cắt, nội thù. Không chỉ dùng súng đạn, lưỡi lê mã tấu cho một tình cảm chung của dân tộc là chống ngoại xâm. Mà là, để anh em một nhà thanh toán nhau, bạn bè thù hận nhau, một mối thù truyền kiếp không nguôi.
 
Đối nghịch ý thức hệ chính trị Quốc-Cộng, ly biệt vì tình cảnh trong nước ngoài nước, cái hố thẳm ấy, tận hôm nay, cả một giống nòi chưa thể vượt qua. Nó đã thành máu chảy trong người. Không còn cái máu thù hận nhau ấy, qua trái tim, hầu như ta không còn giá trị gì, để sống trên cõi đời.
 
Mỗi chiều hôm quạnh quẽ, một sớm mai thức giấc, những ai là người nổi danh, có chút tiếng tăm nên hiểu, Có lắm người đang mài dao trên thớt chờ đợi mình. Nhạc sĩ Phạm Duy, cả Thiền sư  Nhất Hạnh, không nằm ngoài. 
 
Có điều lạ lùng. Bây giờ, “Cái bọn người tài ba ấy” chỉ còn là những bộ hài cốt nằm sâu trong lòng đất. Ác nhơn “Bọn ấy” chưa chết. Có thể là không bao giờ khuất mặt. Những nhạc, những áng thơ văn, nói chung những sản phẩm tinh thần, thứ ánh sáng tâm linh “bọn ấy” giọi vào đời, hãy còn mãi đây. Họ sống với những gì đã lưu dấu, không cần thiết là những tượng đài xi măng cốt sắt.
Họ lồng lộng còn đây với tiếng hát đêm đêm dưới ánh đèn màu, của Hôm nay, tận Mai sau, hay trong sâu lắng những chốn riêng mỗi lòng người. Với một bát ngát minh triết, cõi lòng rộng mở, biển trời chờ mong trong hẹn gặp:
 
Tìm trong câu thơ cổ
Tìm qua tranh tố nữ
Tìm trên môi đương ca câu thương nhớ
Tìm sâu trong muôn thuở
Tìm sau lưng bốn mùa
Tìm nhau như Thiên Cổ tìm Ngàn Thu
Tìm nhau trong bom lửa
Tìm nhau trong mưa bão
Tìm nhau trên kinh đô xâу trong xương máu
Tìm nhau trong thống khổ
Tìm nghe câu than thở

Tìm nhau khi nhân loại được trùng tu.
Gặp nhau trong vinh dự của đời người, Người ơi
Gặp nhau dưới Đức Tin bao la phơi phới
Gặp nhau trong cơ khổ của thế giới, ơi Người
Gặp nhau, đôi tâm hồn được nghỉ ngơi.
[Tìm nhau – Phạm Duy]
 
*
 
Tôi đi trong bao la ấy.
 
Tôi thanh thản với tự do riêng mình.
 
Tôi vẫn thở, và viết.
 
Cái sự trục trặc, trắc ẩn trong lòng người gian thế đâu chỉ có hôm nay. Không chỉ hôm nay. Từ sâu trong thiên cổ hãy còn vang dội. Nguyễn Trãi với Bình Ngô Đại cáo. Ông từng bị tru di tam tộc – giết cả ba họ, họ cha họ mẹ, họ vợ – vì vụ án Lệ Chi viên. Với Thiền thi, Trần Nhân Tông, vị Vua này há không có nỗi niềm trước khi thành vị Phật Hoàng. Với truyện Kiều, Nguyễn Du, ông vui gì trong tiếng đàn của Thúy Kiều.
 
Sau cùng, cái mà thế gian nhớ, nhân gian cần, là trên những tác phẩm họ để lại. Cái đời xác thân kia, cái hữu thể được giả định là một mệnh người, đã từ lâu hóa tro.
 
*
 
Tương truyền, Cao Bá Quát, nhà thơ vào hàng thi bá, lại giỏi chữ, vào thời Nhà Nguyễn, ông rất ngạo mạn, cho rằng “Trong thiên hạ có ba bồ chữ, họ Cao này đã một bồ”.
 
Về Phạm Duy, ta ví von theo lời họ Cao, “Trên đất Việt có ba bồ nhạc, người họ Phạm đã một bồ”. Đúng bon.
 
Cứ phân loại ra từng mục các thể loại nhạc rồi liệt kê ra số tác phẩm, ta hẳn thấy rất nhiều loại Phạm Duy đứng đầu. Mà hạng nhứt này trên hạng nhì kia xa lắm. Hạng nhứt vài trăm bài, người về hạng nhì chưa tới vài chục bài!
 
Nhạc tình chăng hạn. Không chỉ là tình yêu nam nữ, người họ Phạm có chục thứ tình, tình ca quê hương, tình yêu đất nước, tình hoa cỏ, tình mẹ, tình kháng chiến. Liệt kê một cách khiêm tốn đã trên nghìn bài!
 
Nhạc ngoại quốc được chuyển lời sang tiếng Việt họ Phạm có trên vài trăm bài. Con số tương đối đầy đủ là 255 bài! Đủ thể loại, dân ca, tình ca, POP, nhạc Khiêu Vũ... Ông đặt lời cho nhạc không lời – những danh tác bất hủ bán-cổ-điển Tây Phương. Nhạc chuyển lời của Phạm Duy, phần lớn là những bài được đông đảo người thưởng ngoạn lắng nghe, ca ngợi.
 
Phạm Duy phổ thơ thuộc loại ảo diệu, phù thủy ngôn ngữ. Gom số lượng bài ca được phổ nhạc từ thơ do các nhạc sĩ cả nước cộng lại, ta sẽ thấy kinh ngạc số lượng Phạm Duy có. Tài hoa như Phạm Đình Chương, so với Phạm Duy, cũng phải khiêm nhường.
 
Không nói quá, ông là “Người hóa kiếp thơ”. Có đôi nhà thơ đã trách giận ông vì bị bỏ đôi chữ, thay đổi cấu trúc bài thơ. Nhưng nhìn chung hầu hết các thi sĩ được ông nhặt thơ ra, đưa vào nhạc, là nâng bài thơ ấy lên một cung bậc khác, đưa nó ra “trận tiền’ để đông đảo người “biết đến”, khi, vốn bài thơ đã khiêm tốn nằm trong chốn im của chữ nghĩa.
 
 
Nhiều nhà thơ chưa tên tuổi bao nhiêu, rất nhiều, khi bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc, thơ được nâng cung bậc, nhà thơ ấy lên ngôi.
Nhiều bài thơ của các nhà thơ hữu danh, như Lưu Trong Lư, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê, Hàn Mạc Tử, Hoàng Cầm… thơ ấy hay, nhưng người đọc có giới hạn, và qua thời gian chừng nó đã an phận là “quá khứ”, thư mục lưu trữ trong các thư viện. Nhưng / bỗng khi được Phạm phả dòng nhạc vào, linh hồn kia thức giấc. Vang động trong tâm người thưởng ngoạn. Những Ngậm ngùi, Hoa rụng ven sông, Mộ khúc, Tiếng sáo Thiên Thai, Tình Cầm…
 
Kể cả tính hàn lâm, chỗ lai láng ý tình, sâu lắng cái ngẫm nghĩ nhân gian, cô đọng và hoa mỹ của ngôn từ, e rằng Người họ Phạm có hơn… một bồ.
 
*
 
Trong sinh hoạt âm nhạc Việt Nam, Phạm Duy là ngôi sao Trường Canh.
 
Trời bắt đầu vào đêm, sao xuất hiện ở chân trời phương đông. Nửa đêm sao đứng giữa trời. Tàn đêm, sao mờ nhạt phía trời tây. Quê tôi, phía đông là biển, phương tây là dãy Trường Sơn. Trường Canh, sao mọc từ biển, lặn vào núi. Hiện ra lúc sóng gào gió lộng của đại dương, lặn vào chốn lặng im rừng thẳm. Ấy là tôi nhìn Trường Canh trong cái không gian giới hạn từ địa lý Việt Nam.
Tương đồng như thế, từ khởi đầu thời đại đại biến, 1945, đã có Phạm Duy. Buổi kết thúc chiến chinh, 1975, vẫn còn Phạm Duy. Khởi đầu cuộc bỏ nước ra đi, Phạm Duy đi trước ngày 30 tháng Tư 1975. Quy hồi cố quận, Phạm Duy về, tương đối sớm so với những người cùng hoàn cảnh với ông.
 
Trong cái dài dặc ấy, Phạm Duy luôn có sáng tác mới. Như sao Trường Canh suốt đêm tỏa ánh sáng. Ánh sáng, chỉ mờ dần khi đêm sắp tàn.
 
Phạm Duy, có một phong cách, một bản lĩnh, một sức sáng tạo đường trường. Viết mãi không thôi như thở mãi không ngừng. Thôi viết là ngưng thở.
 
Trong mấy chục năm sống trong nước, cách nhau một Thái Bình Dương, tôi với ông thỉnh thoảng vẫn có thư từ cho nhau. Trong nước tôi vẫn được nghe những bản nhạc của ông sáng tác sau này, qua các băng đĩa, hàng chui.
Năm 1996, đọc được Hồi ký của ông, được chép trong đĩa nhựa, nhờ một nhạc sĩ trẻ [TK] chuyển cho tôi. Ông kỹ lưỡng lắm, phải có mật mã, password, mới đọc được. Chừng như các bản in thành sách của ông có khác phần nào với bản đĩa mà tôi đã đọc.
 
Trong thư từ qua lại, có một lá thư tôi thấy thái độ của ông khá lạ. Lòng ông đầy trăn trở.
 
Nội dung thư:
 
Midway City. 26 / 9 / 96
Anh Cung Tích Biền,
Cảm ơn anh đã viết thư nhắc lại những ngày xa xưa…”khi ta còn thơ”!
 
Tôi rất thú vị khi biết rằng anh và nhiều người vẫn còn nghe nhạc Phạm Duy. Tôi nhìn nhận điều anh nói trong thư là đúng nhưng từ lúc từ chối làm thằng mõ trong làng để thành Bố già của thế kỷ [Từ khi soạn Rong ca 1988], tôi tạm quên “đối tượng thưởng ngoạn” [họ chỉ muốn nghệ sĩ là con người tình cảm và con người xã hội của thời đại mà thôi] để làm nốt phần nhạc tâm linh mà tôi đã khơi mào từ lúc còn trẻ [từ lúc đứng bên cầu biên giới chẳng hạn]. Do đó có rong ca, thiền ca, trường ca Hàn Mặc Tử sau tâm ca, đạo ca, v.v… Rất thú vị khi anh cho biết đã nghe Thiền ca số 8 nhan đề Răn, không ngờ mình muốn quên đối tượng thưởng ngoạn mà họ vẫn nhớ mình [cần phải nói với anh là loại nhạc tâm linh của tôi rất không ăn khách !!!]
 
Về chuyện đốt sách chôn học trò, tôi nghĩ rằng Đại Đế họ Tần có một canh bạc phải chơi, đang chơi, chưa tàn canh…Trong khi ván cờ của tôi đã xong rồi! Xin quên mister Tần đi!
 
Đã là người tình tuyệt vời [nhan đề một ca khúc Phạm Duy] và người “đánh trâu” à quên đấu tranh nhiệt tình của xã hội bây giờ xin cho tôi được sống với tâm linh của tôi, của anh, của chị, của em:
 
Tôi là tôi, tôi cũng là em
Em là tôi, em cũng là anh
Là Xuân con bướm hút nhụy Xuân Tình
Là gió Xuân Hồng, là cơn Xuân Vũ
Là Ý thơ nồng, là trang giấy Xuân Thư…
 
Xuân Thư là tên một người tình ở Paris…
 
Chúc anh vui mạnh. Tôi có lời thăm hỏi tất cả người yêu, kẻ ghét./.
Rất thân ái
Phạm Duy
Thư ghi, tháng Chín, 1996. Cũng đà trên một phần tư thế kỷ trôi qua. 2022, tôi ngồi viết những dòng này, nhà tôi đường Jackson, một nơi chốn chừng như rất gần nhà của ông năm xưa, cùng thành phố Midway. Buổi chiều thả bộ, lang thang đường Bolsa, qua Newland, là đến Hunter Lane.
 
Phạm Duy ở Midway City, ông đặt tên cho nó, cũng là dịch ra tiếng Việt, một cách thơ mộng, là Thị trấn Giữa Đàng. Trời Cali, chiều êm, lại nghĩ có Động Hoa vàng đâu đây, lại nhớ:
 
Ϲhim ơi chết dưới cội hoa
Tiếng kêu rơi rụng giữa giang hà
Mai ta chết dưới cội đào
Khóc ta xin nhỏ lệ vào thiên thu.
 
*
 
Tôi mượn lời Nguyễn Hưng Quốc, một nhà nghị luận tài hoa, cái nhìn về Phạm Duy, như một kết thúc cho sự tình:
 
“Tất cả những nghi ngờ, bất đồng hay bất mãn [rồi đây] sẽ dần dần chìm vào quên lãng. Con người thật của Phạm Duy sẽ không còn án ngữ trước khối lượng tác phẩm đồ sộ và nguy nga của Phạm Duy. Một lúc nào đó, nghĩ đến Phạm Duy, người ta sẽ không còn nhớ đến những chuyện đi kháng chiến rồi dinh tê, chuyện vào miền Nam rồi vượt biên hay chuyện sống ở Mỹ rồi quay về Việt Nam; người ta cũng không còn nhớ những câu phát biểu nhiều khi rất tùy hứng và tùy tiện của ông. Lúc ấy, nghĩ đến Phạm Duy, người ta chỉ nghĩ đến những bài hát do ông sáng tác. Lúc ấy, tôi nghĩ, ông mới sống thật cuộc sống của ông. Một cuộc sống thật vĩ đại.”
 
– Cung Tích Biền
(14.924 Jackson road, 4-2022. Đọc lại, Garden Brook Senior Village 1-2023)
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kể từ khi Putin xua quân xâm lược Ukraine ngày 24/2/2022, những vùng đất quân Nga xâm chiếm đã xảy ra những thảm cảnh vô cùng bi đát như cướp của, hãm hiếp phụ nữ rất man rợ! Những hình ảnh đó được loan tải trên hệ thống truyền thông, hầu hết các quốc gia trên thế giới lên án sự tàn ác, vô luân của quân Nga. Nhân đây, đề cập đến tác phẩm Giờ Thứ 25, cách đây hơn bảy thập niên, nhà văn Virgil Gheorghiu đã mô tả thú tính xác thịt của bọn quân xâm lược hãm hiếp phụ nữ thời đó và hiện nay man rợ như nhau...
Trong bài viết này, tôi sẽ tìm hiểu về cách ăn uống của Đạo Phật – những qui định, tầm quan trọng, tượng trưng, và những lý do ẩn sau những nguyên tắc này...
Vào mùa thu năm 1988, ban tổ chức một hội nghị ở Hong Kong đã mời vợ chồng tôi đến để diễn thuyết về lòng tự tin và hiệu lực tối đa của đức tính này. Vì đây là lần đầu tiên chúng tôi đến miền Viễn Đông, nên chúng tôi quyết định thực hiện chuyến đi dài hơn và đến viếng Thái Lan...
Chiều Chủ Nhật 21/5 vừa qua chương trình nhạc “Tôi vẽ đời em: dòng nhạc Trần Hải Sâm” đã diễn ra trên sân khấu Elizabeth A. Hangs tại Santa Clara Convention Center với sự tham dự của gần 700 khán giả yêu thích văn nghệ vùng San Jose, trung tâm sinh hoạt văn hoá của người Việt ở miền bắc California...
Trong hai thập niên (1954-1975) về lãnh vực âm nhạc ở miền Nam Việt Nam rất nhiều ca khúc ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng và sự ngưỡng mộ, biết ơn người lính VNCH...
Mẩu đối thoại trên là của chàng thanh niên 27 tuổi là Ralph White với nhân viên Đại sứ quán Hoa Kỳ trong những ngày cuối tháng Tư năm 1975 của miền Nam Việt Nam trong cuốn hồi ký Thoát Khỏi Sài Gòn (Getting Out of Saigon) của ông vừa được nhà xuất bản Simon and Schuster phát hành...
Làm sao để có được cuộc sống bình an hạnh phúc là mối quan tâm, là điều ước mơ chính đáng của mọi người, Đông phương hay Tây phương, Bắc hay Nam, giàu hay nghèo, đều có giấc mơ chung đó. Sở dĩ chúng ta có cuộc sống không được bình an hạnh phúc là vì chúng ta có tầm nhìn sai, nhận thức sai, về cuộc sống hiện tại của chúng ta. Từ tầm nhìn sai lầm này, đã đưa chúng ta đến lối sống không đúng, không phù hợp với giá trị của thực tế của cuộc sống chúng ta đang có. Do đó đã gây ra lo âu, phiền não triền miên cho ta...
Nhiều năm trước, tôi có tham dự buổi ra mắt tác phẩm Mouring Headband For Hue của nhà văn Nhã Ca tại Toronto. Nghe danh Nhã Ca-Trần Dạ Từ đã lâu từ trong nước mãi đến nay tôi mới gặp cả hai ông bà. Mouring Headband For Hue do giáo sư Sử học, Tiến sĩ Olga Dror thuộc Đại học Texas A&M University chuyển ngữ từ tác phẩm Giải Khăn Sô Cho Huế, tập hồi ký của Nhã Ca in tại Sài Gòn 1969, được Giải Văn Chương Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa năm 1970...
Chủ nhật tuần đó, tôi điện thoại cho nhà thơ Thành Tôn để mời Thành Tôn đi uống cà phê, Thành Tôn cho biết có nhà văn Song Thao từ Canada qua chơi. Tôi nói Thành Tôn mời luôn Song Thao, dù chưa gặp anh lần nào. Đó là lần lần đâu tiên tôi gặp Song Thao tại Quán Phở Quang Trung...
Nhắc đến GS Nguyễn Văn Sâm, người ta biết ông nhiều trong cương vị một nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà sưu tầm, dịch thuật, khảo cứu di sản Hán-Nôm và văn học Nam Bộ hơn là nhà văn, nhà thơ. Điều này không phải do sáng tác của ông chưa chín, mà có lẽ chính sự đóng góp quá lớn của ông ở mảng khảo cứu, dịch thuật Hán-Nôm đã làm che khuất những tác phẩm văn chương giá trị của ông...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.