Hôm nay,  

Dịch Kafka

04/06/200300:00:00(Xem: 8905)
Diễn đàn Talawas (www.talawas.org) hiện đăng bản dịch Nhật Ký của Kafka, theo như được biết, dịch từ bản tiếng Nga, của Đoàn Tử Huyến. Thử so vài đoạn với bản tiếng Pháp của Marthe Robert [một trong những chuyên viên về Kafka], thấy có khác.
Kafka là một tác giả "không thể không" (chữ của Kafka) dịch, và rất khó dịch, cả về ngôn ngữ lẫn tư tưởng. Kundera, trong Những Di Chúc Bị Phản Bội, cho thấy, chỉ một câu văn của Kafka thôi, dịch qua tiếng Pháp, cũng có đến vài bản dịch, và đều khác nhau, và Kundera chẳng chịu một bản nào, phải tự mình ra tay dịch lại.
Một trong những lý do dịch "hỏng" Kafka, theo Kundera, là do người dịch muốn trau chuốt câu văn, muốn tránh trùng lặp, cho nên thêm thắt, hoặc thay thế một từ bằng những từ tương tự. Trong khi K. luôn luôn, và vĩnh viễn, làø K.; Frieda là Frieda, không người tình, người bồ, cũng không bạn đồng hành, người giúp việc gái, thiếu phụ, thiếu nữ, bạn gái nhỏ....
Một trong những khó khăn nhất, theo tôi, khi dịch Kafka là làm sao... hiểu ông. Và cách hiểu nào thì cũng chỉ "tạm thời", bởi vì mỗi thời lại có một cách hiểu Kafka. Hiểu sao thì dịch vậy, mỗi dịch giả chọn cho mình một cách dịch.
Mới đây thôi, tờ Văn Học Pháp (Magazine Littéraire), sốù tháng Chạp 2000, đã cho rằng, cách đọc Kafka theo kiểu hiện sinh (existentielle), rằng, đây là một thiên tài nói lên (annonciateur génial) những điều ghê rợn của thế kỷ, cách đọc này đã qua rồi. Qua những tài liệu mới mẻ về tiểu sử Kafka của Reiner Stach, những nghiên cứu của Félix Guattari... cho thấy, nếu không hẳn là một người 'vui nhộn' (comique), chắc chắn đây là một con người sống động, xăng xái (dynamique), và.... mê gái (amoureux)! Một con người nổi loạn, không chịu khuất phục, mặc dù (hay là tại vì, à cause de) Thư Gửi Cha (Lettre au Père).
Sau đây là bài viết của J. M. Coetzee, nhà văn Nam Phi hai lần giải thưởng Booker, nhan đề "Dịch Kafka", trên tờ Điểm Sách Nữu Ước, NYRB, sau in trong Stranger Shores, tiểu luận văn học (nhà xb Viking, 2001).

I
Vào năm 1921, nhà thơ Tô Cách Lan Edwin Muir và vợ Willa dời bỏ công ăn việc làm ở London và tới sống ở Lục Địa. Đồng đô la lúc này mạnh; họ hy vọng kiếm đủ sống, bằng cách điểm sách cho tờ báo định kỳ Mỹ, The Freeman.

Sau chín tháng ở Prague, vợ chồng Muirs dời tới Dresden, và họ bắt đầu học tiếng Đức. Willa lo dậy học, trong khi Edwin ở nhà đọc những nhà văn mới nhất viết bằng tiếng Đức. Do đồng tiền mất giá tại Đức, họ dời tới Áo, rồi Ý, rồi trở lại Anh. Tại đây, họ sử dụng cái vốn tiếng Đức mới có được, và trở thành những dịch giả nhà nghề. Trong vòng 15 năm, cho tới khi chiến tranh bùng nổ, như lời mô tả của ông chồng, nhà họ giống như một "xưởng dịch thuật". Cộng chung, họ dịch trên ba chục cuốn, quá nửa là do bà vợ. "Ôi chao, cuộc đời của hai đứa chúng tôi hầu như phí phạm hết vào việc chuyển tiếng Đức qua tiếng Anh," ông chồng hối tiếc, than thở, sau đó.


Một trong những may mắn mở đầu quãng đời phung phí đó, là cuốn Jud Suss, của Lion Feuchtwanger. Cuốn sách trở thành best-seller, và những nhà xuất bản London của họ hỏi, "Ông bà tính làm tiếp, với những tác giả nào"" Edwin vốn đã đọc cuốn Das Schloss, của Kafka, xuất bản sau khi tác giả đã mất, "Đây đúng là một cuốn tiểu thuyết rất ư là siêu hình, và thần bí... một thứ của hiếm, có thể là độc nhất vô nhị", ông chồng viết trong một lá thư. Bản dịch của họ được xuất bản năm 1930. Tuy chỉ bán được 500 cuốn, nhưng Kafka vẫn được tiếp tục dịch: Vạn Lý Trường Thành (1933), tuyển tập những truyện ngăn ngắn, Vụ Án (1937), America (1938), và sau chiến tranh, Xứ Trừng Giới, In the Penal Colony (1948). Những bản dịch của họ, mặc dù đầy lỗi, đã thống trị thị trường tiếng Anh kể từ lúc đó.
Ông chồng, Edwin Muir thấy rằng, nhiệm vụ của mình không những "không thể không dịch" Kafka, mà còn phải hướng dẫn độc giả đọc những bản văn mới mẻ và khó khăn đó. Những bản dịch của họ sau đó đều có "đính kèm" những "lời nói đầu", trong đó, Edwin "dẫn giải" Kafka, gần như hoàn toàn dựa vào bạn bè của Kafka, trong đó có Max Brod. Những lời dẫn như thế tỏ ra rất có ảnh hưởng, qua đó, chúng đề nghị Kafka như là một "thiên tài tông giáo... ở trong một thời đại bi quan", một nhà văn của những ám dụ tông giáo, quá bận rộn với cái chiều không thể đo được, của cõi đời và cõi thần (the divine). o
Như trên đã viết, mỗi người chọn cho mình một cách hiểu, và từ đó, không thể tránh được, là một cách dịch: quan điểm của ông bà Muirs về Kafka, như là nhà văn tông giáo đã ảnh hưởng tới những từ ngữ, câu kệ mà họ sử dụng trong khi dịch, làm sao ăn khớp với những lời dẫn. Và lẽ dĩ nhiên, những độc giả tiếng Anh đầu tiên đã không chút nghi ngờ chấp nhận cách giải thích Kafka của vợ chồng Muirs. Dính cứng vào những bản dịch - đặc biệt là trong Tòa Lâu Đài và Vụ Án - là cách giải thích của hai vợ chồng Muirs, cả hai, dịch và giải như thế đã là nguồn nghiên cứu của những nhà học giả về Kafka. Đặc biệt, ở Mỹ, bản dịch năm 1930, và lời bình 1930 được in đi in lại nhiều lần, gần như nắm độc quyền, ở Anh, đỡ tệ hơn, có bản dịch mới cuốn Vụ Án (1977), và Tòa Lâu Đài (1997).
Nhưng còn một lý do khác nữa, ngoài chuyện một mình một chợ của những bản dịch của Muirs. Bản dịch 1930 của họ dựa trên bản văn 1926 của Brod, và bản này bị "nhuận sắc" (edited) tơi tả, bởi Brod, khi ông cố tình dành cho thế giới một bản văn theo ý của ông. Chưa hết, ông ta còn sửa luôn cả cách chấm câu. Lại thêm lỗi nhà in. Không phải lỗi của họ, nhưng vợ chồng Muirs, như vậy, đã dựa vào một nguyên bản "không thể chấp nhận được".
(còn tiếp)
Jennifer Tran

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng Cộng Sản Trung Quốc, hôm 30 vừa qua, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã đọc một bài diễn văn kêu gọi diệt trừ tham nhũng. Nghe cứ hùng hồn như Hà Nội! Hơn cả Hà Nội, trước đó một ngày, ba đảng viên cao cấp đã mất ghế đại biểu Quốc hội, trong đó có một Phó Đô Đốc, vì tội tham nhũng
Người ngồi đó, lặng yên, không nói. Chiếc áo hoa dù đã úa, cũng nín thinh. Nhưng hình như trong miếng mầu đỏ, có ánh bình minh. Có tiếng nói ồn lên, xưa cũ. Những âm thanh rộn ràng, từng lũ. Tiếng gọi nhau, hàng ngũ, súng, lê. Tiếng ầm vang, pháo chụp, bộn bề. "Trung đội! Dàn hàng ngang! Xông trận!" Người chạy tới, lao vào lửa đạn.
Xuất phát từ tình người, tình "đồng bọc" và trách nhiệm công dân nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa lầm than... tôi thấy cần phải gửi tới ông lá thư này với nội dung cấp báo như sau: Trải qua suốt một thời gian dài theo dõi đại hội Đảng X và kỳ họp quốc hội
Chính quyền Bush đã gặp một trở ngại pháp lý trong việc truy tố các tay khủng bố bị bắt tại Afghanistan và giam tại căn cứ Guantanamo. Trở ngại pháp lý ấy có thể là thắng lợi chính trị ngắn hạn cho đảng Dân chủ để quảng bá lý luận của mình: ông Bush chuyên quyền. Nhưng, bài toán pháp lý ấy
Chuyến về thăm gia đình lần này của tôi có ba việc chính: Việc thứ nhất là thăm sức khoẻ bố mẹ đã già yếu đồng thời cũng để trấn an bố mẹ đã rất lo lắng, sau cú điện thoại của đại diện cơ quan an ninh Đặng Hồng Đức đã gọi cho bố tôi để nói với ông cụ về những việc làm của tôi và còn mập mờ hàm ý
Nhà thơ Trung Quốc Đỗ Phủ trong một lần chạy loạn, nhờ người bạn giúp đỡ, dựng được một túp lều tranh, nhưng rồi bị gió phá sập. Trong bài "Mao ốc vi thu phong sở phá ca", ông không chỉ đau đớn cho thân phận riêng mà còn chạnh lòng nghĩ đến cả những hàn sỹ trong thiên hạ. Người Trung Quốc đã trông xa, lại hay nghĩ gần
Sau một năm làm việc,học-hành mệt-nhọc, ai cũng muốn thư-giản, nhứt là khi nghỉ hè đến. Gần nhà thì đi ra công-viên, đi tắm biển, hoặc đi du-lịch Yosemite,Yellow stone….hoặc đi Hawai, di cruise…hoặc đi xa hơn nữa qua Âu-châu, Trung-quốc hay về thăm quê-hương Việt-nam.
Theo một nguồn tin từ Sài Gòn được loan báo trên mạng Internet vào sáng ngày 19 tháng 6 vừa qua, khoảng 50 người dân Bến Tre bị oan ức bất công về đất đai đã tổ chức một cuộc 'biểu tình' đột xuất ngay trên một số đường phố Sài Gòn như đường Nguyễn Huệ, Võ Thị Sáu, Trần Quốc Thảo, Pasteur, Lý Tự Trọng.
Thật là lạ! Một chế độ cứ tuyên bố mình dân chủ và tự do gấp triệu lần những nước khác, thế mà một người dân chỉ chụp hình đoàn dân oan đi diễu hành ngoài đường bằng điện thoại di động khi không hề có bảng cấm chụp hình, lại phải làm việc với công an suốt nhiều ngày chỉ vì chuyện ấy!
Chiều ngày 25/06/2006, tại khung viên chùa Huệ Quang, thành phố Santa Ana, khu Tiểu Sài gòn đã diễn ra buổi lễ Tưởng Niệm Cố Bồ Tát Thích Quảng Đức và chư vị Thánh Tử Đạo trong thời kỳ pháp nạn, 1963 tại Việt Nam, dưới sự đàn áp tôn giáo khốc liệt của chính phủ độc tài
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.