Hôm nay,  

Tuổi Ngọc

23/07/200300:00:00(Xem: 7816)
(Viết tặng các Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô và Cựu học sinh trường Jeanne d'Arc, Huế nhân kỷ niệm 100 năm thành lập trường, 1903-2003)
Tuổi Ngọc là tên tờ báo học trò của trường Jeanne d'Arc Huế niên học 1965-1966 do tôi thực hiện với sự đóng góp bài vở của giáo sư và học sinh nhân mùa Lễ Giáng Sinh năm 1965. Tôi chọn cái tên nầy để nói về những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò dưới mái trường Jeanne d'Arc, nhân dịp mừng 100 năm của trường (1903 -2003).
Tôi biết đến trường Jeanne d'Arc và các Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô từ năm 1952, cách nay hơn nửa thế kỷ. Hồi đó, tôi mới hơn 12 tuổi, lần đầu tiên đến Huế. Trong khi chờ đợi nhập học tại trường La San Pellerin (trường Bình Linh) do các Sư Huynh Dòng Thánh Jean Baptiste de La Salle (phiên âm tiếng Việt là Dòng các Sư Huynh La San) phụ trách, tôi được một người bà con đưa đến thăm Bà Marie (Dòng "Ma Soeur" Saint Paul) lúc bấy giờ đang phụ trách Bệnh Viện Bài Lao Huế. Bà là Dì ruột của chị dâu tôi (Nguyễn Thị Uyên), và cũng là người đồng hương (Quảng Trị) nên chúng tôi xem Bà như người trong bà con họ hàng của mình.
Cách Viện Bài Lao chừng 500 mét, có trường Jeanne D'Arc của các Soeur Dòng Thánh Phaolô, cùng một Dòng tu với Bà Marie. Ngoài ra, tại làng Kim Long, bên bờ sông Hương, cách Huế chừng 3 cây số còn có một Viện Mồ Côi có tên là Cô Nhi Viện "Dục Anh" do các Soeur Dòng Thánh Phaolô phụ trách cũng đã hoạt động cả trăm năm rồi! (Bà Marie sinh quán tại làng An Lộng, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
Dưới con mắt của tôi, Bà Marie là một Nữ Tu có nhiều uy tín và được mọi người kính trọng nhờ lòng đạo đức, tinh thần bác ái, hy sinh phục vụ bệnh nhân và học vấn của bà. Tôi lớn lên ở một miền quê, tỉnh nhỏ, chỉ thấy các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá, khiêm tốn, nghèo khó, mặc áo dòng đen, đi guốc gỗ, học hành chỉ đủ để dạy giáo lý cho trẻ em quê mùa, dốt nát, nghèo nàn ở các giáo xứ xa xôi, thiếu ánh sáng văn minh của thành thị... Bây giờ thấy một Nữ Tu đi giày da, mặc áo Dòng theo kiểu Tây, nói tiếng Pháp như "đầm", được mọi người kính trọng một cách đặc biệt...nên tôi rất khâm phục.
Năm 1960, vào tuổi trưởng thành, tôi được gia đình trao cho trách nhiệm liên lạc với trường Jeanne d'Arc để lo cho mấy đứa cháu đang học nội trú tại đây. Mỗi năm, vào dịp Tết hay nghỉ Hè, tôi đều nhận được thư mời thay mặt phụ huynh đến dự Lễ Phát Phần Thưởng, xem Văn Nghệ và Hội Chợ do trường tổ chức. Jeanne d'Arc là trường nữ trung tiểu học, tư thục, trước năm 1954-1955, chuyên dạy chương trình Pháp. Bậc tiểu học thì nhận học sinh nam lẫn nữ. Nhưng từ trung học trở lên thì chỉ nhận nữ sinh mà thôi. Các tu sinh cũng học chung với nữ sinh ở ngoài. Trường có nhận học sinh nội trú. Mỗi lớp từ 25 đến 30 học sinh, đa số là con nhà danh giá, giàu có tại Thành Phố Huế và Miền Trung. Trước 1954, nhiều gia đình công chức hay sĩ quan người Pháp cho con đến học trường nầy. Một số các mệnh phụ, phu nhân đều xuất thân ở đây. Tất nhiên nữ sinh trường Jeanne d'Arc cũng có tiếng là xinh đẹp và được đánh giá cao về mặt tư cách đối với xã hội thời đó.
Mỗi lần tổ chức hội chợ, trường lựa chọn các cô duyên dáng, ăn mặc lịch sự, nói năng khôn ngoan, khéo léo để tiếp đón quan khách. Đặc biệt, trường chọn các cô có bàn tay đẹp, đứng núp sau màn, chỉ đưa "bàn tay ngọc" lên cho người ta ném vòng. Vòng nào lọt vào bàn tay đó thì được phần thưởng. Ngoài ra còn những màn múa, hát và diễn kịch do các nữ sinh và các tu sinh trình bày rất công phu, đẹp mắt. Nhiều chàng trai đến xem văn nghệ, tham gia hội chợ...ra về phải mang bệnh tương tư! Có thể nói, đây là cơ hội cho các bà mẹ, các cậu con trai danh giá trong thành phố tìm người để "kết tóc xe tơ", tính chuyện xây dựng gia đình tương lai...
Mặc dù mới ngoài hai mươi tuổi, nhưng với trách nhiệm là người đại diện gia đình, cứ mỗi cuối tuần tôi đến gặp Bà Hiệu Trưởng để xin phép cho các cháu về nhà chơi, ở lại tối thứ Bảy, chiều Chúa Nhật trở lại. Nhiều lần được nói chuyện với Bà Hiệu Trưởng, tôi được Bà quý mến và xem tôi là người đứng đắn, trưởng thành. Năm 1964, tôi đang học tại Đại Học Sư Phạm Huế, thì Linh Mục Nguyễn Kim Bính, lúc đó đang làm Cha Xứ tại nhà thờ Phanxicô, bên cạnh trường Jeanne d'Arc cho biết, trường đang cần một giáo sư dạy Văn Chương và Sử Địa và ngài cũng muốn giới thiệu tôi. Đa số giáo sư của trường là các bậc lão thành hoặc các cô giáo, ít khi có Thầy giáo trẻ tuổi như tôi.
Năm 1964, trường mới có các lớp Đệ Nhất Cấp: từ lớp đệ tứ (tức lớp 9) trở xuống. Bà Hiệu Trưởng là một Nữ Tu nói giọng Huế, có người anh ruột là một Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế, hai anh em đều trở lại đạo Công Giáo, một người làm Linh Mục và một người là Nữ Tu. Bà có văn bằng Cử Nhân, đối với thời đó, rất giá trị. Qua niên khóa 1965-1966, có Hiệu Trưởng mới và trường mở thêm 2 lớp Đệ Tam (lớp 10) và Đệ Nhị (lớp 11) thi Tú Tài bán phần. Các Nữ Tu Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Con Đức Mẹ Đi Viếng (Kim Đôi) cũng được gởi đến học tại đây, mỗi lớp vào khoảng 40 học sinh. Tôi dạy Quốc Văn (Việt) lớp Đệ Tam (10) và Sử Địa lớp Đệ Nhị (11). Trước khi vào niên học, tôi nhớ có cô sinh viên lên nhận bằng Cử Nhân Văn Chương Pháp tại Đại Học Huế với huy chương danh dự bằng bạc. Khi gọi tên cô, ai cũng chăm chú nhìn xem "nhan sắc" cô như thế nào" Nhưng các nam sinh viên đã quá ngạc nhiên khi được biết cô sinh viên đó lại là một Nữ Tu Dòng Thánh Phaolô: Soeur Marie Jeanne Đại Thị Đức, em ruột của nhà văn TCHYA (Đại Đức Tuấn). TCHYA là tác giả các tiểu thuyết nổi tiếng trước 1945 như Kho Vàng Sầm Sơn, Đồng Tiền Vạn Lịch,v.v...mà tôi đã say mê đọc một thời...Nữ Tu Đại Thị Đức đã từng du học ở Roma về, là người có tài thuyết phục, ngoại giao rộng, biết tổ chức, chỉ huy.

Niên học mới 1965-1966, Soeur Marie Jeanne (Đại Thị Đức) làm Hiệu Trưởng. Học sinh thường gọi là Bà Marie Jeanne khác với Bà Jeanne (Trương Thị Hưởng) đã từng làm Hiệu Trưởng vào những năm 1960-1963. Bà Marie Jeanne rất có uy, học sinh đều sợ Bà. Tôi còn quá trẻ, sợ mang tiếng với các cô học trò nên mỗi lần đến giờ ra chơi (giờ nghỉ), tôi thường đến văn phòng Bà ngồi nói chuyện. Tôi gọi Bà bằng Dì một cách thân mật, xem Bà như là bậc phụ huynh trong gia đình. Ở Huế, vào khoảng tháng 10 trở đi, thời tiết hay mưa bão, có khi trời trở lạnh bất thường. Có lần Bà đi ngang lớp tôi đang dạy, thấy tôi hắt hơi, sổ mũi...Bà liền đi xuống nhà ăn, bưng lên một ly rượu vang nóng (wine) và hai viên thuốc cảm, để trên bàn cho tôi. Rồi chào tôi, ra đi. Học sinh thấy vậy, nói với nhau:
"Bà Marie Jeanne là Mẹ của ông T. đó!". Cô khác lại nói:"Ông T. là cháu Bà Marie Jeanne!"...
Lễ Giáng Sinh năm 1966, tôi thực hiện cho trường một đặc san, với phương tiện riêng của tôi, không bắt học sinh đóng góp tiền bạc gì. Tôi nhờ họa sĩ Phạm Văn Hạng trình bày hình bìa và trang trí bên trong. Tôi kêu gọi anh em giáo sư và học sinh tham gia, có người làm thơ, có người viết truyện. Tôi cũng góp một truyện ngắn, một bài thơ...cho vui. Báo in Ronéo, nhờ nhà in đóng và cắt xén rất đẹp. So với thời đó, một tờ báo của học sinh mà được như thế là hãnh diện lắm rồi! Đây là kỷ niệm cuối cùng của tôi với trường Jeanne d'Arc.
Sau đó ít lâu, tôi được chuyển về làm việc tại Bộ Giáo Dục và chưa đầy một năm sau (tháng 10-1967) tôi ra ứng cử Dân Biểu Hạ Nghị Viện tại Thừa Thiên. Sau khi đắc cử, tôi trở về Sài Gòn. Thỉnh thoảng có dịp ra Huế, tôi có đến thăm Soeur Marie Jeanne và thăm trường. Bà Marie Jeanne có xin tôi mua cho trường một cái loa phát thanh cầm tay để khi nói chuyện trước đám đông học sinh cho tiện. Tôi đã thực hiện theo ý của Bà. Trong thời gian làm Dân Biểu, có lần tôi đi qua Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Đại Hàn...Qua sự giới thiệu của Bà Marie Jeanne, tôi có ghé thăm gia đình Ông Bà Thành Quang Nhiên, Tổng Lãnh Sự VNCH tại Hồng Kông và đã được Ông Bà tiếp đón rất ân cần. Bà Nhiên là người trong gia đình của Bà Marie Jeanne.
Từ 1972 trở đi, tôi không có dịp về Huế. Nghe nói Bà Marie Jeanne đã về Nhà Dòng tại Đà Nẵng. Sau ngày 30-4-1975, tôi bị giam giữ trong "nhà tù cải tạo" của chế độ CSVN suốt 13 năm. Tết năm 1988, được về Sài Gòn, tôi liền viết thư ra Đà Nẵng báo tin và hỏi thăm Bà. Nhưng Bà Bề Trên Nhà Dòng ở Đà Nẵng đã viết thư cho tôi biết: Bà Marie Jeanne Đại Thị Đức đã qua đời! Tôi rất buồn và cảm thấy một sự mất mát rất lớn trong cuộc đời của mình: Trong thời gian 13 năm tù, mẹ tôi qua đời năm 1985 và bây giờ 1988, lại thêm một người mẹ tinh thần nữa ra đi! Ở trong tù cũng như khi được tự do, mỗi lần đọc kinh, cầu nguyện hay tham dự Thánh Lễ, tôi đều nhớ đến các ân nhân, trong đó có Bà Marie Jeanne.
Vợ tôi cũng là cựu học sinh Jeanne d'Arc và cũng đã trở lại đây làm giáo sư một thời gian. Cách nay chưa đầy một năm, có mấy người bạn cùng lớp với vợ tôi tại trường Jeanne d'Arc gặp nhau tại TP Westmisnter, Nam California. Tôi có đến thăm. Tất cả được 05 người. Bốn người ở Nam California: Bùi Thu Hương, Phan Thu Hương, Nguyễn Thị Hải, Nguyễn Thị Lài và Nguyễn Thị Tân ở New Jersey...Các cô mong có dịp họp mặt cựu học sinh Jeanne d'Arc đông hơn. Nghe nói ở vùng San Jose (Bắc California) có nhóm Thiên Hựu - Jeanne d'Arc, không biết được bao nhiêu người" Ở Việt Nam, tôi có gặp chị Nguyễn Thị Sô, chị Lê Thị Bình (Dòng Kim Đôi) và Nguyễn Thị Lệ Mỹ...Tại Hoa Kỳ, tôi có gặp Từ Thị Siêu và Nguyễn Thị Phước...Tôi không còn nhớ mặt các cô, nhưng các cô vẫn còn nhận ra tôi.
Xin cám ơn Soeur Theresa Nguyễn Thị Diệu Thới, cựu học sinh trường Jeanne d'Arc Huế, hiến ở Đà Nẵng, đã báo tin cho tôi biết kỷ niệm 100 năm (1903-2003) trường Jeanne d'Arc Huế sẽ được tổ chức vào ngày 27 tháng 12 năm 2003 tại Huế.
Các cựu Giáo sư và cựu học sinh trường Jeanne d'Arc có thể liên lạc với:
Sr. Benedictine Trần Diệu Khánh
365 Ngu Hành Sơn (Phan Tu)
Quận 3 Đà Nẵng- Việt nam
Địa chỉ email: [email protected]
Sau ngày 30-4-1975, trường bị nhà nước CSVN chiếm đoạt, các Soeur phải đi nơi khác, học trò cũng không còn! Đây là tài sản của Giáo Hội Công Giáo, không biết Nhà Nước có chịu trả lại cho Nhà Dòng hay không" Các Soeur suốt đời lo việc giáo dục và bác ái, xã hội, phục vụ người nghèo, người đau ốm...không lẽ chẳng còn ai biết đến công ơn của các Nữ Tu hay sao" Việc tịch thu nhà cửa, tu viện, trường học, nhà nguyện, cô nhi viện của các Soeur...có hợp tình, hợp lý hay không"
NLT (7-7-2003)
(Sau đây là bài thơ về trường Jeanne d'Arc của một cựu học sinh, gởi về Quý Soeur Dòng Saint Paul nhân kỷ niệm 100 năm thành lập trường Jeanne d'Arc)
TRƯỜNG JEANNE D'ARC
Có một ngày, khi trở lại Quê Hương,
Tôi sẽ không quên hỏi tên đường,
Thăm lại Jeanne d'Arc, ngôi trường cũ,
Cho thỏa lòng, tôi vẫn nhớ thương.
*
Thuở ấy, tóc tôi hẳn còn xanh,
Tuổi xuân với ước mộng trong lành,
Mơ ước tuyệt vời và thánh thiện,
Tôi nhìn đời, đời đẹp như tranh.
*
Mỗi ngày hai buổi, tôi đến trường.
Trường tôi giữa núi Ngự sông Hương,
Do Quý Nữ Tu mang áo trắng,
Mà cuộc đời (là) bản nhạc Yêu Thương.
*
Trường như tổ ấm của chim non.
Trường cho tuổi trẻ nụ cười dòn.
Trường khai trí tuệ thêm trong sáng.
Trường luyện con người, tấm lòng son.
*
Tới trường, tôi gặp bạn, gặp Thầy.
Học hành không bỏ một phút giây.
Tôi kính Thầy Cô như Cha Mẹ.
Bạn bè cũng chọc phá một cây!
*
Giờ tôi tuổi đã tóc muối tiêu,
Nghĩ đến trường xưa, nhớ thật nhiều,
Nhớ bạn, nhớ Thầy, ngôi trường cũ,
Lòng thầm cảm tạ Đấng Cao Siêu.
An Siêu
(Cựu học sinh trường Jeanne d'Arc)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.