Hôm nay,  

Tìm Mẹ

13/08/200300:00:00(Xem: 8413)
Thân tặng Giám Mục Mai Thanh Lương, Người vừa nhận sứ mạng mới ở Orange County.

Bản quán của tôi là làng Phương Lang, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nhưng tôi ra đời là Cố Đô Huế. Hồi còn bé, mẹ tôi gởi tôi về ở với Cậu, đi học Tiểu Học trường làng Thâm Triều, quận Hải Lăng. Đã lỡ uống nước vùng đồi núi Nam Giao rồi thì giọng Huế rặt ròi không mất khiến cho những người quen tôi cứ ngỡ rằng tôi đích thị là người Huế chánh tông.

Những năm mới ngoài hai mươi, tôi phải buộc lòng xa Huế. Càng đi xa Huế, lòng thương lòng nhớ Huế càng nặng. Huế của tôi trong đó có bóng người cha những năm ngắn ngủi với đời mà tình sâu với con bền vững như đỉnh núi Ngự Bình, có dáng người mẹ hiền một đời tần tảo khổ nhọc muôn bề mà trái tim thương lo cho con mênh mông vời vợi như dòng sông Hương. Huế là tình sâu nghĩa nặng như thế, cho nên một ngày nọ, khi Bác Sĩ Tôn Thất Niệm mời tôi tham gia vào việc thành lập Hội Bảo Tồn Cố Đô Huế, tôi đã nhận lời không một chút ngần ngại, bởi vì đây là dịp cho nguồn yêu thương Huế trong tôi lớn dậy, cho nỗi nhớ về nơi chôn giau cắt rốn từ xa xưa tràn ngập trong lòng. Làm cái gì cho Huế cũng là một cách lên đường đi tìm lại những nỗi niềm thân thiết đã thất lạc từ lâu rồi.

Góp mặt với Hội Bảo Tồn Cố Đô Huế, đa số là người Huế, những người Huế xa Huế đã lâu và sự nghiệp một đời đã lẫy lừng ở những nơi ngoài Huế. Bác Sĩ Tôn Thất Niệm, ông Bùi Hữu Lân... và đặc biệt là Linh Mục Bửu Dưỡng, là những người năng nổ nhất. Câu chuyện nào giữa chúng tôi với nhau cũng rất thân thiết, rất tình cảm, nhẹ nhàng như những lời tâm sự. Linh Mục Bửu Dưỡng rất muốn tôi đứng ra làm Hội Trưởng nhưng tôi lại theo chủ trương "kính lão đắc trường thọ" nên thôi thúc Ngài lãnh trách nhiệm Hội Trưởng đầu tiên. Điều này còn thêm một ý nghĩa khác vì Ngài là người Hoàng Tộc lại đang là Giáo Sư của Đại Học Văn Khoa. Tuy chỉ làm việc chung với nhau trong một thời gian gần 10 năm, gặp nhau hài hòa giữa những buổi họp, nhưng giao tình giữa chúng tôi và tình đồng hương cũng đủ tin cậy để làm chỗ dựa cho những chuyện riêng tư.

Một lần, Linh Mục kể cho tôi nghe chuyện gia đình của Ngài. Ngài là con út của một bà mẹ cả, trong một gia đình quý tộc quy ngưỡng đạo Phật. Rủi ro mẹ mất sớm. Có một người anh đầu. Tuổi bé thơ mà mất mẹ, nên mỗi lần nhớ tới mẹ, nhớ tới thân phận mồ côi của mình thì buồn xa xót. Ngài hay tìm tới ngôi chùa ngày trước thường được mẹ dẫn đi, lang thang thơ thẩn một mình trong vườn chùa, đi mãi đi hoài như cố kiếm tìm một cái gì thiết tha đã mất. Có bữa Thầy Trú Trì bắt gặp, hỏi thăm chú tìm chi ngoài vườn vậy " Trong trái tim bé thơ với vết thưong mất mát nặng trĩu, chú hồn nhiên trả lời: "Thưa Thầy con đi tìm mẹ" ! Thầy bảo: "Chú có điên không" Mẹ chú chết rồI còn đâu nữa mà đi tìm". Chú không tin người lớn. Chú không tin sự mất mát kia là có thật.

Thuở thiếu niên, Linh Mục Bửu Dưỡng học trường Providence ở Huế. Giờ ra chơi, giờ nghỉ học, chú không chịu về nhà, cứ quanh quẩn nơi vườn hoa trước nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, thơ thẩn trông tìm. Có một Linh Mục tình cờ bắt gặp hỏi: "Con đi tìm gì thế "" Chú trả lờI: "Con đi tìm mẹ con". Cha dẫn chú vào nhà thờ, chỉ vào tượng Đức Mẹ Maria, bảo chú: "Mẹ của con đó". Chú im lặng, không nói năng chi. Người mẹ mà chú đi tìm vẫn biệt tăm mất tích. Nhưng từ đó, cùng với ngày tháng nặng nề vô cảm trôi qua, giờ khắc rảnh rỗi nào chú cũng tìm vào nhà thờ quỳ trước linh tượng Đức Mẹ dịu dàng để tìm sự an ủi.

Như đi giữa sương lâu dầm ướt áo, chú bé bước vào đường tu, làm Linh Mục nhiều năm, nổi tiếng uyên bác và làm Giáo Sư Đại Học Văn Khoa Sàigòn. Có lần, ngồi bên Linh Mục, tôi đùa: "Nếu trở lại vài chục năm trước, gặp Ngài đi ngoài vườn chùa, tôi sẽ hỏi: "Chú đi tìm gì vậy "" Ngài, cũng với câu trả lời quen thuộc: "Con đi tìm mẹ". Tôi sẽ dẫn chú vào Chùa, chỉ vào ngôi tượng Phật Bà Quan Âm dịu hiền thanh thoát. Lúc ấy chắc là Ngài đã tìm được mẹ rồi. Và bây giờ ngồi bên cạnh tôi đây là hình ảnh trở thành của chú bé ngày xưa, một Hòa Thượng hiền lành. Ngài cũng như tôi, đã nuôi lòng đi tìm người mẹ ruột thịt của mình qua hình ảnh Mẹ bất tuyệt của tín ngưỡng và trần gian.

Trẻ con nào mà không gần mẹ, không cần mẹ, không quay quắt đi tìm Mẹ lúc xa vắng" Mẹ là cái gì thân thiết, gần gủi làm ấm áp mặn mà đời con như hương của loài hoa. Thiếu mẹ, mất mẹ là một nỗi buồn lớn, một thứ bất hạnh rủi ro nhất cho đời người. Trong đạo Phật, mùa Lễ Vu Lan là mùa mẹ cha, mùa của tri ân hiếu dưỡng, mùa cho con nghĩ về mẹ. Nếu mẹ còn sống, cầu cho mẹ mạnh khỏe an vui, hái đóa hồng tươi từ trái tim nhiệt nồng yêu thương dâng mẹ. Nếu mẹ đã qua đời, cúng dường Trai Tăng hồi hướng công đức cho mẹ được an nhiên siêu thoát nơi miền Cực Lạc, có những thân tái sanh tốt đẹp. Thương mẹ, lúc nào con cũng nuôi lòng đi tìm cho gặp mẹ, mẹ còn sống, mẹ qua đời, mẹ vô tình đã thất lạc con (con thất lạc mẹ) trong nỗi đời phiền lụy. Đi tìm và gặp mẹ, có mẹ rồi đời con sẽ hết bơ vơ.

Ngày mẹ tôi lìa đời, tôi buồn lắm. Trong niềm bơ vơ vì mất mẹ, những câu thơ của ai đó cũng làm cho tôi thêm tủi thân:

Thấm thoát bao ngày tiếng dế vang
Bao ngày mẹ vắng giữa trần gian

Hay:

Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời !

Trốn vào những tình thơ tan nát đó, hồn càng thêm thương tích. Và cuối cùng, tôi nhận ra một sự thật: trong cuộc đời, không có gì buồn hơn là mất mẹ; không có gì vui sướng hơn là còn mẹ, và ấm áp thay những trái tim lúc nào cũng nhiệt nồng quay về mẹ, đi tìm mẹ một đời.

Los Angeles,
Mùa Vu Lan 2547 - 2003
HUYỀN KHÔNG

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.