Hôm nay,  

Chữa Lành Thế Giới Khổ Đau

07/09/200500:00:00(Xem: 5559)

- Đại Sư Chứng Nghiêm, Sáng lập viên Hội Phật Giáo Cứu Tế Tzu-Chi (Từ Tế)
Pháp Hạnh Phạm Quốc Hưng chuyển dịch

Thế giới chúng ta đang sống thật có quá nhiều đau khổ! Mỗi ngày chúng ta lại chứng kiến một tai ương ách nạn nữa xảy ra. Tâm chúng ta bị nhói đau khi có quá nhiều người bị khổ. Nhưng từ đau khổ mà chúng ta thấy được tình thương chân thật và khi đối diện đau khổ thì lòng cảm thương được đánh thức. Chính khổ đau đã khai mở con mắt và trái tim chúng ta vào chân lý.
Ở đời này, ai mà chẳng khổ" Vì lẽ đó, mà đức Phật đã tuyên thuyết Bốn Chân Lý Cao Quý ngay khi vừa thành đạo để giúp chúng ta dập tắt nổi khổ triền miên.
Đức Phật, khi quán chiếu quá trình sanh, già, bệnh, chết đã nhận chân rằng khổ đau tiềm ẩn trong cuộc sống của mỗi con người. Sanh, lão, bệnh, tử chỉ là những diễn biến của tự nhiên. Ngoài chúng ra, còn có những khổ đau gây ra do hoàn cảnh thế cuộc như phân chia giai cấp trong xã hội, chênh lệch giữa giàu và nghèo, cùng nhiều tình huống khác. Đức Phật trước những cảnh khổ này đã nổ lực tìm hiểu sự thật về khổ và chiêm nghiệm phương cách con người có thể xoa dịu niềm đau của mình. Sau khi giác ngộ, Ngài đã chỉ bày Bốn Sự Thật Cao Quý đưa ra con đường thoát khổ cho chúng ta.
Vâng, chúng ta đang sống trong thế giới đau khổ. Nhưng lẽ nào chúng ta để cho nhau phải chịu mãi cảnh sống khổ đau" Chẳng lẽ chúng ta không nghĩ ra được những phương cách để giúp cho những người đang bị đau khổ"
Đức Phật nói về bốn thứ tâm lớn không thể đo lường được (Tứ Vô Lượng Tâm). Bốn tâm đó là tâm thương yêu tử tế, tâm thương cảm, tâm an vui, và tâm hiến tặng nhưng không quyến luyến bó buộc. Những tâm này là thuốc trị khổ đau. Nhưng để hiệu nghiệm thì chúng ta phải đem ra sử dụng và thực hành.
Những người đang đau khổ cần tình thương và sự săn sóc. Vậy chúng ta cần có tâm thương yêu tử tế và thương cảm. Thế giới đã quá nhiều đau khổ vậy tại sao chúng ta không thương yêu lẫn nhau" Chẳng phải khi có tình thương thì con người sẽ hết khổ đau sao" Chẳng phải đó là điều tuyệt vời sao" Bởi thế, sứ mạng của tâm thương yêu tử tế là phát triển hoà bình và hoà hợp ở mọi người và để gây cảm hứng cho người ta thương nhau và cống hiến sức mình giúp đỡ tha nhân. Sự cống hiến và giúp đỡ đó đến từ nhận thức rằng khi sống trên hành tinh này, chúng ta đều có sự nối kết với nhau như là những bộ phận của một tổng thể.
Vì thế tôi đã liên tục nhắc nhở thành viên của Từ Tế, khi họ tiếp ứng thiên tai sóng thần vừa qua bằng cách xuống đường gây quỹ khắp nơi, rằng đây chẳng phải là công việc để tính toán tiền bạc thu vào ít hay nhiều, mà là để gây chú ý và kêu gọi lương tâm của những người đang được an ổn khỏe mạnh và cảm hóa tâm tử tế của họ. Khi tai họa giáng xuống một phần của thế giới, tất cả chúng ta trong ngôi làng địa cầu này cần phải được giúp đỡ. Đây là điều không những chúng ta cần nhận thức rõ mà chúng ta phải giúp mọi người nhận thức ra được.
Tâm thương cảm-nhìn những người đang khổ, chúng ta không thể ngồi yên nhìn họ tiếp tục bị khổ sở. Chúng ta cảm thấy nổi đau của họ như chính nổi đau của chúng ta. Vì lý do này, chúng ta nhanh chóng có mặt tại Tích Lan và tỉnh Aceh của Nam Dương để giúp đỡ. Nếu không thì chúng ta đã chẳng làm được như vậy, phải không" Nếu chúng ta nghĩ Tích Lan là xứ sở quá xa Đài Loan, nó chẳng là gì với chúng ta cả hoặc những người dân đó có liên quan gì đến chúng ta" Thật ra, chúng ta không có sự nối kết với họ một cách trực tiếp, chúng ta chỉ cảm thấy không thể chịu đựng được trước nổi đau của họ.
Ngay khi nghe tin thiên tai, nhân viên và thiện nguyện viên của Từ Tế đã ngay lập tức thành lập đoàn cứu trợ. Cảm động hơn là khi tập thể bác sĩ của các bệnh viện Từ Tế tức thời tình nguyện tham gia đi đến các vùng lâm nạn. Ai cũng muốn đi cả. Cuối cùng, một trong họ, một vị phó tổng quản trị, cũng là một bác sĩ về dịch học đã thốt lên, "không có ai thích hợp hơn là tôi." Vị này nói như vậy vì sau thiên tai, điều người ta sợ hãi nhất là sự bùng phát bệnh truyền nhiễm.
Khi đoàn tiếp cứu của chúng ta đi đến các vùng bị thiên tai tàn phá, họ đi qua những tử thi nằm la liệt khắp nơi. Mùi hôi nồng nặc đến nỗi bao nhiêu lớp khẩu trang cũng không ngăn được. Các vị bác sĩ biết điều này nhưng nó cũng chẳng ngăn họ không tình nguyện đi. Nếu không có tình thương rộng lớn, ai dám đi như vậy" Vì thế, tôi thường nói tình nguyện viên là những vị bồ tát sống. Ai ngoài những vị bồ tát có thể thực hành những hành động này.
Bởi vì sự khổ đau, lòng thương cảm của con người được đánh thức và là nguồn cảm hứng cho họ đích thân đi đến vùng thiên tai để giúp người hoạn nạn. Những ai không đi được thì tận tụy quyên góp cứu trợ. Những thiện nguyện viên trên toàn thế giới đều làm việc này. Có những nơi tuyết rơi lạnh lẽo nhưng họ vẫn đứng bên đường trong cơn lạnh. Họ thật sự muốn giúp đỡ những người đang đau khổ nơi vùng thiên tai. Họ làm với trái tim sốt sắng và thành tâm. Tâm cảm thương của họ làm cho họ có quyết tâm vị tha hi sinh sự êm ái và thư nhàn để giúp đỡ tha nhân. Họ làm như vậy với niềm hoan hỉ. Tuy hai cánh tay tê cứng và đau nhức sau một ngày ôm thùng lạc quyên, tim họ đầy niềm vui.
Ở đây, Phật pháp được hiện bày. Trong hành động cống hiến, họ đã sống theo Bốn Tâm Lớn Không Đo Lường Được của thương yêu tử tế, thương cảm, an vui, và sự cho mà không quyến luyến. Hành động của họ được thúc đẩy bởi từ bi. Khi cho, họ cảm nhận niềm vui lớn và sự sẳn lòng cống hiến chính mình nói lên sự không quyến luyến của họ.
Có nhiều mẫu chuyện từ thiên tai sóng thần cho chúng ta thấy tâm thương yêu tử tế, thương cảm, an vui, và cho mà không quyến luyến là như thế nào.
Khi các đoàn thiện nguyện viên cứu tế của Từ Tế đến Tích Lan và tỉnh Aceh của Nam Dương, ngoài việc phát các dụng cụ khẩn cấp, chúng ta còn trị các vết thương và cung cấp săn sóc y khoa. Thêm vào đó, chúng ta còn cố gắng giúp họ chữa lành tâm hồn mình. Khi thiên tai bất thần lấy đi quá nhiều mạng sống, chia cắt bao gia đình, và cướp mất những người thương yêu nhất trên cõi đời của họ, chúng ta không thể nào tưởng tượng hết chấn động tinh thần và niềm đau mất mát mà những người sống sót phải chịu đựng. Mặc dù họ được tha mạng, nhưng họ cũng thọ khổ nhiều hơn vì thoát chết. Vì lẽ đó, họ thật sự cần mọi người giang tay ra an ủi, hỗ trợ, và giúp họ vượt qua giai đoạn đau thương này.


Tại các địa điểm khám và cho thuốc miễn phí, các thiện nguyện viên không những chữa trị các tật bệnh về cơ thể mà còn tìm cách chữa lành nổi thống khổ tinh thần qua những cuộc trao đổi với những người sống sót. Lấy trường hợp của bác sĩ trưởng Trung Tâm Y Tế Phật Giáo Từ Tế, Lin Shinn-zong, làm thí dụ. Khi hướng dẫn đoàn y khoa đến phục vụ tại các trạm xá ở tỉnh Hambantota, Tích Lan, ông bắt đầu mỗi buổi khám bằng cách hướng dẫn mọi người hát chung với nhau để làm vơi diệu đi tâm hồn của mọi người. Với bệnh nhân, ông bày tỏ sự quan tâm chăm sóc bằng cách nắm tay họ, ôm họ vào lòng, hoặc vỗ lưng họ lúc hỏi han về gia đình của những bệnh nhân này. Chỉ sau khi có được sự kết giao với bệnh nhân, ông mới bắt đầu đề cập đến bệnh tình của họ. Bác sĩ Lin chăm sóc mọi người như thể chăm sóc thành viên của chính gia đình ông. Các nhân viên y khoa khác cũng đối sử như vậy với bệnh nhân của mình.
Qua những giao tiếp với tình thương và sự chăm sóc, nhiều nạn nhân thiên tai vốn thu rút vào thế giới đau khổ của riêng mình, bắt đầu hướng ra thế giới bên ngoài để đối diện với thực tại. Một số còn phục vụ như là thiện nguyện viên, chuyển hóa nổi đau của mình thành sức mạnh để giúp đỡ tha nhân.
Một trong những thiện nguyện viên đó là một người đàn ông tên Abdullah. Khi người hàng xóm đưa ông đến trạm xá, ông này đã không ăn hay ngủ trong 6 ngày liền và chẳng thốt ra một lời nào. Mỗi khi ông nhắm mắt, ông thấy hình ảnh của vợ và con ông. Ông đã đi tìm xác họ trong suốt ba ngày liền. Xác hai mẹ con được tìm thấy ở tư thế ôm chặt lấy nhau. Các thiện nguyện viên Từ Tế hết sức quan tâm đến sức khỏe của ông và nhanh chóng mời ông ngồi. Một thiện nguyện viên đem cho ông một ly nước ấm và chuẩn bị một tô mì gói cho ông. Nắm lấy tay ông, một thiện nguyện viên ngồi xuống và an ủi vỗ về bày tỏ cảm thương và khuyến khích. Sau một khoảng khắc dài, Abdullaha cuối cùng đã cất tiếng và bắt đầu kể lại câu chuyện đau thương cho các thiện nguyện viên.
Sau đó, các thiện nguyện viên của Từ Tế tiếp tục thường xuyên thăm viếng Abdullah. Vào một buổi thăm hỏi, vị thiện nguyện viên nói với ông, "tôi có thể hiểu nổi đau sâu thẳm của ông và nổi niềm khi mất mát những người thương yêu. Nhưng khi người thương của chúng ta mất đi và chẳng có gì có thể làm làm được nữa, điều tốt nhất chúng ta có thể làm là chuyển tình thương chúng ta có cho họ đến những người khác. Ông có sẳn lòng dâng hiến tình thương và sự chăm sóc ông đã dành cho người thương của mình đến người khác không, như là sự tưởng nhớ đến người thân của mình""
Abdullah nghe những lời nói ân cần mà sâu sắc này từ từ mở rộng cõi lòng. Ông bắt đầu mỉm cười trở lại và nói chuyện với mọi người như ông đã từng như vậy, và ngay cả đi làm trở lại với công việc giữ trật tự tại một nhà máy. Giám đốc của ông hết sức ngạc nhiên vì ông này tưởng rằng ông không bao giờ sẽ bình phục để trở làm làm việc. Từ đó, Abdullah tình nguyện đến trạm xá để hiến tặng sự săn sóc cho những người khác.
Thật ra, đây là điều chúng ta đều hy vọng xảy ra. Ngoài việc giúp đỡ tha nhân với những nhu cầu cấp thiết và làm việc để giúp họ xây dựng nhà ở hầu an cư lập nguyệp tái xây dựng cuộc sống mới, chúng ta cũng hy vọng rằng những nạn nhân sống sót này, vì đã trãi qua những giây phút hãi hùng của thiên tai, có thể chuyển kinh nghiệm đau thương thành động lực cho một viễn cảnh mới. Vì vậy, chúng ta hy vọng rằng qua sự chăm sóc và hỗ trợ của các thiện nguyện viên Từ Tế, họ chẳng những có thể vươn lên trở lại mà còn có thể mở rộng con tim giúp đỡ những người cần giúp. Ngày trước họ chỉ dành hết cho gia đình và người thân của mình nay nhận thức được cuộc sống, họ sẽ mở rộng vòng tay cho những người cùng khổ khác. Theo cách này, nguyện xin thời gian mà họ cống hiến gieo được những hạt giống nghiệp tích cực, và nhân rộng ra từ nhiều hành động tốt của nhiều người, tạo nên cộng nghiệp tích cực dựng xây một thế giới vững mạnh hơn.
Nổ lực cứu tế thiên tai Nam Á này có rất nhiều thử thách. Ví dụ như việc các thiện nguyện viên phải đi vòng xa hơn trong điều kiện đường xá hiểm trở và khó khăn để vận chuyển hàng cứu trợ đến các vùng bị thiên tai. Để đến được thị trấn Meulaboh của tỉnh Aceh ở Nam Dương để đưa 11 xe hàng với các hàng cứu trợ, các thiện nguyện viên phải lái suốt chặng đường 40 tiếng đồng hồ. Dù vậy, không có lời than thở nào. Thay vào đó, họ còn cảm thấy miễn là mình giúp người vơi đi nổi khổ, tất cả các nổ lực dù khó khăn vất vã bao nhiều đều đáng làm.
Trong tổ chức Từ Tế, chúng ta có một câu nói đặc biệt khi làm việc kiệt sức, thay vì nói như vậy (tiếng Quan Thoại là "xin ku"), chúng ta nói chúng ta được phước (tiếng Quan Thoại là "xing fu"). Mặc dù các thiện nguyện viên có thể bị ướt sũng mồ hôi, họ vẫn đầy niềm vui vì họ đã dành được cơ hội để đóng góp. Tình cảm này được bày tỏ trong tất cả các nhóm thiện nguyện viên khi trở về từ những vùng thiên tại ở Nam Á.
Các thiện nguyện viên Từ Tế ở Hoa Kỳ cũng như vậy. Họ dũng cảm vượt qua hành trình 53 tiếng đồng hồ bay từ Mỹ tới Tích Lan qua ngã Đức Quốc và Singapore. Ai cũng háo hức với cơ hội được đóng góp. Các thiện nguyện viên tới các vùng thiên tại phải chịu đựng những thời khoá biểu hết sức mệt nhọc và kéo dài, tuy nhiên họ vẫn cống hiến mình một cách vui vẻ mà không đòi hỏi đáp đền gì. Không những thế, họ còn cảm thấy biết ơn. Vì sao" Bởi vì họ nhận thức ra rằng chỉ vì họ được may mắn, khoẻ mạnh, và an lành nên họ mới có cơ hội giúp người. Biết ơn sự may mắn, họ muốn cho lại hay đóng góp một cách tận tụy và sẳn lòng cũng như vui vẻ chấp nhận mọi khó khăn gian khổ.
Đây chỉ là một vài trong vô số những câu chuyện cảm động. Sự khổ đau của người khác đã tạo ra những hành động bắt nguồn từ tình thương yêu chân thật này. Chúng ta có thể trồng những hạt giống khổ đau, những hạt giống của nghiệp tiêu cực hoặc chúng ta cũng có thể trồng các hạt giống của chân lý, của cái tốt, và cái thiện. Trong một thế giới khổ đau như vậy, chúng ta cần những nguời noi gương các vị bồ tát, bậc tiếp nhận tất cả mọi người với tình thương giác ngộ và bền vững - Những người mở rộng lòng thương tới mọi người, những người không chọn an hưởng sự dễ dàng và thoải mái mà đi ra ngoài khỏi tháp ngà để có mặt với những người đang đau khổ.
Với thế giới như hiện tại, với thiên tai và nhân họa xảy ra hằng ngày ở các nước trên khắp quả địa cầu, với những làn sóng ô nhiễm mạnh mẽ như các đợt sóng thần, chúng ta thật sự cần những con người biết phụng sự như những vị bồ tát. Những vị này, bằng tình thương giác ngộ và chân thật, sẽ tiếp cận, gây nguồn cảm hứng và trong sạch hoá trái tim tha nhân. Để chữa lành cho thế giới, chúng ta phải bắt đầu bằng trong sạch hoá con tim của nhân loại. Hãy cùng nhau làm việc thật chăm chỉ cho điều này. Chỉ khi những con tim của nhân loại được tinh khiết, khi đó hòa bình và hoà hợp mới có thể có trong xã hội, và khi đó thế giới mới hết những họa tai.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
Về cơ bản, thực hành Phật giáo là sự rèn luyện trong hòa bình – và đạo đức Phật giáo đóng vai trò bảo vệ nền hòa bình này. Khi cảm giác thoải mái, hài hòa và bình tĩnh ngày càng sâu sắc với việc thực hành, chúng ta bắt đầu hiểu những lựa chọn đạo đức tác động đến trải nghiệm hòa bình của chúng ta như thế nào và chúng ta thấy rằng năm giới luật Phật giáo bảo vệ hạnh phúc của chúng ta.
Sự đóng góp của các tôn giáo vào nền văn hóa hòa bình là một chủ đề phức tạp, đòi hỏi sự nghiên cứu bằng óc phân tích. Sự phức tạp của các cuộc xung đột đã biến thành lĩnh vực bạo lực lớn hơn, đỉnh điểm là chiến tranh, một hiện tượng phổ biến. Giáo điều tôn giáo và cách tiếp cận theo chủ nghĩa chính thống đã gây ra những kết quả xấu xí nhất cho trái đất. Bất chấp tất cả những phát triển khoa học và công nghệ, sự chuyên chế của chiến tranh và chủ nghĩa tôn giáo chính thống vẫn không suy giảm.
Tôi đề nghị các bạn có khả năng dịch cứ dịch, thời gian sẽ loại bỏ những gì không đúng, không phù hợp, nhưng không cần phải chỉ trích nhau về bản dịch. Nếu thấy dịch không “đúng” theo ý mình, thì mình dịch một bản khác, “đúng” hơn, để người đọc giám định và học hỏi. Có câu, “chỉ trích là rẻ tiền, hành động là đầu tư.” Người đọc có trình độ đều có thể nhìn thấy: hành động vạch lá tìm sâu, lòng tỵ hiềm, và bóng tối âm u trong lời chỉ trích thiếu hiểu biết. Thay vì mất thời giờ vạch cỏ tìm gai, sao không trồng cây hoa, cây ăn trái?
Nga phụ thuộc khá nhiều vào SWIFT với khoảng hơn 300 ngân hàng và tập đoàn tài chánh hàng đầu sử dụng SWIFT, cũng như có người sử dụng cao hàng thứ nhì sau Mỹ khi hơn phân nửa các tổ chức tín dụng Nga sử dụng SWIFT. Trục xuất Nga khỏi SWIFT là cắt mạng "internet" về tài chánh, làm tê liệt các giao dịch, thanh toán của các tổ chức tài chánh của Nga với Châu Âu và thế giới, gây biến động và xáo trộn hệ thống tiền tệ và tài chánh của Nga.
Tô Vĩnh Diện là biểu tượng của anh dũng. Vì đã lấy thân mình ngáng cho khẩu đại bác nặng hai ngàn tấn không rơi xuống vực. Tuy nhiên sau giả tưởng Lê Văn Tám, dân Việt có quyền nghi hoặc: Có thật không hay chỉ là một tai nạn, một vấp ngã hay chính em bé Lê Văn Tám đã lớn lên rồi được cấp chứng minh thư tên là Tô Vĩnh Diện sinh năm 1928 ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa? Làm sao Triều đình Huế biết đặt những tên xã, huyện đậm chất Cách mạng như vậy vào năm 1928?
331 năm trước Công nguyên, ngay sau chiến thắng Gaugamèles khi tiến vào thành Babylone, đại đế Alexandre nói trước hàng quân: “Chiến thắng này cho vinh quang và tự do”. Võ Nguyên Giáp khó tuyên ngôn như vậy trước lịch sử, vì Điện Biên Phủ không đem đến tự do cho dân Việt mà ngược lại, áp đặt một chế độ tàn khốc. Tự do nào sau đấu tố phi nhân, sau Cải cách ruộng đất, nông dân chỉ có thể cày thuê cho hợp tác xã? Và tự do nào khi dân Bắc di cư rồi dân Nam chạy theo lính Cộng hòa mỗi một khi “giải phóng” vùng “tạm chiếm”? Võ Nguyên Giáp hẳn nhiên muốn giữ lại vế đầu của Alexandre đại đế: “Điện Biên Phủ là một chiến thắng vinh quang.” Tất nhiên và không ai chối cãi, vì lần đầu tiên da vàng chiến thắng da trắng và lần đầu tiên một thuộc địa thắng đế quốc. Nhưng phía sau tấm huân chương là vinh quang cay nghiệt: Đẩy cả một dân tộc vào chiến tranh, mục đích của Hồ Chí Minh là giành độc lập, thống nhất 3 kỳ, nhưng Hiệp định Genève chỉ cho Hồ Chí Minh Bắc kỳ, Nghệ Tĩnh và Quảng Bình,
Khi Tết gần kề, như hiện tại, các diễn đàn thân hữu thường thả cho nghe vài bản nhạc Xuân. Và cứ lập lại khoảng mươi bài quen thuộc, không đủ để khích động tình xuân đang khuấy động trong lòng người chờ đón Xuân. Nhân cơ hội này mình vào lục soạn, tìm thấy quá nhiều bản nhạc về Xuân. Cả một kho tàng văn học nghệ thuật của Miền Nam Việt Nam – loại nhạc Vàng mà CS muốn giết nhưng vẫn sống mạnh và làm thay đổi hướng cảm nhận tình quê hương và lòng người lan rộng từ Nam ra Bắc.
Xin mạn phép mở ngoặc ở đây giải thích ngắn gọn. Trước hết, Ca dao là " những câu thơ của dân gian Việt Nam được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theo một điệu nhất định và thông thường được phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ và dễ thuộc ". Đặc biệt hơn chính ca dao đã để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Việt Nam. Trong đó phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêu nam nữ. Ngoài ra còn có các nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệ phức tạp trong xã hội. Và tóm lại ca dao có thể được hiểu theo nghĩa ngắn gọn là những câu thơ dân gian được truyền miệng từ xưa do tổ tiên ta để lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.