Hôm nay,  

Những trở ngại trong quan hệ Mỹ-Việt từ sau 1975

9/26/202510:24:00(View: 1660)
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H01
Giáo sư Peter Zinoman, bên trái, và Giáo sư Tường Vũ (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Chiến tranh Việt Nam chấm dứt vào ngày 30/4/1975, ghi dấu sự thất bại của Hoa Kỳ sau 20 năm can dự, qua 5 đời tổng thống.
 
Cuộc chiến đó đã làm hao tốn xương máu và tài nguyên của các bên tham gia, cùng biết bao giấy mực để ghi lại, phân tích những biến cố, những chính sách và chiến lược.
 
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội.
 
Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
 
Hội nghị "The Challenges of Peace: US-Vietnam Relations Since 1975" (Các thách thức của hòa bình: Quan hệ Mỹ-Việt từ 1975) do Center for Southeast Asian Studies (Trung tâm Đông Nam Á học, Đại học U.C. Berkeley) và US-VN Research Center (Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon, Eugene) phối hợp tổ chức.
 
Có những đề tài kinh điển như quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ-Việt Nam từ 1986 đến 1988 của nghiên cứu sinh Zachary Tayler, Đại học Ohio.
 
Chính sách "Ngoại giao cây tre" được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh như là chủ trương của Việt Nam trong quan hệ với thế giới, đặc biệt là với các cường quốc Nga, Mỹ, Trung. Nhưng nay Tổng Bí thư Tô Lâm không dùng cụm từ đó, và Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng chỉ nhắc đến vài lần trong thời gian qua. Theo Tiến sĩ Nguyễn Khắc Giang, hiện đang nghiên cứu tại viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) và Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon, đó có thể là tín hiệu sẽ có những thay đổi trong quan hệ Việt Nam với các cường quốc?
 
Nhìn lại quá khứ, những bài học rút ra từ quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa được đúc kết qua bài nói chuyện của ông Hoàng Đức Nhã, cựu Bí thư của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, và John Negroponte, cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ trong chính quyền của Tổng thống Richard Nixon.
 
Ông Nhã cho rằng lãnh đạo Mỹ đã đối xử với lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa theo kiểu "đại ca với đàn em" (big guy - small guy) chứ không phải là một đồng minh. Bài học kinh nghiệm cho Hoa Kỳ là nên biết lắng nghe đồng minh của mình, ông nói.
 
Đại sứ Negroponte nhận định cuộc chiến Việt Nam không phải là chiến tranh du kích mà là quy ước. Tết Mậu Thân du kích miền Nam đã bị Hà Nội thí mạng gần hết và Bắc Việt bắt đầu đem xe tăng vào chiến trường. Sai lầm của Mỹ là sau Mậu Thân, thay vì bắt đầu rút quân, Tướng Westmoreland lại yêu cầu Tổng thống Lyndon Johnson đưa thêm 200.000 lính Mỹ vào chiến trường. Hoa Kỳ đã có tầm nhìn sai khi cho rằng Trung Cộng có ý định nhuộm đỏ Đông Nam Á, mà thực ra Liên Xô khi đó và cho đến sau này mới là quốc gia yểm trợ Hà Nội bành trướng chủ thuyết cộng sản, theo ông.
 
Về kinh tế, yếu tố Trung Quốc có nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam, từ gia nhập WTO đến ký kết các hiệp ước kinh tế song phương với các quốc gia, theo Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành từ Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược tại Hà Nội và hiện là giáo sư chính trị học tại Đại học Oregon. Đồ biểu ông đưa ra cho thấy Hoa Kỳ không phải là quốc gia có nhiều dự án FDI đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, mà đứng thứ 11, sau Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan, Hà Lan v.v… Theo diễn giả, tiền của người Việt từ nước ngoài gửi về không giúp cho phát triển kinh tế mà còn làm chậm lại, như trường hợp của Philippines có lượng kiều hối rất cao.
 
Về hợp tác quốc phòng, Tiến sĩ Khang Vũ từ Đại học Boston nhận định việc bán vũ khí cho Việt Nam thì Nga vẫn là nguồn cung cấp lớn nhất và thuận tiện hơn vì mua vũ khí của Mỹ có những ràng buộc đi kèm. Do đó, Mỹ và Việt Nam khó có thể trở thành một liên minh an ninh và Hà Nội không thể thoát Trung.
 
Bài nói chuyện về bia tưởng niệm John McCain bên bờ hồ Trúc Bạch ở Hà Nội có những điều ít người biết. Đó là nơi phi cơ chiến đấu của Thiếu tá John McCain, sau là thượng nghị sĩ và ứng viên tổng thống, bị bắn rơi trong một phi vụ oanh tạc miền Bắc năm 1967 và bị bắt làm tù binh. Theo Giáo sư Christina Schwenkel, Đại học U.C. Riverside, nguyên thủy đó là tấm bia ghi công dân quân đã bắn rơi máy bay và bắt sống được phi công McCain. Từ khi hai nước có quan hệ ngoại giao, nơi đây đã trở thành địa điểm thăm viếng của các dân cử Quốc hội, quan chức quốc phòng Mỹ và gần đây nhất, khi còn tại chức, Tổng thống Joe Biden và Phó Tổng thống Kamala Harris cũng đã đến đặt vòng hoa tưởng niệm. Trong những năm qua, bia này đã được sửa chữa và tu bổ nhiều lần và tùy theo cảm nhận về chiến tranh của khách viếng, hành động đó có thể là để nhớ ơn dân quân đã bắn rơi máy bay Mỹ hay là để tưởng niệm một phi công, anh hùng của nước Mỹ.
 
Tiến sĩ Andrew Wells-Dang của Viện Hòa bình cho biết trong bài phát biểu của ông rằng Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh ở Thành phố Hồ Chí Minh có dự định được đổi tên thành Bảo tàng Hòa bình, nhưng tình hình lúc này phức tạp trên thế giới có liên quan đến Hoa Kỳ nên chưa thuận tiện. Là người trực tiếp làm việc với đối tác Việt Nam, ông nói rằng đã có những thêm bớt, sắp xếp lại nội dung trưng bày tại bảo tàng theo một dự án được sự hỗ trợ của cơ quan USAID, và điều đó cho thấy quan hệ hai nước dần có nhiều gắn bó hơn. Theo kế hoạch, bảo tàng với sự sắp xếp mới sẽ mở cửa vào giữa năm nay, nhưng vì chính sách mới của Hoa Kỳ đã dẹp bỏ USAID nên dự án phải dừng.
 
Nhiều đề tài liên quan đến di sản chiến tranh đã được các diễn giả trình bày, từ việc tìm kiếm và xác định hài cốt binh lính còn mất tích, cho đến số phận của Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, nơi chôn cất hàng vạn tử sĩ Việt Nam Cộng hòa.
 
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H04

 Thành viên cộng tác với Trung tâm Nghiên cứu Mỹ-Việt, Đại học Oregon. Từ trái: Duyên Bùi,
Nguyễn Thiện Ý, Alex Thái Đình Võ, Tường Vũ và Thuỷ Nguyễn (Ảnh: Bùi Văn Phú) 

 

Tiến sĩ Alex-Thái Đình Võ từ Đại học Công nghệ Texas (TTU) đã nói về số phận của tử sĩ, mà cho đến nay chỉ có lính Mỹ hay bộ đội cộng sản được quan tâm, còn lính Việt Nam Cộng hòa bị bỏ ra ngoài. Trong mong muốn đem lại sự hòa giải, ông đã làm việc nhiều năm để đưa vấn đề Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và số phận lính Việt Nam Cộng hòa còn mất tích vào trong các cuộc thảo luận liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ. Đến nay vấn đề này đã được Hoa Kỳ quan tâm, nhưng phía Việt Nam vẫn chưa đồng ý.
 
Theo nghiên cứu sinh Hà Tiên-Dung từ Đại học Stanford, đó là một quyết định chính trị của Hà Nội, khi từ chối việc Hoa Kỳ đưa người lính Việt Nam Cộng vào nghị trình thương thảo, qua bài nói chuyện của cô về công tác tìm kiếm, xác định những liệt sĩ miền Bắc.
Hòa giải dân tộc cũng được nhiều người gốc Việt tham dự hội thảo nhắc đến, từ diễn giả cho đến khách tham dự. Câu hỏi là làm sao để có hòa giải?
 
Cựu phóng viên chiến trường và thuyền nhân vượt biển Vũ Thanh Thủy nói rằng Hà Nội chỉ cần thừa nhận lịch sử của học tập cải tạo, lịch sử của thuyền nhân vượt biên, vượt biển.
 
Tiến sĩ Phạm Thị Hồng Hà từ Viện Sử học Hà Nội nói về các chính sách hòa giải của nhà nước đối với Việt kiều từ sau chiến tranh cho đến cuối thập niên 1990. Sinh viên ban tiến sĩ sử tại Đại học Berkeley, Vincent Trần, đã có bài tham luận về những nỗ lực muốn hòa giải từ phía người Việt hải ngoại, điển hình là tổ chức Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, tức nhóm Thông Luận, của ông Nguyễn Gia Kiểng.
 
Tiến sĩ Alex-Thái đưa đề nghị cần "hóa giải" trước khi có "hòa giải". Tôi có nêu câu hỏi, nếu Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu đưa 3 đề nghị cụ thể để đem lại hòa giải thì theo ba diễn giả của hội thảo chủ đề "Các thách thức tiến tới hòa giải" (Challenges to Reconciliation) là những đề nghị gì. Nhưng không ai có câu trả lời.
 
Trong phần nói chuyện của ông Hoàng Đức Nhã, khi hỏi ông nghĩ gì về những tuyên bố của Tổng Bí thư Tô Lâm về một "kỷ nguyên mới" cho đất nước, ông Nhã trả lời rằng ông muốn thấy lãnh đạo Hà Nội "walk the talk", tức là lời nói phải đi đôi với việc làm, còn chỉ nói suông thì dễ lắm. Ông gợi ý cho trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và trả lại tài sản đã tịch thu của dân, của người đã bỏ nước ra đi.
 
BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H02_ElizabethPhu
Bà Elizabethe Phù, nguyên Cố vấn An ninh Quốc gia đặc trách Đông Á-Đông Nam Á-châu Đại Dương cho hai tổng thống Mỹ (Ảnh: Bùi Văn Phú)


Dù nhiều thập niên đã qua đi, khi nhắc lại quá khứ đau buồn, nhiều diễn giả đã xúc động, trong đó có diễn giả danh dự của hội nghị là bà Elizabeth Phù, một phụ nữ đã từng làm cố vấn phụ trách vùng Đông Á, Đông Nam Á và châu Đại Dương trong Hội đồng An ninh Quốc gia của Tổng thống George W. Bush (con) và Tổng thống Barack Obama.
 
Bà đã khóc khi kể lại chuyện cùng cha mẹ vượt biên thất bại và bị bắt đưa vào trại cải tạo. Chuyến đi thứ nhì vào năm 1979, gia đình bà cùng 250 người khác ra đến hải phận quốc tế thì tàu bị hỏng máy. Gặp một tàu đánh cá, họ đòi 10 chiếc nhẫn vàng thì mới kéo tàu hư vào bờ. Cha của bà đã gom đủ 10 chiếc nhẫn, bơi qua tàu kia đưa cho họ và sau đó con tàu vượt biển được kéo vào bờ, rồi vào trại Pulau Bidong. Khi đó bà mới 4 tuổi.
 
Bà tốt nghiệp Đại học U.C. Berkeley với bằng cử nhân chính trị học và thạc sĩ quan hệ quốc tế từ U.C. San Diego. Bà chọn ngành học này vì muốn chu du thế giới. Công việc trong chính phủ của bà là tại Bộ Quốc phòng và nhờ khả năng và tính chuyên cần, bà đã trở thành cố vấn cho hai tổng thống Mỹ và có cơ hội đi đến nhiều quốc gia như từng mơ ước.
 
Bà nói làm chính sách là đặt quyền lợi nước Mỹ lên trên hết. Khi Tổng thống Barack Obama đón tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Bạch Ốc, bà có mặt tại đó, trong khi cha của bà tham gia biểu tình ở California để phản đối chuyến viếng thăm của lãnh đạo Hà Nội. Bà hiểu người cha và cộng đồng người Việt có những quan tâm về quê hương, khi có thể bà tìm cách đưa vào chính sách.
 
Đinh Phương Thảo hiện là sinh viên ban tiến sĩ tại Đại học Michigan, là một nhà hoạt động cho nhân quyền và từng bị quấy nhiễu ở Việt Nam. Cô đã rơi nước mắt khi nhớ về những bạn cùng chí hướng đang còn bị giam tù. Theo cô, từ khi Hoa Kỳ và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện thì những nhà ngoại giao Mỹ và từ các đại sứ quán khác cũng đã ít quan tâm hơn đến những anh chị em ở tù vì lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ.
 
Hoàng Thị Minh Hồng là nhà hoạt động môi trường bị nhà nước cáo buộc trốn thuế, bị kết án tù và phạt tiền. Nhờ can thiệp của Hoa Kỳ, các trường đại học và tổ chức quốc tế, năm ngoái bà đã được qua Mỹ tị nạn. Bà Hồng cho biết các tổ chức xã hội dân sự và NGO hiện nay hoặc do nhà nước kiểm soát hoặc phải giải thể.
 
Ngoài những bài nói chuyện về quan hệ hai nước, về hòa giải, hội thảo còn có những nghiên cứu về cách nhìn của giới trẻ về cuộc chiến Việt Nam, qua những dữ liệu từ những thảo luận trên mạng xã hội đã được Tiến sĩ Thủy Nguyễn của Trung tâm Nghiên cứu Việt-Mỹ, Đại học Oregon thu thập và phân tích.

BuiVanPhu_2025_0921_USVNRelations_UCB_H03
 Thảo luận chủ đề “Những thách thức cho việc hoà giải” với Giáo sư Nguyễn Thị Liên Hằng, trên bục điều hợp, Phạm Thị Hồng Hà, Vincent Trần và Alex Thái Đình Võ (Ảnh: Bùi Văn Phú)
 
Hay một cuộc thăm dò ý kiến với sự tham gia của 51 sinh viên từ 4 đại học ở Việt Nam về suy nghĩ của các bạn liên quan đến dân chủ, hoạt động sinh viên, thực hiện bởi Hoàng Cẩm Thanh, đang giảng dạy tại Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và Nguyễn Thúc Cường, sinh viên ban tiến sĩ Đại học McGill. Kết quả của thăm dò cho thấy quan điểm của đa số sinh viên rất giống với nhà nước, khiến có ý kiến nói rằng không thể tin được các thăm dò thực hiện trong nước Việt Nam vì ít ai dám nói thật.
 
Trong lãnh vực văn học là bài thuyết trình của Vinh Phú Phạm, phó giáo sư trường Bard HSEC, về văn chương của người Việt hải ngoại. Theo ông, nhiều tác giả nay không viết về quá khứ chiến tranh, như Ocean Vương với On Earth We're Briefly Gorgeous và Thao Thai với Banyan Moon mà ông trích dẫn và phân tích. Ông chỉ đề cập đến các tác phẩm bằng tiếng Anh, mà thực ra văn học hải ngoại còn một mảng nữa, ít được giới học thuật nghiên cứu, đó là những tác phẩm tiếng Việt, theo nhận định của Tiến sĩ Alex-Thái Đình Võ.
 
Đó cũng là điều còn thiếu trong ngành Việt học, mà theo Giáo sư Peter Zinoman trong phần đúc kết sau hai ngày hội thảo, với đường hướng coi Việt Nam là trung tâm, theo ông mảng về Việt Nam Cộng hòa, về những nhà hoạt động và về cộng đồng người Việt ở Mỹ còn nhiều chủ đề cần nghiên cứu.
 
Qua hội thảo, 15 bài thuyết trình có thể triển khai thành những bài nghiên cứu học thuật để xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành.
 
Kết thúc chương trình, các thành viên của US-VN Research Center tại Đại học Oregon, dưới sự điều hành của Giáo sư Tường Vũ, đã trình bày về các hoạt động, dự án xuất bản, quan hệ và sinh hoạt với cộng đồng người Việt, khuyến khích sinh viên nghiên cứu về Việt Nam để giới học thuật biết đến và hiểu hơn về cộng đồng người Việt ở Mỹ và về một nước Việt Nam Cộng hòa nay không còn nhưng đã từng hiện hữu trong 20 năm.
 
Trong 30 năm qua, từ ngày Giáo sư Peter Zinoman dạy sử tại Đại học U.C. Berkeley, ông đã đào tạo được một số tiến sĩ sử chuyên về Việt Nam, trong đó có nhiều người gốc Việt: Tường Vũ, Nữ-Anh Trần, Martina Nguyễn, Jenny Phạm, Uyên Nguyễn, Alex Holcombe, Jason Picard và họ đang giảng dạy tại các đại học ở Hoa Kỳ và Việt Nam.

Bùi Văn Phú

  • Tác giả Bùi Văn Phú là giảng viên đại học cộng đồng, nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California.
 

 

 

 

 

 

 

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai
Con người? Nhân loại? Chúng ta đều biết những nhân vật này từ rất lâu. Họ đến từ một loài vượn đặc biệt có trí thông minh muốn vượt lên con vượn và họ trở thành con người, như nhà khoa học triết gia Charles Darwin đã lập thuyết. Hoặc họ được nặn ra từ đất sét rồi bị đuổi khỏi vườn địa đàng, đi lang thang khắp nơi tạo ra nhân loại như Thánh kinh đã ghi chép. Dù họ đến từ đâu, chúng ta đều phải ca ngợi khả năng tiến bộ không ngừng của họ. Dù họ xấu tính cách nào, hung ác ra sao, điên rồ cách mấy, chúng ta cũng phải ngưỡng mộ ý muốn cao cả của họ: Làm cho con người và đời sống tốt đẹp hơn.
Từ khi trở lại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Donald Trump đã thực hiện hàng loạt chuyến công du quốc tế. Đằng sau những chuyến đi đó là các thỏa thuận trị giá hàng tỷ MK, những buổi đón tiếp hoàng gia trang trọng, xa hoa, hay “nỗ lực tìm kiếm hòa bình” giữa khủng hoảng và xung đột. Trong khi Trump công du đến các quốc gia khác, Tòa Bạch Ốc cũng liên tục mở cửa đón tiếp các lãnh đạo từ khắp thế giới. Từ Tổng thống El Salvador Nayib Bukele (thăm Washington vào tháng 4) đến Quốc vương Jordan Abdullah II (đến Hoa Kỳ vào tháng 2), và gần đây nhất là hội nghị thượng đỉnh giữa Trump và Putin diễn ra tại Alaska.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.