Hôm nay,  

Xẻ Thịt Gấu

12/04/200500:00:00(Xem: 7909)
Người ta hay sánh nước Nga với con gấu mà chưa hình dung ra cảnh gấu bị xẻ thịt, là điều đang xảy ra….
Năm 1969, nhà bất đồng chính kiến Nga là Andrei Amalrik đã viết một cuốn sách nhỏ, với tựa đề đầy nét tiên tri: "Liên bang Xô viết có thể tồn tại đến 1984 không""
Lúc đó, các chế độ cộng sản, xu hướng thiên tả hay thân cộng của Tây phương lẫn giới ngoại giao Âu-Mỹ đều hoài nghi lời tiên đoán. Nhìn từ bên trong chế độ, Amalrik thấy ra những mâu thuẫn nội tại không thể dung hòa được nên dự báo như vậy, và lấy thời điểm 1984 như một dấu mốc tâm lý. Nhìn từ bên ngoài, cả thế giới đều không tin lời tiên báo ấy vì e ngại thế lực Xô viết, Tây phương còn tìm cách dung hợp, qua chánh sách "hòa dịu" của Richard Nixon.
Một hậu quả của chánh sách đó là Việt Nam Cộng Hòa bị hy sinh.
Sau nhiều năm tù đầy, Amalrik được phép di cư qua Pháp và thiệt mạng trong một… tai nạn xe hơi năm 1980. Bậc tiên tri không tồn tại lâu hơn chế độ Xô viết tưởng như vững chãi ngàn năm, và năm 1984 đã tới mà Liên xô vẫn còn.
Năm sau, Mikhail Gorbachev lên cầm quyền và phải đối đầu với những mâu thuẫn mà Amalrik đã vạch ra. Kể từ đó, Liên xô đi vào tiến trình sụp đổ, sau thời điểm tiên đoán của Amalrik có năm năm. Lúc đó, đa số dư luận Hoa Kỳ còn không biết Amalrik là ai.
Bây giờ, liệu Liên bang Nga còn tồn tại được bao lâu"
Câu hỏi được nêu lên vì những biến cố tại Georgia, Ukraine và Kyrgyzstan dường như đã bật chốt cho một chuyển động lớn, bắt đầu được thấy từ vài tuần qua. Sau khi Đế quốc Xô viết tan rã, con gấu Nga đang bị xẻ thịt, chính quyền Nga có thể bị khủng hoảng, sụp đổ và Liên bang Nga sẽ thoi thóp thành một nước cực nhỏ. Tình hình toàn lục địa Âu-Á sau đó sẽ ra sao" Đại cường Trung Quốc đông dân gấp bội ở ngay cạnh Liên bang Nga có bị vạ lây chăng"
Những mâu thuẫn tiềm ẩn
Nếu nhìn ra những sức ly tâm tiềm ẩn bên trong Liên bang Nga, ta có thể thấy ra nguy cơ ấy, là cái nhân của sự tan rã. Cái duyên là phong trào dân chủ đang cuồn cuộn nổi lên, với sự yểm trợ không che giấu của Tây phương, của chính quyền Bush và các nước Âu châu khác.
Sau cuộc cách mạng Xô viết năm 1917, chính quyền Cộng sản Liên xô đã thi hành một chánh sách cai trị độc đoán, duy ý chí và tàn khốc. Những vụ cải tạo, di dân và kế hoạch "kinh tế mới" đã hòa lẫn nhiều sắc tộc trong nhiều vùng địa dư bát ngát, dưới quyền thống trị của tộc Nga, theo lối quản lý tập trung kế hoạch. Lãnh thổ Nga vốn rất giàu tài nguyên đã trở thành một vùng "khiếm khai", under-developed, và sự bất mãn của các sắc tộc khác bị phân ly, bóc lột vẫn bị ghìm dưới chế độ chuyên chính. Khi Liên xô tan rã, các nước trong Liên bang Xô viết lần lượt đòi quyền độc lập và các sắc tộc khác vẫn nằm trong Liên bang Nga thì đòi quyền tự trị, nhất là quyền quản trị tài nguyên giàu có trong lãnh thổ.
Phong trào cách mạng nhung tại Georgia, Ukraine và Kyrgyzstan làm Liên bang Nga mất dần ba tấm giáp hộ thân ở vòng ngoại biên và đang thổi lên một đợt sóng khác ngay trong lòng nước Nga. Đó là phong trào độc lập (có khi được diễn giải thành phong trào dân chủ) của các sắc tộc ngoài tộc Nga. Biến cố ghi dấu sự thể ấy là việc Cộng hòa tự trị Bashkortostan trong Liên bang Nga đã có biểu tình, tại quảng trường Ufa của thủ đô Bashkir ngày 26 tháng Ba và ngay tại Moscow vào mùng bảy tháng Tư, mới tuần qua mà thôi. Điều đáng chú ý là chính quyền Putin không hạ lệnh đàn áp biểu tình… Trong khi chính quyền của Tổng thống Ilham Aliyev tại Azerbaijan bỗng tuyên bố hôm mùng sáu là sẽ hợp tác với phe đối lập để tổ chức bầu cử minh bạch vào tháng 11 này. Hai hôm trước, họ được Đại sứ Hoa Kỳ nêu ra một lộ trình dân chủ hóa và cải cách kinh tế để tăng cường nỗ lực chống khủng bố.
Vì vậy, người ta phải thấy nổi lên một đợt hai của cuộc cách mạng nhung.
Năm sức ly tâm
Bashkortostan là một xứ "Âu-Á" nằm trên bản lề tiếp giáp giữa Âu châu và Á châu, vùng chiến lược nối liền nước Nga gần Âu châu với phần lãnh thổ bát ngát mà thưa thớt dân cư của miền Đông, của Tây bá lợi á. Xứ này còn là "mỏ vàng" của Nga với nhiều tài nguyên khoáng sản như dầu thô, khí đốt, than đá, quặng mỏ kim loại lẫn tài nguyên lâm nghiệp, cây rừng. Trong các nước Cộng hoà của Liên bang Nga, Bashkortostan có vị trí kinh tế khá cao, về công nghiệp, nông nghiệp và cả xuất nhập cảng.
Dưới chế độ Xô viết, dân Nga qua đó lập nghiệp và chiếm lĩnh vị trí thống trị. Nhưng, sau khi Liên xô tan rã, sắc tộc Bashkir đã vùng dậy và đẩy cán bộ Nga ra khỏi guồng máy chính quyền, điều ấy đã xảy ra dưới triều đại Boris Yeltsin và đang trở thành rõ rệt, bất khả vãn hồi, dưới thời Vladimir Putin.

Nhưng, vùng đất Âu Á đó còn nhiều sắc tộc và tôn giáo khác, như dân Tatar, đa số theo đạo Hồi. Và bên cạnh Bashkortostan hay Tatarstan, còn có hai xứ Tuva và Yakutia (tên chính thức là Cộng hòa Sakha-Yakutia), các nước cộng hoà nằm ngang Tây bá lợi á. Các nước này đang theo dõi những biến chuyển tại miền Tây nước Nga và đều rục rịch đòi độc lập.
Những lực lượng nào đang vận động cho phong trào ấy"
Truyền thông Tây phương và Hoa Kỳ vốn hay nhìn vào rốn mình nên cho rằng Hoa Kỳ có nhúng tay châm ngòi cho phong trào này vì chủ trương dân chủ hoá toàn cầu của chính quyền Bush. Sự thật có khi phức tạp hơn thế.
Tại các vùng này, hiển nhiên là ta có xu thế dân chủ, thân Tây phương, và được Hoa Kỳ hay Liên hiệp Âu châu ủng hộ. Nhưng, bên cạnh, người ta cũng không quên thế lực "quốc gia dân tộc" và chống Nga của thành phần ưu tú bản xứ. Hai khuynh hướng này có thể liên hợp để chấm dứt sự khống chế của Liên bang Nga, nhưng bên trong vẫn là những đấu tranh hay đổi chác quyền lực trên từng loại vấn đề.
Một thí dụ dễ hiểu là Tổng thống Viktor Yushchenko vừa thắng cử tại Ukraine có thể là thân Tây phương, nhưng vẫn coi quyền lợi Ukraine là quan trọng đến độ lấy những quyết định, như bán võ khí, ngược với chủ trương của Tây phương.
Vì vậy, nói rằng phong trào dân chủ đang lột xác Liên bang Nga có thể là một lối đơn giản hóa nhuốm mùi lạc quan. Vấn đề là các chính quyền Tây phương, nhất là chính quyền Hoa Kỳ, có thấy ra điều ấy và khéo can thiệp theo chiều hướng dân chủ hóa đích thực hay không" Kinh nghiệm dân chủ hóa của Yeltsin và chế độ tài phiệt tham ô ngày nay tại Nga khiến người ta không lạc quan.
Huống hồ là ngoài hai xu hướng "dân chủ" (thân Tây phương) và "độc lập" (quốc gia), ta còn xu hướng Hồi giáo, trong đó có phe quá khích đang tranh thủ quần chúng lầm than với phe ôn hòa. Và đằng sau ngần ấy phong trào, người ta không quên một thực thể tàn dư của chế độ cộng sản, là các tài phiệt và tổ chức tội ác.
Ngần ấy xu hướng và phe nhóm đều muốn được bên ngoài hỗ trợ để thoát ách Nga thuộc, nhưng mỗi nhóm lại tìm một nguồn hỗ trợ khác. Xu hướng "dân chủ" tất nhiên tìm tới Âu châu và Hoa Kỳ và phải cạnh tranh cùng xu hướng "độc lập" trong nỗ lực ấy. Xu hướng Hồi giáo thì phân vân giữa hai ngả, chơi trò khủng bố như tại Chechnya đến độ hợp tác với al-Qaeda và các lực lượng Hồi giáo cực đoan hay không" Trong khi ấy, các tài phiệt cũng có thể vận động nhiều kế hoạch đầu tư và hợp tác với doanh nghiệp Tây phương để trục lợi và ngụy trang việc hợp tác dưới màu sắc "hiện đại hóa" hoặc cải cách kinh tế theo khuynh hướng tự do…
Dù sao, cho đến nay xu hướng "dân chủ" vẫn có thế mạnh nhất, được sự yểm trợ tích cực nhất từ các tổ chức ngoài chính phủ (NGO) có mục tiêu chính trị và cả tôn giáo. Bên Cộng hoà của Hoa Kỳ có Freedom House là một thí dụ, bên đảng Dân chủ thì có Soros Foundation, chưa nói đến các giáo phái Tin lành đang truyền giáo rất mạnh và có khả năng huy động rất lớn. Tất nhiên, Liên bang Nga kết án là chính quyền Bush có nhúng tay châm ngòi cho cuộc cách mạng đợi hai ấy, nhưng có hai sự việc khách quan mà họ có thể không nhìn ra. Thứ nhất, chính quyền Mỹ chả thể cấm cản các hoạt động phát huy dân chủ hay truyền giáo như vậy. Thứ hai, nếu lòng dân không muốn thay đổi thì nỗ lực tuyên truyền cho dân chủ hay tự do tôn giáo của Hoa Kỳ cũng chẳng có tác dụng mạnh, để thổi bùng thành phong trào. Cái nhân không có thì sự can thiệp không thể là cái duyên, mà còn là sự vô duyên.
Trong một tương lai không xa - có thể ngắn hơn dự đoán của Andrei Amalrik năm xưa - chính quyền Putin sẽ bị động loạn ngay từ bên trong như Mikhail Gorbachev đã báo động và thậm chí Liên bang Nga có thể cáo chung. Lúc đó, chỉ còn nước Nga tồn tại như một nước bình thường và tầm thường. Có khi dân chủ hơn và khiêm nhường hơn trong những tham vọng quốc tế của mình.
Nhưng, cơn lốc dân chủ ấy có ngưng tại bình nguyên Tây bá lợi á hay sa mạc Trung Á không" Đấy là câu hỏi đang ám ảnh chính quyền Trung Quốc, với các lãnh tụ đều thấm nhuần bài học lịch sử về các thời "ngũ hồ", "thập quốc". Việc Bắc Kinh xẵng giọng với Đài Loan và thổi lên phong trào chống Nhật hiện nay có thể là một phản ứng chống đỡ chiều hướng ấy. Nhất là khi một thành phần đông đảo của dân chúng Hoa lục lại đang sẵn muốn biểu tình, không để chống Nhật mà để phản đối chính quyền về những chứng tật từng thấy tại Liên bang Nga: tham ô mà bất lực trong việc quốc kế dân sinh.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Bản đồ thứ ba về thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh bắt nguồn từ cái thường được gọi là “Lý thuyết Hiện thực” (Realist Theory) về quan hệ quốc tế. Theo lý thuyết này, các quốc gia thực sự là chủ thể quan trọng duy nhất trong các vấn đề thế giới, mối quan hệ giữa các quốc gia là một mối quan hệ hỗn loạn (anarchy), và do đó để đảm bảo sự tồn tại và an ninh của họ, các quốc gia luôn cố gắng tối đa hóa quyền lực của mình. Nếu một quốc gia nhận thấy một quốc gia khác gia tăng quyền lực của họ và do đó trở thành một mối đe dọa tiềm tàng, nó sẽ cố gắng bảo vệ an ninh của chính mình bằng cách tăng cường quyền lực của mình và / hoặc bằng cách liên minh với các quốc gia khác. Những lợi ích và hành động của trên dưới 184 quốc gia của thế giới thời hậu Chiến tranh Lạnh có thể được dự đoán từ những giả định này.
Chủ nghĩa dân tộc là một phong trào hiện đại. Trong suốt lịch sử, con người gắn bó với quê nơi mình sinh ra, với truyền thống của cha mẹ mình, và với các quyền lực lãnh thổ (territorial authorities) đã được thiết lập, nhưng phải đến cuối thế kỷ 18, chủ nghĩa dân tộc mới bắt đầu trở thành một thứ tình cảm nói chung được thừa nhận là ảnh hưởng đến cuộc sống công và tư và một trong những nhân tố quyết định vĩ đại, nếu không muốn nói là vĩ đại nhất của lịch sử hiện đại.
Nước Nhật vừa xót xa tiễn biệt cựu Thủ tướng Shinzo Abe lần cuối. Thi hài ông được đưa qua đường phố Tokyo, ngang qua văn phòng Thủ Tướng và Nghị viện Nhật, nơi ông đã từng làm việc. Ngồi phía trước xe tang vẫn là phu nhân Akie Abe, như khi xe chở thi hài ông về lại Tokyo từ nơi bị ám sát hôm cuối tuần. Lặng lẽ, bình tĩnh, thỉnh thoảng phu nhân Abe lại cúi đầu đáp lễ người dân Nhật đứng đầy hai bên đường, chắp tay lạy và cúi đầu khi xe tang đi ngang. Không như lá thư hư cấu ủy mị gửi chồng của bà bằng tiếng Việt được lan truyền trên mạng, dù những người tinh ý khá dễ nhận ngay ra đó là suy diễn đầy Việt tính của một ai đó muốn lợi dụng cảm xúc đám đông. Thật ra phu nhân Abe là một người như thế nào?
COVID-19 một lần nữa hoành hành khắp Hoa Kỳ, nhưng đã không còn nhuốm màu chết chóc như thuở ban đầu, một phần là do nhiều người đã có một số mức độ miễn dịch nhờ tiêm chủng hoặc đã bị nhiễm trước đó, nhưng cũng bởi vì chúng ta hiện đã có một kho công cụ để điều trị. Các kháng thể đơn dòng (Monoclonal antibodies) là kháng thể đầu tiên xuất hiện, trước đó, chúng được coi là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại COVID-19. Khi đại dịch bùng phát, Cơ Quan Kiểm Soát Thực-Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã cấp phép cho 4 kháng thể đơn dòng để điều trị COVID-19 và một kháng thể đơn dòng để giúp ngăn ngừa bệnh ở những người không thể tiêm phòng.
Để chấm dứt những tranh cãi pháp lý xoay quanh việc phá thai sẽ đòi hỏi phải đạt được sự đồng thuận về mặt đạo đức. Nếu có thể trình bày rõ ràng quan điểm đạo đức của chúng ta và thấu hiểu quan điểm của người khác, tất cả các bên sẽ tiến đến gần hơn với một thỏa thuận có nguyên tắc. Bài tổng hợp này dựa theo các chi tiết phỏng dịch từ bài viết đăng trên The Conversation của Nancy S. Jecker, Giáo sư Đạo đức Sinh học và Nhân văn, School of Medicine, University of Washington, đã nghiên cứu các vấn đề đạo đức trong y học và chính sách y tế, bao gồm cả việc phá thai; và các vấn đề liên quan đến quyết định lật ngược án lệ Roe v Wade cuối tuần qua của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ.
Roe kiện Wade (Roe v. Wade) là một vụ án dẫn đến một quyết định quan trọng được đưa ra bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào năm 1973, Roe v. Wade làm cho việc phá thai được hợp pháp hóa ở Hoa Kỳ. Trong vụ kiện này, một phụ nữ tên là Norma McCorvey (lấy bút danh là Jane Roe) muốn phá thai ở tiểu bang Texas. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, luật của bang Texas không cho phép phá thai ngoại trừ việc cứu sống người mẹ. Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã ra phán quyết có lợi cho McCorvey và cho rằng luật của Texas không phù hợp với hiến pháp. Tòa án tuyên bố rằng việc quyết định phá thai của một người phụ nữ trong ba tháng đầu của thai kỳ nên được quyết định theo ý kiến cá nhân và bác sĩ. Theo Tối cao Pháp viện, mỗi người dân có “quyền về quyền riêng tư” cơ bản và quyền đó bảo vệ sự lựa chọn phá thai của một người.
Chiến tranh Nga xâm chiếm Ukraine được nhân danh một trong số lý do: Cuộc xử lý nội bộ, nghĩa là, chiếm lại vùng đất thuộc địa. Lập luận này khiến cho thế giới tự do dẫn đầu bởi Hoa Kỳ và Âu Châu đứng ra ngoài vòng chiến, dù hô hào chống đối và giúp đỡ vũ khí, nhưng thái độ này mặc nhiên chấp nhận sự xâm lăng vô lý đối với tự do của một dân tộc và quyền thống nhất lãnh thổ của một quốc gia. Nguyên nhân ngấm ngầm rõ rệt là nỗi sợ hãi dù gọi là cân nhắc: hành động trực tiếp của thế giới tự do tham gia vào trận chiến giúp Ukraine chống lại Nga sẽ dẫn đến chiến tranh nguyên tử, khi xảy ra, ngày đó là ngày tận thế. Những lý do còn lại chỉ là những cách diễn đạt bên ngoài, không chỉ là nghệ thuật chính trị, mà còn là tác động sinh tồn. Quên rằng: Ngày tận thế không chỉ là nỗi sợ tuyệt đối của thế giới tự do, mà thế giới cộng sản và độc tài cũng tuyệt đối kinh hãi không kém. Nếu hai bên cùng sợ tận xương tủy, vấn đề còn lại là ván bài xì tố?
Khi các tiểu bang đã hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích y khoa và giảm căng thẳng, và luật liên bang bây giờ cũng cho phép bán các sản phẩm chiết xuất từ cây gai dầu, thì cần sa và các hậu quả liên hệ được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn. Sau đây là một số phân tích từ các nhà nghiên cứu, những người đã theo dõi sự phát triển của cần sa gần đây do trang The Conversation tổng hợp.
Trong hai ngày cuối tuần vừa qua, Học Viện Nghiên Cứu Chiến Tranh ISW đã liên tiếp đưa ra các bản đánh giá về cuộc chiến Ukraine và Nga hiện nay. ISW là một tổ chức think-tank phi đảng phái và phi lợi nhuận uy tín có trụ sở tại Washington, DC, quy tụ nhiều cựu tướng lãnh, viên chức cao cấp chính phủ và các học giả để cung cấp các nghiên cứu giá trị về quân sự và đối ngoại quốc tế qua các nghiên cứu, số liệu và phân tích đáng tin cậy. Các nghiên cứu của ISW cũng giúp cho chính phủ Hoa Kỳ có thêm nguồn cố vấn quan trọng trong các chiến dịch quân sự và đối phó với các nguy cơ liên quan đến an ninh quốc gia.
Nếu có ai nói với tôi, là một người có trái tim thú vật. Có lẽ tôi sẽ nỗi giận hoặc mặc cảm buồn rầu. Đây là một câu chửi. Ngụ ý tôi là một loại người giả hình, trong lòng đầy mưu toan ác độc, như một con thú không có nhân tính, ăn thịt luôn đồng loại. Tôi là một súc sinh. Ông Dasvid Bennett, Sr. là súc sinh? Ông là người có tim thú vật. Tim một con heo. Sự tưởng tượng của con người vô cùng tận. Nhiều sự tưởng tượng sau một thời gian trở thành thực tế. Ví dụ: Năm 1870, khi con người còn xa lạ với những chiếc tàu ngầm hữu hiệu, có khả năng lặn xuống biển sâu và đi lại như tàu trên mặt nước, nhà văn pháp Jules Verne đã xuất bản một cuốn truyện “Hai Mươi Ngàn Dặm Dưới Đáy Biển”, cho đến nay vẫn còn nổi tiếng. Hàng tỷ độc giả đã say mê khả năng tưởng tượng kỳ thú của tác giả. Một cuộc phiêu lưu dưới đáy biển sâu, hiểm nguy, gặp nhiều quái vật và vượt qua lắm trở ngại. Vào đầu thế kỷ 20, con người mới thực sự có chiếc tàu ngầm tương đương với chiếc tàu Jules Verne.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.