- Ông Quang là Nhân Viên Giao Tế Cộng Đồng và Nhân Viên Dự Án Cộng Đồng (Community Liaison Officer, Community Project Officer) của Club. Trước khi về làm việc ở Club, ông Quang là một người có rất nhiều kinh nghiệm và khả năng trong lãnh vực xã hội, cộng đồng và thanh thiếu niên.
- Khi về làm việc ở Club, ông Quang có văn phòng riêng, khác với văn phòng của ông Phương.
Trạng sư công tố bắt đầu cật vấn ông Phương. Để trả lời những câu hỏi của trạng sư công tố, ông Phương cho biết:
- Ông thuê mướn HT vào làm việc ở Club.
- Ông và TP có quan hệ xã giao (socialise) vì cả hai cùng yêu thích thi ca Việt Nam.
- Ông Quang là một người có nhiều kinh nghiệm và có uy tín trong lĩnh vực xã hội, cộng đồng và thanh thiếu niên khi ông làm đơn xin việc.
- Ông Quang được một ủy ban phỏng vấn trước khi được chọn vào làm việc tại Club.
- Về phần món nợ mà ông thiếu ông Dũng, ông Phương lại một lần nữa tái khẳng định bằng chứng trước đó của ông, như đã được nêu trên, và cương quyết phủ nhận những cáo buộc của phe công tố trong vấn đề này.
- Về phần những lời cáo buộc rằng ông đã dàn xếp, ra lệnh cho HT, TP và ông Quang đâm tay, hăm dọa, tống tiền ông Dũng, ông Phương đều phủ nhận chúng, cho rằng đấy là những lời không trung thực (it’s not true).
Tiếp theo, ông Quang bước vào ghế nhân chứng. Dưới sự thẩm vấn của nữ trạng sư Rigg, ông Quang cho biết:
- Ông không hề có một hành vi bạo động (commit a violence act) nào cả.
- Ông không hề có mặt hoặc chứng kiến bất kỳ một hành vi bạo động nào cả.
- Ông không bao giờ bị kết tội hình sự nào cả (never been convicted).
- Ông Quang là nhân viên xã hội từ năm 1987, làm việc cho nhiều tổ chức khác nhau trong suốt thời gian từ 1987 cho đến khi ông về làm việc cho Club, bao gồm: Nhân viên xã hội đặc trách thanh thiếu niên (Youth Worker) tại Bankstown Youth Refuge, Nhân Viên Xã Hội Đặc Trách Thanh Thiếu Niên Bụi Đời (Streetworker) cho tổ chức từ thiện xã hội Barnardos, Nhân Viên Phát Triển Dịch Vụ Thanh Thiếu Niên (Youth Development Officer) của CĐNVTD/UC/NSW, Nhân Viên Xã Hội Đặc Trách Giáo Dục về Ma Túy và Bia Rượu (Drugs & Alcohol Youth Educator) kiêm Phụ Tá Điều Hợp Viên Văn Phòng Dịch Vụ Thanh Thiếu Niên (Assistant Co-ordinator of Youth Office) tại Trung Tâm Cộng Đồng Cabramatta, Nhân Viên Phát Triển Dịch Vụ Xã Hội Cho Di Dân (Migrant Access Worker) cho Trung Tâm Tài Nguyên Gia Đình Fairfield.
- Từ năm 1997 cho đến nay, ông ở nhà trông con và vợ ông đi làm nuôi gia đình.
- Ông Quang nói sơ qua về những công việc của ông qua từng chức vụ nêu trên.
- Ông Quang đã từng được mời tham dự với tư cách diễn giả tại nhiều diễn đàn mang tầm vóc quốc gia, thí dụ điển hình là năm 1993, ông được mời làm diễn giả tại Đại Hội do Học Viện Tội Phạm Học Úc Châu (Australian Institute of Criminology) tổ chức, chủ đề Hệ Thống Công Lý Trong Xã Hội Đa Văn Hóa (Justice System in the Multicultural Society), và sau đó, cùng với một số học giả và cảnh sát viên cao cấp đồng chủ tọa một phiên thảo luận với đề tài “Cảnh Sát và Cộng Đồng Những Người Có Nguồn Gốc Không Nói Tiếng Anh” (sat on the discussion panel for the “Police & The NESB Community).
- Ông không hề có một kiến thức nào về những hoạt động thương nghiệp tài chính của ông Phương cả.
- Ông không hề dự phần vào bất kỳ một vụ đâm tay tống tiền nào cả.
- Từ giữa năm 1993 cho đến những tháng đầu năm 1994, ông và người vợ cũ (lúc ấy còn là vợ ông) liên tục có chuyện xào xáo và có rất nhiều lần vợ cũ của ông bỏ nhà đi biệt suốt ba bốn ngày, khiến ông phải nghỉ làm, ở nhà chăm sóc hai đứa con thơ, lúc ấy một đứa lên 3 và một đứa lên 2. Cuối cùng thì ông và bà vợ cũ chia tay nhau. Ông được quyền nuôi giữ hai đứa con.
- Trong năm 1994 ông có quyển sổ hẹn (diary) tại văn phòng nhưng ông không còn giữ quyển sổ ấy nữa, vì thế, ông không thể nào biết được vào ngày 3/3/94 ông ở đâu và làm gì.
Trạng sư Hoenig không thẩm vấn ông Quang. Trạng sư công tố cật vấn ông Quang và ông cho biết:
- Ông Phương là bạn của ông, nhưng không phải bạn thân. Ông chỉ có hai người bạn chí thân (close friends), cùng quen nhau từ thời còn ở trong hostel.
- Ông Quang xác nhận ông luôn giúp đỡ bạn bè nếu được yêu cầu, nhưng không bao giờ vì giúp bạn mà lại chịu làm điều phi pháp (not break the law).
- Lần duy nhất mà ông Quang can thiệp vào công việc làm ăn của ông Phương là việc ông Quang đề nghị với ông Phương nên có mục Xã Luận (Editorial) bằng tiếng Anh trên tờ báo do ông Phương làm chủ nhiệm là tờ Dân Việt, để tạo một cửa sổ cho xã hội Úc biết được về những suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng của cộng đồng người Việt về những vấn đề quan trọng trong xã hội Úc. Và ông Phương đã lắng nghe lời đề nghị này của ông Quang.
Khi trạng sư công tố đặt vấn đề rằng ông Quang nhờ ông Phương mới được nhận vào làm ở Club thì ông Quang tuyên bố rằng trong suốt cuộc đời nghề nghiệp của ông, tất cả những chức vụ mà ông được nhận vào đều hoàn toàn dựa vào tài năng của ông (is solely based on merit).
Khi trạng sư liên tục nêu lên những lời cáo buộc rằng ông Quang có dự phần vào vụ “đâm tay tống tiền” thì ông Quang cực lực phủ nhận những lời cáo buộc này. Ông nói rằng đấy hoàn toàn là những lời láo khoét trắng trợn (It’s a complete and utter lie). Ông cương quyết khẳng định tất cả những lời cáo buộc trong phiên tòa đều là dối trá. (Everything in this trial about me involving in this incident are lies).
Sau ông Quang, nữ trạng sư Rigg mời ba nhân chứng lần lượt lên làm chứng về nhân cách và hạnh kiểm (character witnesses) của ông Quang. Ba người này là bà Ricci Bartels Giám đốc Dịch Vụ Cộng Đồng của Trung Tâm Tài Nguyên Di Dân Fairfield, bà Debbie Killian Giám đốc Dịch Vụ Cộng đồng & Thư Viện của HĐTP Holroyd, ông David Burfoot, Chuyên Gia Chính Sách (Senior Policy Officer) của Ủy Ban Nhi Đồng và Thanh Thiếu Niên NSW (Commission for Children & Young People).
Bà Ricci Bartels cho biết:
- Bà quen biết với ông Quang và gia đình lúc họ vừa đến East Hill Hostel khi bà cùng mẹ bà vào đấy ủy lạo, thăm viếng người tÿ nạn vừa định cư tại Úc. Sau này, bà có dịp hợp tác với ông Quang trong một số không ít công tác xã hội từ 1990 đến 1993. Bà là bạn của gia đình ông Quang cùng vợ chồng ông Quang cho đến bây giờ.
- Ông Quang là một người rất ưa chuộng công bằng xã hội (passionate about social justice), luôn luôn tranh đấu bênh vực người kém thế. Ông Quang là một người có hạnh kiểm tốt.
- Bà biết rằng ông Quang bị truy tố về hai tội danh được nêu và bà không tin rằng ông Quang lại có thể dự phần vào những việc như thế.
Bà Debbie Killian cho biết:
- Bà quen biết ông Quang từ năm 1990, khi bà là Giám Đốc Dịch Vụ Y Tế Thanh Thiếu Niên Fairfield-Liverpool (Fairfield Liverpool Youth Health Services) và đã hợp tác cùng ông Quang trong nhiều chương trình giáo dục y tế cho thanh thiếu niên. Bà là bạn của hai vợ chồng ông Quang từ nhiều năm qua.
- Ông Quang là một người không hung hăng, đằm tính, thông minh, chuộng công bằng, chuộng hòa bình, luôn nhiệt tâm nhiệt tình trong công việc xã hội.
- Bà biết rõ về việc ông Quang bị truy tố với hai tội danh. Bà không tin rằng ông Quang lại có thể dự phần vào những chuyện như thế.
Ông David Burfoot cho biết:
- Ông quen với ông Quang vào khoảng cuối thập niên 80, qua những buổi họp Liên Tổ Chức (Interagency Meetings) giữa nhân viên xã hội đặc trách thanh thiếu niên ở các vùng khác nhau. Khi đó, ông Burfoot làm việc tại Cabramatta Community Centre.
- Sau đó, ông Quang được thuê mướn về làm cùng chỗ với ông, trong chương trình Giáo Dục về Ma túy & Rượu Bia. Ông Burfoot rất vui mừng khi thấy ông Quang về Cabramatta làm việc ông Quang là một người làm việc rất tốt (good worker). Lúc ấy ông Burfoot là Giám Đốc của Dịch Vụ Thanh Thiếu Niên tại Cabramatta Community Centre.
- Một thời gian sau đó, với tài năng, ông Quang được bổ nhiệm làm Phụ Tá điều Hợp Viên cho ông Burfoot.
- Ông Quang là một người hiếu hòa, không ưa bạo động. Ông Quang đã từng hướng dẫn nhiều khóa Kiềm Chế Giận Dữ (run Anger Manangement Workshop) cho bạn đồng nghiệp.
- Ông biết rõ về việc ông Quang bị truy tố với hai tội danh được nêu. Ông nhận thấy rằng những lời cáo buộc ấy không phù hợp (not consistent) với con người của ông Quang.
Trạng sư công tố không cật vấn ba người nhân chứng này.
Đến đấy là chấm dứt tất cả những bằng chứng của đôi bên. Chánh án Norrish cho bồi thẩm đoàn biết sẽ đến phần đúc kết và đề nghị (submission) của phe công tố cùng phe biện hộ. Sau đó sẽ đến phần quan tòa tổng kết (summing up) tất cả những bằng chứng cùng đưa ra những lời hướng dẫn luật định về những vấn đề luật pháp liên quan đến các bằng chứng được đưa ra, và sau đó, bồi thẩm đoàn sẽ bắt đầu nghị luận. (Còn tiếp...)



