Hôm nay,  

Không Lực Vnch Trận Chiến Giai Đoạn 55-65

1/25/200000:00:00(View: 6281)
* Không quân Việt Nam thời kỳ chuyển tiếp:
Trong số trước, chúng tôi đã lược trình về diễn tiến sự hình thành của Không quân Quân đội Quốc gia Việt Nam từ 1961 đến 1955. Như đã trình bày, ngành Không quân Việt Nam được thành lập ngày 1 tháng 7/1951 theo Dụ số 9 của Quốc trưởng Bảo Đại ký ngày 25 tháng 6/1951, thế nhưng trong giai đoạn đầu, chức vụ chỉ huy lực lượng Không quân Việt Nam và các đơn vị trực thuộc đều do sĩ quan Pháp đảm trách, phải đến tháng 7/1955, Không quân Việt Nam mới được giao cho sĩ quan Việt Nam chỉ huy. Trong năm 1955, Không quân Pháp đã lần lượt chuyển giao các căn cứ và một số phi cơ cho Không quân Việt Nam. Đến tháng 4/1956, sau khi quân Pháp rút hết khỏi Việt Nam, cũng như các ngành khác, Không quân Việt Nam đã tổ chức, phối trí lực lượng để thích ứng với giai đoạn mới.

Về lực lượng phi cơ, tính đến cuối năm 1956, Không lực Việt Nam có 69 Cessna L 19 A, 26 Dakota DC 3, 21 Morane Saulnier, 20 quan sát MS 500, 6 Marcel Dassault và 3 Beech craft.
Về lực lượng đơn vị có 1 phi đoàn vận tải thuộc căn cứ trợ lực Không quân số 2 Tân Sơn Nhất, 1 phi đoàn chiến đấu thuộc căn cứ trợ lực không quân số 3 ở Biên Hòa, 1 phi đoàn liên lạc thuộc căn cứ Đà Nẵng, 1 phi đội liên lạc thuộc căn cứ trợ lực Không quân số 1 ở Nha Trang.
Từ giữa năm 1956 đến cuối năm 1963, Không quân Việt Nam Cộng Hòa lần lượt tiếp nhận một số lượng phi cơ của Hoa Kỳ chuyển giao để thay thế cho các phi cơ của Pháp. Theo tài liệu của đại tướng Westmoreland thì đến đầu năm 1964, Không lực Việt Nam Cộng Hòa có 190 phi cơ, sau đó Hoa Kỳ cung cấp thêm 140 chiến đấu cơ và 248 trực thăng.

Về hoạt động Không quân chiến thuật và yểm trợ, ngay từ tháng 9 năm 1955, một thành phần gồm 4 phi cơ quan sát của Không lực Quốc gia Việt Nam đã yểm trợ cho cuộc hành quân Hoàng Diệu tại Rừng Sát và chiến dịch Đinh Tiên Hoàng đợt 1 và đợt 2 tại miền Tây. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ khai diễn từ 1-1-56 đến 31-5-56 tại Đồng Tháp Mười và Hậu Giang, Không quân VNCH đã điều động 1 phân đội của Phi đội 2 Quan sát và 3 phi cơ oanh tạc Marcel Dassault để không yểm cho các đơn vị Bộ binh.

* Giai đoạn phát triển:
Từ 1957 đến 1960, Không quân Việt Nam đã thành lập thêm một số phi đoàn, đồng thời gửi nhiều sĩ quan, hạ sĩ quan sang tu nghiệp tại các trường Không quân Hoa Kỳ. Tại trung tâm Huấn luyện Không quân Nha Trang, ngoài các khóa hoa tiêu và quan sát viên, còn có các khóa đào tạo chuyên viên để bổ sung cho các đơn vị.

Từ năm 1961 đến 1963, khi CQ gia tăng hoạt động tại miền Nam, các phi đoàn chiến thuật của Không quân đã tham chiếnt trong hầu hết các trận hành quân quy mô do các bộ Tư lệnh Sư đoàn Bộ binh và Quân đoàn tổ chức.

Năm 1964, để đáp ứng tình hình của chiến trường, Không quân Việt Nam đã thành lập 5 không đoàn, bản doanh đặt tại các căn cứ Đà Nẵng, Nha Trang, Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và Cần Thơ. Mỗi không đoàn yểm trợ cho một vùng chiến thuật, riêng không đoàn tại Tân Sơn Nhất là lực lượng tổng trừ bị của Không quân. Mỗi không đoàn có 3 liên đoàn: 1 liên đoàn chiến thuật trực tiếp tác chiến và trợ chiến, 1 liên đoàn phụ trách bảo trì, sửa chữa, 1 liên đoàn yểm cứ.

* Kế hoạch FARMGATE:
Giữa năm 1964, đại tướng Westmoreland-phụ tá đại tướng Harkins, được cử thay thế vị tướng này trong chức vụ chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Yểm trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV). Ngay sau khi nhận chức, đại tướng Westmoreland đã lập phiếu trình xin Hoa Thịnh Đốn gia tăng sự viện trợ quân sự cho Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có cả kế hoạch phát triển hiệu năng chiến đấu của Không lực Việt Nam Cộng Hòa, cùng với đề nghị xin được sử dụng Không lực Hoa Kỳ yểm trợ cho các cuộc hành quân quy mô của các đơn vị Bộ binh VN, thế nhưng những đề nghị của đại tướng Westmoreland đã không nhận được tán đồng của Hoa Thịnh Đốn. Trong cuốn Bản Tường Trình Của Một Người Lính (nhà xuất bản Thế Giới, dịch giả Duy Nguyên), đại tướng Westmoreland đã kể lại như sau:

Trong suốt cuộc chiến, chính sách của Hoa Thịnh Đốn lúc nào cũng hối thúc chúng tôi chiến đấu nhưng chỉ cho chiến đấu có một tay. Sự trói buộc què quặt nhất là việc sử dụng Không quân. Theo cái gọi là chương trình FARMGATE, phi công Hoa Kỳ chỉ được phép yểm trợ cho dưới đất khi nào có phi công Việt Nam cùng ngồi trên phi cơ đó. Ý muốn nói đang trong giai đoạn huấn luyện. Thời gian ấy chưa có trực thăng chiến đấu mà chỉ có loại vận tải được gắn thêm đại liên.

Để có phản ứng kịp thời và thích hợp, phụ tá Không quân của tôi là Joe More bèn cho thành lập một hệ thống liên lạc riêng rẽ cho các cố vấn. Có một phi đội T-28 là phi cơ trang bị hai chỗ ngồi nhưng cả người Mỹ lẫn người Việt đều không thích ngồi ghế sau. Tướng Moore liền tìm cách thuyết phục tướng Kỳ cung cấp cho ông một toán binh sĩ ứng chiến. Họ sẽ ngồi sau lưng phi công Mỹ, như vậy theo đúng quy định lúc nào cũng có người Việt ngồi ở sau phi cơ. Tuy nhiên tình trạng này không kéo dài bao lâu vì toán binh sĩ này không chịu nổi các phi vụ. Binh sĩ ngồi sau ói mửa tung tóe. Hơn nữa cấu trúc loại phi cơ T-28 không phòng ngừa chuyện này. Chưa kể đến khi phi cơ chúi mũi xuống thì người ngồi sau bị xỉu và nằm nhoài người trên dàn điều khiển của phi công phụ, gây cho phi cơ không còn điều khiển được, may mà phi công ghì được tay lái và giữ cho phi cơ được an toàn.

Đôi khi để cứu vãn tình thế bị vây khốn của đơn vị Việt Nam dưới đất, phi công Hoa Kỳ phải bay một mình, không kể đến điều kiện có người Việt đi theo. Thời gian trôi qua, toàn bộ chương trình FARMGATE cho quân nhân Việt Nam theo phi cơ cũng cũng mờ nhạt. Khoảng giữa năm 1964, khi tình hình quân sự nguy kịch và khi trực thăng Hoa Kỳ có thể yểm trợ hỏa lực thì chương trình này cũng chấm dứt vì lỗi thời. Khuynh hướng mà các cố vấn Hoa Kỳ đặt sự tin cậy vào là sự yểm trợ hỏa lực từ các trực thăng thay vì từ phóng pháo cơ. Sự kiện này khiến cho Không quân Hoa Kỳ lo ngại rằng Lục quân đang tìm cách qua mặt Không quân (Trực thăng Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam trực thuộc các Sư đoàn Lục quân Hoa Kỳ.- chú thích của VB). Do đó, vào cuối năm 1964, khi tôi về Hoa Thịnh Đốn, tướng Curtis E.Le May, tham mưu trưởng Không quân hỏi móc tôi về cách sử dụng Không quân. Một vài tuần lễ sau đó, ông đến thăm Hồng Kông và triệu tướng Moore đến gặp ông. Ông biện luận rằng không phải ông lo sợ có việc qua mặt Không quân nhưng ông không bằng lòng về việc tướng Moore cho phép gắn đại liên trên trực thăng.

Tôi rất lấy làm tiếc cho tướng LeMay khi ông từ chối lời mời của tôi đến thăm Việt Nam để xem xét cách sử dụng Không lực của chúng tôi. Giá mà ông chịu đến thăm thì thế nào ông cũng nhận thấy được trong chiến tranh chống phiến loạn cần phải có sự uyển chuyển, không giống như chiến tranh quy ước và rằng khoảng cách giữa vô số những nhu cầu yểm trợ Không quân từ cả trực thăng võ trang lẫn phi cơ chiến đấu.

Tướng Westmoreland cũng đã gặp khó khăn khi tiến hành các kế hoạch phối hợp Không lực Việt-Mỹ, ông cho biết như sau: Vào cuối tháng 8 năm 1964 ông xin phép được thi hành các cuộc oanh tạc hỗn hợp Việt-Mỹ nhằm vào các mục tiêu trong vùng cán chảo (Lào) thì Hoa Thịnh Đốn không chấp thuận. Đã từ lâu chỉ có một loại hoạt động bằng Không quân trên vùng cán chảo này là các chuyến bay của Yankee team và được quyền tấn công vào các đoàn xe vận tải hay khu tập trung của quân CSBV.

Đã mấy tháng liền trong tam cá nguyệt thứ ba năm 1964, đại tướng Westmoreland vẫn không được phép sử dụng phi cơ Hoa Kỳ để yểm trợ cho Quân đội Việt Nam Cộng Hòa ngoài những hạn chế của chương trình FARMGATE. Ngày 1 tháng 10/1964, ông xin được phép dùng phi cơ Hoa Kỳ khi cần thiết nhưng vẫn không được chấp thuận. Biết chắc chắn lực lượng địch gia tăng mạnh mẽ ngoài chiến trường, nên ông lập lại lời cầu xin trước kia vào cuối tháng Giêng 1965, và cố ý thu hẹp bớt nhiều điểm với hy vọng được chấp thuận: Vì vấn đề quân sự cần kíp, ông tha thiết mong được cho phép điều động phản lực cơ Hoa Kỳ cho mục đích tấn công trong trường hợp khẩn cấp.

Sự phát triển Không quân được tiến hành từ năm 1965, đại tướng Westmoreland ghi nhận như sau: Về phần quân chủng Không quân, tiến trình hình thành chậm hơn. Vì trước đây có nhiều hạn chế trong việc sử dụng Không quân Hoa Kỳ nên chúng tôi thúc đẩy cho Việt Nam tiến nhanh để đáp ứng với nhu cầu chiến trường. Khó khăn đầu tiên là tìm cho ra những thanh niên có đủ khả năng học hỏi kỹ thuật cao, một yếu tố quan trọng để trở thành phi công và chuyên viên cơ khí. Điều kiện nữa để trở thành phi công phải biết nói tiếng Anh. Không giống như Không quân Hoa Kỳ, Không quân Việt Nam phụ trách phần lớn loại trực thăng cũng như cần phải có phi công. Vậy mà chỉ một thời gian sau các phi công Việt Nam có thể sử dụng phóng pháo cơ chiến thuật và vận tải cơ C 130. Mọi thứ đều cứu xét xong. Mùa hè 1967, kế hoạch phát triển Quân đội Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu bằng cách thay thế quân cụ và vũ khí mới để một thời gian sau, có thể tự đảm nhận các gánh nặng chiến tranh, để dần dần các đơn vị Hoa Kỳ rút về nước. (Biên soạn dựa theo tài liệu của Khối Quân sử Phòng 5/Bộ Tổng Tham mưu, hồi ký của cựu đại tướng Westmoreeland...)

Kỳ sau: Không quân VNCH tấn kích các căn cứ CSBV ở phía Bắc Vĩ tuyến 17 trong năm 1965.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
DB Rick Miller thuộc Đảng Cộng Hòa, đại diện khu vực Sugar Land, đã bị phản ứng gay gắt sau khi ông chụp mũ các đối thủ tranh ghế ông chỉ vì họ là người Mỹ gốc Á trong địa hạt đông ngưởi gốc Á.
Ai quyết tâm đi tìm chân lý và hướng thượng cuộc đời trong tinh thần – Tu là cõi phúc – đều hưởng được sự bình an trong tâm hồn, tức là hưởng được hạnh phúc, Thiên đàng, Niết bàn, Cõi phúc ở trần gian
nữ tài tử Julia Roberts và cựu đệ nhất phu nhân Michelle Obama sẽ có chuyến đi đặc biệt thăm Việt Nam trước khi sang Malaysia dự chương trình "Leaders: Asia-Pacific"
ông có tập Thơ Lửa, cùng làm với Đoàn Văn Cừ, gồm những bài thơ đề cao cuộc kháng chiến chống Pháp, do Cơ quan Kháng chiến Liên khu III xuất bản, được in ở Thái Nguyên năm 1948
James Nguyen Fernandes, 43 tuổi, bị buộc tội 6 vụ tấn công, gồm 2 tội tấn công cố ý sát hại, và 6 tội phạm tội liên quan súng, theo hồ sơ tòa án cho biết.
Cục Cảnh sát Hình sự của Bộ Công an mới đây thừa nhận Việt Nam là một “điểm nóng” của nạn buôn người và di cư bất hợp pháp, với lợi nhuận hàng năm lên đến hàng chục tỉ đôla.
Khi chưa thấy ánh mặt trời, Tôi đã cảm nhận được muôn ngàn đau khổ, Của mẹ cha, Của bà con và của muôn triệu người dân gần xa trong nước, Lúc mẹ ôm bụng bầu chạy từ chỗ nầy sang chỗ khác,
Theo bản tin từ đài KUSI, Dân biểu Cộng Hòa Duncan D. Hunter cho biết ông sẽ nhận một tội sử dụng sai trái quỹ vận động khi ra tòa vào hôm Thứ Ba ngày 3 tháng 12/2019 trước Chánh án Thomas J. Whelan.
Mùa cháy rừng hiện nay nêu bật việc cần phải nhanh chóng đạt được các mục tiêu loại bỏ carbon đầy tham vọng của California, và bản báo cáo ‘Lộ Trình 2045’ đặt ra sơ đồ định hướng để đạt được mục tiêu đó
Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump hôm Thứ Hai, 2 tháng 12, lên án các nhà Dân Chủ tại Hạ Viện về việc tổ chức điều trần luận tội trong khi ông đang dự hội nghị thượng đỉnh NATO tại London


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.