Hôm nay,  

Làng Chiếu Miền Tây

17/02/200900:00:00(Xem: 3950)

LÀNG CHIẾU MIỀN TÂY

Bạn,
Theo  báo Sài Gòn, tại miền Tây Nam phần, nói đến chiếu, người dân  thường nghĩ đến chiếu Cà Mau với bài vọng cổ đi vào lòng người nhiều thế hệ "Tình anh bán chiếu." Nhưng cũng ở miền Tây, có một làng chiếu truyền thống không thua kém gì chiếu Cà Mau, đó là làng chiếu Long Định (xã Long  Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang). Trải qua hơn 50 năm hình thành và phát triển, những người dân của làng đã kiếm sống được với nghề để cho ra đời những đôi chiếu đẹp cung cấp cho thị trường nội địa. Báo  Người Lao Động viết về làng chiếu này như sau. 
Tỉnh  lộ 867 nằm cạnh con kênh Nguyễn Tấn Thành, nơi dẫn vào làng chiếu Long Định, hai bên đường phơi đầy những bó lác nhuộm đủ sắc màu. Phóng viên đến cơ sở chiếu Ba Mốc hi những người thợ đang tất bật bên khung dệt, máy may. Bà Trần Thị Bạch Tuyết, chủ cơ sở liền tay bó những bó lác đã nhuộm màu. Khi những sợi lác đủ màu được bó gọn gàng, chất cạnh nhau, bà ngồi vào khung dệt.  Đút những sợi lác vào khung, kéo mạnh cần gỗ nằm về phía sau, bà nói: "Khi dệt, cần kéo mạnh để chiếu không bị hở thì mới đẹp, bền".


Hơn 40 năm làm chiếu theo phương thức truyền thống, bà Tuyết đúc kết kinh nghiệm: "Chiếu đẹp, lác phải thật khô, trắng, cọng bóng tròn, không quá to. Kỹ thuật dệt là yếu tố quyết định chiếu đẹp hay xấu. Khi dệt, không để lác gãy, tránh bị hở. Công đoạn tạo màu cũng lắm công phu. Muốn màu không phai, không dính lên quần áo khi nằm, lác phải được nhúng vào chảo màu đang sôi, chờ cho nước sôi lại lần nữa để màu thấm vào từng sợi lác. Đặc biệt, khi may chiếu, đường may phải sắc nét, không dày hay quá thưa". Với cách làm thủ công, trong vòng 2 giờ, bà Tuyết hoàn thành một chiếc chiếu.
Theo những người dân ở đây, làng chiếu Long Định có từ năm 1954, do những người Bắc di cư vào Nam lập nên. Khi đến vùng đất Long Định, người dân chọn nghề làm chiếu vốn là nghề truyền thống phương Bắc để làm kế mưu sinh. Từ vài chục gia đình làm chiếu ban đầu, đến nay có hơn 5 ngàn thợ làm nghề và phát triển qua nhiều thế hệ. Dạo một vòng từ ấp Khu Phố, ấp Mới, ấp Tây 1 đến ấp Kinh II A...  phóng viên đều bắt gặp cảnh nhà nhà làm chiếu, người người làm chiếu. Ngoài cách làm chiếu thủ công truyền thống, nhiều  gia đình dân đã đầu tư máy móc để làm chiếu theo hướng công nghiệp, cho ra sản lượng nhiều hơn, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.
Bạn,
Báo Người Lao Động ghi nhận rằng cũng với nghề làm chiếu, nhiều người dân trong làng đã thoát nghèo. Những người lao động quanh năm gắn bó với ruộng đồng giờ lại có thêm thu nhập. Một người thợ làm chiếu của làng nói với phóng viên: "Ngày xưa, nhờ nghề chiếu mà cha mẹ tôi đã nuôi tôi khôn lớn. Giờ cũng với nghề này, tôi lại tiếp tục nuôi con. Tôi luôn muốn nghề phát triển để sau này con tôi có cơ hội được nối nghiệp cha ông mình."

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển người giúp việc nhà tại các gia đình ở các quận nội thành rất lớn nhưng không tìm đủ người. Trước thực tế khó tìm được người giúp việc nhà ở luôn trong nhà, nhiều gia đình chuyển hướng tìm người giúp việc đến làm theo giờ. Theo họ, tuyển lao động làm việc theo giờ có nhiều cái lợi như đỡ phải lo ăn, ở và chi phí thấp hơn nhiều.
Theo báo Người Lao Động, hơn 1 năm trở lại đây, tranh được bày bán ở phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, đột ngột rớt giá, nguyên nhân là bởi hiện tượng tranh nhái tràn lan. Theo 1 họa sĩ có thâm niên trên 35 năm trong nghề, 5 năm trước đây các phòng tranh ở Hội An không có tranh nhái. Du khách rất an tâm khi mua tranh và tranh bán cũng rất chạy.
Theo báo SGGP, tại Sài Gòn, mỗi năm có thêm hàng ngàn phòng học mới nhưng các cơ quan ngành giáo dục tại các quận, huyện năm nào cũng than thiếu phòng học, người dân phiền vì sĩ số học sinh của các lớp học đã "quá tải". Trình bày về hiện trạng trường lớp tại các quận, huyện của SG, báo SGGP ghi nhận rằng chỉ trừ một vài huyện ngoại thành không bị áp lực tăng dân số
Tại miền Đông Nam phần, có xã Phú Lộc là một trong nhiều xã ở huyện Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) là "miền đất hứa" của bò cạp. Ở vùng đất đá này, bò cạp sinh sôi nhiều đến mức người dân địa phương có thể tìm thấy chúng bất kỳ chỗ nào, nhất là dưới các tảng đá lớn.Trước đây, cứ sau mỗi trận mưa to là bò cạp "tung tăng" khắp nơi, người dân phải tránh.
Theo ghi nhận của báo SGGP, tại miền Tây Nam phần VN, xăng dầu, đường cát, hàng điện máy, điện thoại di động, thuốc lá, vải... ở khu vực biên giới Việt Nam và Cam Bốt đang chênh lệch giá rất cao. Hàng lậu vì thế đang tràn về như nước lũ, xâm nhập ào ạt vào thị trường nội địa. Báo SGGP ghi nhận hiện trạng này như sau.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại các trường đại học của VN, dường như nghiên cứu khoa học chỉ là công việc "tay trái" của các giảng viên , khi trung bình cứ hai, ba giảng viên mới có một người "liên quan" đến các công trình nghiên cứu. Đa số các giảng viên làm công việc mà một số nhà giáo dục gọi là "thợ dạy". Báo TT ghi nhận thực trạng này như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, 65 năm nay tồn tại một làng mà hầu hết trai tráng sống bằng nghề lặn tìm sắt thép phế liệu. Làng lặn hiện đã trở thành khu phố, nhưng trông vẫn chẳng khác gì những ngôi làng miệt sông nước miền Tây với những chiếc ghe neo san sát dưới sông, còn trên bờ là những ngôi nhà tuềnh toàng.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong những ngày vưà qua, tại miền Tây Nam phần, đại dịch bướm đã khiến người dân tỉnh Hậu Giang thức trắng "đánh đàn" vì ngứa. Tại thị xã Vị Thanh, dịch bướm đã hoành hành từ một tháng này, nhiều người dân trong thị xã khổ vì bị bướm bám theo gây ngứa. Báo TT ghi nhận tình trạng dịch bướm tại địa phương này như sau.
Tại phường 4 quận 8 thành phố Sài Gòn, có 1 lớp học rất đặc biệt do 1 nữ giáo viên già phụ trách. Lớp học này là chiếc phao cứu sinh cho những đứa trẻ không có điều kiện đến trường, cho dù là trường bổ túc. Với 1 ngàn/buổi học, có học sinh đã học hết lớp 4, rồi vào lớp 5 bổ túc, sau đó học tiếp lên trung học. BáoNgười Lao Động viết về lớp học này như sau.
Theo báo quốc nội, trong năm 2003, công suất bia của cả VN đạt 1.29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1.37 tỷ lít. Dự kiến năm 2005 sản lượng bia của toàn VN vượt xa mức 1.5 tỷ lít. Về tình hình kinh doanh, trong những năm qua đã có hàng chục nhà máy bia địa phương được đầu tư để rồi thua lỗ, vì không chen chân tìm được chỗ đứng trên thị trường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.